[Bài Viết - Article]
                                                                               

 

 

HỒI KƯ

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN

 

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


***

 DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 6.

 THẾ LỰC CHÍNH TRỊ BẮT ĐẦU XÂM NHẬP KHUYNH LOÁT LÀM ĐẢO LỘN NẾP SỐNG KỶ CƯƠNG CỦA QUÂN ĐỘI.

 


 

tthx 2004 2 a

Ái hữu Truyền Tin họp mặt Xuân Giáp Thân 2004 tại nhà hàng Emerault Bay, Fountain Valley, Nam California, Hoa Kỳ. Trong h́nh từ trái sang phải: Nguyễn Đ́nh Hoà, Tạ Thái B́nh, Lê Đ́nh Thạch, Nguyễn-Huy Hùng, Bùi Trọng Huỳnh, ..?..., Nguyễn Bế, …?..., Nguyễn văn Vượng, …?..., Nguyễn văn Chấn, …?.., Nguyễn Minh Sáng.

 

Cuộc “Thanh tra Chỉ huy” đầu tiên của Tân Chỉ huy trưởng Viễn Thông QĐQGVN, Trung tá Nguyễn Khương, khởi sự đi về miền cát trắng Nha Trang bằng đường bộ. Hành tŕnh phát khởi từ Saigon, qua Biên Hoà, Phan Thiết, Phan Rí, Phan Rang (nơi có chiến khu của Thiếu tá Thái Quang Hoàng chống Tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tham Mưu trưởng, ủng hộ Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm, và cũng là điểm xuất phát giúp cho con đường tiến thân thời Đệ Nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam của Thiếu Tá Nguyễn Khương, và nhiều Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ thuộc Đại đội 7 Truyền Tin đóng tại Nha Trang), rồi qua Ba Ng̣i, Diên Khánh, để vào thành phố Nha Trang. Một thành phố biển xầm uất tại miền Nam Trung phần Việt Nam, có Tháp Bà cổ kính xa xưa của dân tộc Chàm vẫn xừng xững “trơ gan cùng tuế nguyệt”, có Ḥn Trồng, có viện nghiên cứu Hải Dương học, có Viện Pasteur thiết lập từ năm 1895 của cố Bác sĩ Emile Yersin (1863-1943) người đă phát hiện ra vi khuẩn Dịch Hạch, có Ḥn Tre (giống như núi Ngự B́nh nổi trên biển cả làm b́nh phong che cho thành phố), và có hàng dừa cao thơ mộng mọc dài theo băi tắm dọc đường phố bên bờ Biển Đông.

Sau ngày đ́nh chiến 21-7-1954, Tôi đă lái xe jeep đi đường bộ Thanh tra Mật Mă tại các đơn vị, đóng rải rác trên khắp các nẻo đường đất nước tại miền Nam Vĩ tuyến 17. Suốt từ Saigon đi khắp các tỉnh miền Tây: Long An, Mỹ Tho, G̣ Công, Bến Tre, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trang, Bạc Liêu, Cà Mâu (Tại đây Tôi được thấy khá đông bộ đội Việt Minh mặc đồng phục tác chiến mầu ô liu, na ná như của binh lính chúng ta, đang lố nhố trong một khu tập trung chờ phương tiện chuyển vận ra Bắc tập kết). Rồi quay trở lại Cần Thơ để đi Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên. Sau đó đi qua các tỉnh miền Đông: Biên Hoà, Xuân Lộc, Long Thành, Bà Rịa, Vũng Tầu, Thủ Dầu Một, Tây Ninh.

Sau đợt thanh tra tại các tỉnh miền Nam, Tôi tiếp tục đi Thanh tra tại các tỉnh miền Cao nguyên Trung phần Việt Nam: từ Saigon đi qua Thủ Dầu Một, Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng, Banmethuột, Buôn Hô, Pleiku, Kontum, An Khê (Tại đây Tôi lái xe đâm xập vào nhầm phải một doanh trại đang tập trung bộ đội Việt Minh chờ phương tiện chuyển vận tập kết ra Bắc, ngay giữa phố Quận lỵ. Vào nhầm v́ Tiểu đoàn mà Tôi dự trù Thanh tra trước kia đóng tại đó, nhưng sau ngày đ́nh chiến đă di chuyển sang khu rừng cao su cách nơi đó chừng 1 cây số, mà Tôi không được thông báo trước).

Rồi nhân tiện đường, Tôi lái xe đi thẳng xuống các tỉnh duyên hải miền Nam Trung phần Việt Nam: B́nh Định, Qui Nhơn, Sông Cầu, Tuy Hoà, Ninh Hoà, Nha Trang, Ba Ng̣i, Phan Rang, rẽ lên Đà Lạt, Blao (sau này gọi là Bảo Lộc nơi sản xuất trà), rồi đổ xuống Định Quán băng qua sông La Ngà (nơi có khúc đường ṿng “Trận Cua C” do Tướng Việt Cộng Trần văn Trà dàn quân phục kích đoàn “Công voa” quân Pháp sau ngày tái lập Nam kỳ Tự trị gần cuối Thập niên 1940), và sau cùng qua Túc Trưng, Dầu Giây, Trảng Bom, Biên Hoà để trở về lại Saigon.

Phạm vi miền Bắc Trung phần Việt Nam, th́ đi máy bay ra Huế, rồi từ đó đi đường bộ lên phiá Bắc thăm: Quảng Trị, Đông Hà, xuống phiá Nam thăm: Phú Vang, Truồi, Lăng Cô, qua Đèo Hải Vân vào Đà Nẵng, Quảng Nam. Riêng Tam Kỳ và Quảng Ngăi th́ chưa đi, v́ lúc ấy đường chưa được hoàn toàn an ninh.

Đoạn đường bộ thuộc miền Đông Nam phần, từ Xuân Lộc qua Gia Rai đi Phan Thiết, Phan Rí, Tôi chưa có dịp lăn bánh xe tới. Nên cuộc hành tŕnh đường bộ kỳ này từ Saigon đi Nha Trang, đối với Tôi là một cuộc du ngoạn rất thú vị, không thể bỏ qua. Đặc biệt chuyến du hành này, Tôi được cái vinh dự mời ngồi chung trong xe Peugoet 203 của Chỉ huy trưởng Viễn Thông, chớ không phải dùng xe Jeep riêng của Pḥng Mật Mă Trung Ương.

Người tài xế lái xe cho anh Khương, là một Hạ sĩ quan đứng tuổi, đă từng theo anh ấy bôn ba ra “khu chiến Phan Rang của Thiếu tá Thái Quang Hoàng”. Có thể nói anh tài xế người miền Trung này là một kho truyện sống. Anh ấy vừa lái xe vừa kể hết chuyện vui này đến chuyện giật gân khác, suốt dọc đường. V́ thế, tâm óc mọi người ngồi trên xe bị khích động liên tục, chẳng có một khoảng thời gian nào trống yên tịnh để mà buồn ngủ.

Cảnh vật dọc đường xe chạy qua, đẹp và biến đổi đột ngột, vô cùng hấp dẫn. Xe không trang bị máy điều hoà khí mát, nên phải mở he hé các cửa kính để thoáng hơi thay đổi khí trời từ ngoài vào, lùa hơi nóng trong xe ra cho khỏi ngột ngạt khó chịu. Mùi vị không khí cũng thay đổi đột ngột, tùy theo vùng xe băng ngang. Lúc xuyên rừng mát dịu, thơm thơm mùi hoa dại hoặc mông mốc mùi lá thối ủng. Lúc băng đồng trống cây cỏ cằn cỗi, không khí nóng hun khô lỗ mũi. Lúc dọc theo bờ biển giữa những đồng muối, phản chiếu ánh mặt trời chói chang, bốc hơi nồng nặc mùi tanh tanh của cá biển.

Đặc biệt từ đoạn đường giữa Phan Rang và Phan Rí, thấy rải rác đó đây vài Mộ Tháp của người Chàm với kỹ thuật kiến trúc đặc biệt. Các Mộ Tháp này nổi bật xừng xững bên đường, trông như những người khổng lồ đội Vương miện nhô lên từ ḷng đất. Thời gian phong sương đă làm loang lổ, sứt mẻ, mầu nâu xậm, với đôi chùm cỏ dại, rêu phong, ḷi ra từ các kẽ tường nứt chung quanh, trông như những đụn tóc quăn cằn cỗi già nua. Chúng phất phơ trước gió, như muốn chứng tỏ rằng trong khối đất nung gần hoá thạch đó, vẫn c̣n sinh khí tàng ẩn của những con người thời oanh liệt xa xưa của dân tộc xứ sở Chàm.

Lúc xe đang bon bon ngon trớn, lao đi như mũi tên xuyên đoạn rừng rậm rạp trong khoảng đường giữa Gia Rai và Hàm Thuận, th́ bỗng nhiên tài xế bất thần đạp thắng gấp, và lách xe đảo qua đảo lại, tạo ra tiếng xiết “Két! Két! Két!!!” dài ghê rợn vang dội cả khu rừng. Mọi người trong xe bị trọng lực dồn chúi về phiá trước, đụng đầu vào lưng ghế trước và mặt kính bên hông xe, xô qua phải, lắc qua trái, theo thế đảo qua lại của xe (v́ không có dây nịt an toàn như các xe chúng ta đang dùng tại Hoa Kỳ hiện nay). Xe lết đảo qua đảo lại như thế cả hơn nửa cây số mới ngừng hẳn lại được. May mà các xe Jeep tháp tùng, tốc lực có hạn không chạy kịp để bám sát đít xe Peugoet, nếu không th́ cảnh một đoàn xe húc đít nhau dồn cục, văng lộn xà ngầu ra tứ phía và bốc cháy, chắc chắn đă xẩy ra vô cùng thê thảm.

Thật là hú viá! Anh Khương và Tôi ngồi ghế sau, mê mải thả tầm mắt ngắm cảnh hai bên đường vùn vụt chạy lui, tai lắng nghe truyện kể, giật ḿnh ngơ ngác chẳng biết truyện ǵ xẩy ra cho xe. Cơn xửng sốt chợt qua đi, anh tài xế với giọng hổn hển nhát gừng, kể rằng: “Bỗng dưng, thấy có một khối đen đen thật to, cao chừng nửa mét, rộng cả mét đường kính, xuất hiện thủng thẳng ḅ qua mặt lộ, phiá trước cách xe khoảng mấy trăm mét. Chắc chắn không phải mô ụ đắp trên mặt lộ, nên bằng mọi giá phải thắng gấp lách tránh hắn, chớ để xe đụng nhằm hắn th́ xe sẽ lộn ṿng móp bẹp tan tành nguy hiểm. Đến gần mới biết là con rùa khổng lồ.”

Lư do thật chính đáng, anh tài xế đă phản ứng kịp thời, giữ được vững tay lái một cách tài t́nh thiện nghệ. Nếu không, với tốc độ nhanh cả 120 cây số/giờ mà đâm xầm vào khối mu rùa cao nửa mét rộng 1 mét đó, chắc chắn xe sẽ lật nhiều ṿng, nát rúm, rồi bốc cháy, th́ hôm nay Tôi chẳng c̣n ngồi đây viết lại truyện cũ cho các Bạn đọc. Và, bên lề đường Quốc lộ 1 xuyên Việt giữa khu rừng già âm u rậm rạp, nơi ranh giới 2 tỉnh Biên Hoà-Phan Thiết ấy, bây giờ chắc chắn có một Miễu nhỏ bỏ lây lất, để hàng ngày các tài xế xe đ̣ chở khách qua lại, dừng xe xuống thắp mấy nén nhang, cúng vài chiếc bánh ít, bánh ngọt, trái cây tươi, để vái lạy cầu xin các vong hồn uổng tử phù hộ cho họ “thượng lộ b́nh an, đi đến nơi về đến chốn được an lành vô sự”.

Thoát nạn, hoàn hồn, anh tài xế c̣n định đề nghị lùi xe lại, rinh con rùa nhốt vào ḥm sau xe để tối xả thịt nhậu cho giải xui, nhưng không ai đồng ư. Anh ấy bèn đến bên con rùa đang ḅ bên lề đường, lật cho nó nằm ngửa trên mu. Nó chịu trận chổng 4 cẳng lên trời, ngo ngoe đầu và chân t́m cách lật xấp trở lại nhưng vô hiệu. Chắc là anh tài xế muốn phạt nó, v́ tội băng qua đường không chịu ngó trước ngó sau để làm cản trở lưu thông nguy hiểm. Thấy mà tội nghiệp, chẳng biết đến lúc nào con rùa khổng lồ đó mới tự lật úp xuống được, hay cứ phải nằm đó chờ đến khi có một “hiền nhân” nào đó đi ngang thấy giải cứu cho.

Sau khi kiểm soát lại t́nh trạng các bánh xe và máy móc, xe tiếp tục cuộc hành tŕnh. Các câu truyện chống buồn ngủ được chuyển hướng, xoáy vào đề tài nói về các điềm hên xui dự báo trước, cho người đi xa thường gặp lúc mới bước chân ra khỏi nhà. Gặp gái, gặp mèo, gặp đám cưới th́ xui. Gặp trai, gặp chó, gặp đám ma th́ hên, vân vân và vân vân. Chẳng biết xe chở chúng tôi, sáng hôm đó ra khỏi cổng nhà của Chỉ huy trưởng Viễn Thông, bắt đầu lăn bánh trên đường phố, gặp phải triệu chứng dự báo nào?
Nhờ cái hên bất ngờ vừa xẩy ra, nên anh tài xế không c̣n dám ỷ vào cái tài lái xe nhanh, xung măn máu anh hùng phản ứng mau lẹ của ḿnh nữa. “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”, “Cẩn tắc vô ưu”, tốc độ xe được giữ ở mức trung b́nh đều đều trên dưới 60 cây số/giờ cho được an toàn, đồng thời đợi các xe Jeep chạy tốc độ chậm, theo kịp để họp đoàn đi cho vui, và có thể giúp đỡ nhau mỗi khi chẳng may gặp trục trặc máy móc trên đường trường, vắng bóng xe qua lại.

Vào sâu trong địa phận Phan Thiết, đoàn xe chạy ngang một khu làng có cây cối um tùm. Xa xa có ngọn đồi mang trên đỉnh nó mấy dẫy nhà gạch kiến trúc theo kiểu Âu Tây, trông oai vệ cổ kính xừng xững nổi bật trên nền trời, như một lâu đài tân thời của một Vương Tước cận đại nào đó. “Đồi Ông Hoàng”! Đúng là “Đồi Ông Hoàng”, nơi ngày xưa các quan Tây đô hộ và các yếu nhân của Triều đ́nh nhà Nguyễn thời Vua Bảo Đại, thường lui tới nghỉ xả hơi tránh không khí ngột ngạt của phố phường chặt hẹp ô nhiễm, đầy khói thải từ các nhà máy điện và xe lửa phun ra hàng ngày. Thời c̣n Pháp thuộc, thi sĩ Hàn Mạc Tử cũng đă có lần được là khách cư ngụ trong các dinh thự sang trọng này ít lâu, và đă có dịp cảm tác những vần thơ bất hủ, nói ra tâm tư của người mắc căn bệnh ngặt nghèo nan y đang chờ chết, gửi cho người yêu.

Sau này, vào khoảng đầu năm 1969, Tôi là Đại tá Chánh Sự vụ Sở Khai thác Nha Tổng Thanh tra Quân lực, được lệnh của Tổng Tham Mưu trưởng dẫn Đoàn Điều tra hỗn hợp Việt Mỹ, ra Phan Thiết t́m hiểu về vụ lính P.R.U. do Mỹ quản trị chỉ huy, có hành động ức hiếp tra khảo dân lành vô tội tại địa phương xa thành phố. Lúc đó, Đại tá Đàng Thiện Ngôn làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng, đă lấy trực thăng đưa phái đoàn chúng tôi lên “Đồi Ông Hoàng” thăm viếng và ăn trưa tại chỗ, xả hơi trước khi chấm dứt cuộc điều tra trở về Saigon. Tại đỉnh “Đồi Ông Hoàng”, các bạn đồng hành và Tôi đă được chiêm ngưỡng một cổ vật chiến lợi phẩm quân sự. Đó là khẩu súng cao xạ thật lớn của quân Phiệt Nhật, đặt tại đây từ hồi Đệ Nhị Thế chiến (1939-1945) để bắn máy bay Đồng Minh Hoa Kỳ, tham gia cuộc chiến chống Nhật tại Đông Dương.

Hồi cuối 1965, Đại tá Đàng Thiện Ngôn c̣n là Trung tá, làm Tham mưu phó cho Tôi tại Bộ Chỉ huy Trung ương Địa phương quân và Nghiă quân, cơ sở đóng tại đường Hùng Vương, Chợ Lớn. Qua năm 1967, BCH / TU / ĐPQ & NQ giải tán biến thành Tổng Cục ĐPQ & NQ (Đại tá Xương làm Tổng Cục Trưởng, Tôi làm Tổng Cục Phó, Trung tá Ngôn làm Trưởng Khối Tiếp vận) di chuyển vào trong Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhất, nên doanh trại của Địa phương quân đă được Tôi bàn giao cho Cục Truyền Tin theo lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu. Kể từ đó, bảng hiệu “Trại Trần Nguyên Hăn” đă được treo lên thay cho bảng hiệu của BCH / TU / ĐPQ & NQ. Cơ sở này, nguyên thuộc quyền sở hữu của Nha Tổng Giám đốc Bảo An thuộc Bộ Nội Vụ, gồm toàn những nhà trệt chật hẹp, không có trần nhà nên rất nóng nực. Sau cách mạng 1-11-1963, ĐPQ & NQ được chuyển từ Bộ Nội Vụ sang thuộc quyền Bộ Quốc Pḥng, mới đổi thành Bộ Tư lệnh Địa phương quân và Nghiă quân, do Trung Tướng Trần Ngọc Tám làm Tư lệnh. Tướng Tám đă tŕnh xin ngân khoản để phá hủy toàn bộ nhà cũ, xây dựng lại những nhà 2 tầng khang trang rộng răi, đủ tầm vóc cho một Bộ Tư lệnh Lực lượng Diện địa (như Bộ Tư lệnh National Guard của 1 Tiểu Bang trên Lục địa Hoa Kỳ). Dự án được MACV (Hoa Kỳ) hỗ trợ và thực hiện ngay trong tài khoá 1964-1965.

Nhưng tiếc thay, sau khi Tướng Khánh (bạn chí thân của Tướng Tám) bị Đại Hội đồng Quân lực áp lực buộc phải rời nước ra đi vào ngày 24 tháng 2 năm 1965, Hội đồng Tướng Lănh Việt Nam đang nắm quyền điều hành đất nước, không muốn Tướng Tám giữ một trọng trách lớn như vậy. Nên đă giải tán Bộ Tư lệnh ĐPQ & NQ, thay bằng Bộ Chỉ huy Trung Ương Địa Phương quân và Nghiă quân, chỉ lo chuyên trách về quản trị hành chánh, tiếp vận, tuyển mộ, yểm trợ công tác xă hội, thanh tra theo dơi tinh thần và ghi nhận các ước vọng quân sĩ để tŕnh Bộ TTM giải quyết mà thôi. C̣n việc tổ chức, huấn luyện, chỉ huy và xử dụng, thuộc quyền của các Bộ Tư lệnh Vùng Chiến thuật và Tiểu khu trưởng kiêm Tỉnh trưởng.

Đại tá Trương văn Xương nguyên là Tư lệnh phó của Tướng Tám, nay được chỉ định làm Chỉ huy trưởng BCH / TU / ĐPQ & NQ, Trung tá Nguyễn Duy Hinh nguyên Tham mưu trưởng lên làm Chỉ huy phó, Tôi nguyên là Tham mưu phó Tổ chức Huấn luyện lên làm Tham mưu trưởng, và Trung tá Đàng Thiện Ngôn nguyên là Tham mưu phó Tiếp vận trở thành Tham mưu phó cho Tôi. Thiếu tá Nguyễn Hữu Chi, tiếp tục phụ trách Pḥng Truyền Tin, nguyên thuộc quân số Bộ Tư lệnh ĐPQ & NQ giải tán chuyển sang Bộ Chỉ huy TU / ĐPQ & NQ. Cuối năm 1967, Bộ Chỉ huy TU / ĐPQ & NQ giải tán, th́ anh Chi và các nhân viên Truyền Tin thống thuộc được thuyên chuyển trả về Cục Truyền Tin.

Trong thời gian Tôi làm Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy TU / ĐPQ & NQ chúng tôi đă làm được một việc rất quan trọng, đem lại lợi ích lớn cho anh em thuộc Lực lượng Địa phương quân. Chúng tôi đă đề nghị và được Tướng Thiệu Chủ Tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia chấp thuận cho ban hành Quy chế riêng cho Địa phương quân.

Sự việc được diễn tiến như sau: Tướng Thiệu họp đại diện các Pḥng thuộc Bộ TTM và Bộ Chỉ huy ĐPQ & NQ, tại tư dinh trong cư xá Sĩ quan Trại Trần Hưng Đạo, để nghiên cứu việc sửa đổi h́nh thức của các mẫu Cấp hiệu Úy và Tá, sao cho đeo lâu ngày các bông mai bị bạc mầu, người ta không bị lẫn lộn giữa cấp hiệu Úy (mầu vàng) và cấp hiệu Tá (mầu bạc), và Chuẩn úy (nút tṛn vàng trên có kư hiệu alpha) với Thượng sĩ nhất (nút tṛn vàng) và Thượng sĩ (nút tṛn trắng). Nhờ thế, sau này chúng ta mới thấy cấp hiệu Tá ngoài các bông mai trắng có thêm một khung chữ nhật có nhánh lá trúc ở sát dưới, để phân biệt với cấp hiệu Úy chỉ có các bông mai vàng mà thôi. Cấp hiệu Chuẩn úy giữ nguyên không thay đổi. Nhưng mẫu Cấp hiệu các Thượng sĩ nhất và Thượng sĩ thuộc hàng Hạ sĩ quan, được sửa lại và không đeo trên cầu vai như trước nữa, mà đưa xuống tay áo trái y như quy định cho các cấp từ Trung sĩ nhất trở xuống. Mẫu cấp hiệu được sửa lại là: Thượng sĩ nhất th́ thêm 2 vạch ngang ngay trên 3 chữ V (mẫu cấp hiệu Trung sĩ nhất), và Thượng sĩ chỉ thêm 1 vạch ngang thôi.

Lúc đó, Tôi thay mặt Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy TU / ĐPQ & NQ tham dự buổi họp, đă đề nghị và đă được chấp thuận cho Địa phương quân được mang cùng một mẫu cấp hiệu Sĩ quan, Hạ sĩ quan, và Binh sĩ, y như của Chủ lực quân, chỉ khác là nền cầu vai mầu ô liu, thay v́ đen như của Chủ lực quân (mẫu cấp hiệu sĩ quan Bảo An cũ là các bông hoa thị có 8 cánh nhọn mầu bạc). Vải mũ casquette cũng bằng dạ mầu ô liu, dùng chung cho cả 2 loại quân phục Tiểu Lễ và Đại Lễ.
Riêng huy hiệu trên mũ casquette, Địa phương quân vẫn dùng mẫu riêng được quy định bởi Bộ Nội Vụ từ trước Cách mạng 1-11-1963 (Áo mũ giáp, thanh gươm và khẩu thần công bắt chéo, và phiá dưới có 2 chùm các bông lúa, đúc bằng kim khí mầu bạc).

Khác với huy hiệu Chủ lực quân (Con Ó đang xoè cánh bay, mang nơi ngực khiên Quốc kỳ Việt Nam Cộng hoà, hai chân quắp 2 thanh gươm, ṿng hai bên đằng sau con ó là 2 nhánh nguyệt quế, phiá dưới có băng ghi 3 chữ “Danh dự, Tổ Quốc, Trách nhiệm, đúc bằng kim khí mầu vàng).

Doanh trại của Bộ Chỉ huy ĐPQ & NQ giải tán được bàn giao cho Cục Truyền Tin, Tổng cục ĐPQ & NQ mới thành lập, được đổi lại bằng một dẫy nhà trong Bộ TTM. Dẫy nhà chúng tôi nhận lănh là dẫy nhà trước kia do Sở Vật liệu TT và Pḥng Mật Mă Trung Ương xử dụng, nằm ngay bên kia đường đối diện với dẫy nhà của Bộ Chỉ huy Viễn Thông cũ. Hằng ngày ngồi trong văn pḥng Tổng Cục Phó của Tôi ở trên lầu, nh́n sang sân bên kia đường vẫn thấy Kỳ đài Huy hiệu Binh chủng Truyền Tin (Thanh gươm có 3 ṿng điện tử xoay quanh, do anh Thiếu úy Tước đôn đốc việc xây dựng vào năm 1961, thời Anh Khôi làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông, anh Luận Tham mưu trưởng và Tôi Chỉ huy phó Viễn Thông) và 2 sân bong rổ và bong chuyền rất đẹp vẫn c̣n trơ trơ ra đó. Làm Tôi nhớ lại, những buổi chiều trước Cách mạng 1-11-1963 lật đổ Tổng thống Diệm, anh em sĩ quan Bộ Chỉ huy Viễn Thông và Sở Vật liệu TT, rủ nhau chia thành 2 nhóm đánh Volley đến nhá nhem tối không c̣n thấy đường mới ngưng. Và đêm đêm vào hồi đầu năm 1963, trong suốt thời gian cấm trại 100%, Trung tá Khổng văn Tuyển (Cục trưởng) cùng Tôi (Cục Phó) sang chơi Domino với anh em trong Khối Vật liệu gồm có Vũ Xuân Hoài, Đỗ Linh Quang,…  ngay tại căn pḥng Tôi đang ngồi. (Hồi đó, Anh Tuyển đang làm Chánh sự vụ Sở Viễn Thông Bộ Nội Vụ, được đưa về thay anh Vơ Đại Khôi bị đưa ra khỏi Ngành Truyền Tin, v́ anh Khôi tin dùng Trung úy Thông (bị An ninh quân đội phát giác là Việt Cộng nằm vùng) trong số nhân viên nhóm nghiên cứu sát nhập Sở Vật liệu và Bộ Chỉ huy Viễn Thông Bộ TTM thành Cục TT, thành lập các Pḥng 6 tại Bộ TTM và các Quân khu thay cho các Bộ Chỉ huy Viễn Thông, đang do anh Nguyễn Tài Lâm được anh Khôi đem về giao cho trách nhiệm làm trưởng nhóm.)

Quả thật là oái oăm, cái DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN nó cứ lẽo đẽo theo Tôi hoài không chịu dứt. Năy giờ dông dài hơi xa quá hoá lạc đề, vậy xin quay trở lại câu truyện du hành đi Nha Trang đang bỏ dở nửa chừng.

Đoàn xe tiếp tục chạy qua một vùng đất cao bên hông phi trường Phan Thiết, rồi đổ xuống thung lũng có thành phố nhà san sát bên nhau, đường xá chật hẹp, nằm giữa 2 nhánh sông (Tôi không biết tên) phát nguồn từ cuối dẫy Trường Sơn chẩy ra Biển Đông. Không cần nh́n bảng hiệu, người ta cũng nhận ra ngay là thành phố Phan Thiết, nhờ mùi không khí khăm khẳm của nước mắm, toả ra từ những xưởng sản xuất nước mắm cổ lỗ thiếu hệ thống thanh lọc tân tiến bảo vệ môi sinh.

Mùi vị toả ra trong không khí th́ gây ngột ngạt khó chịu cho khiếu giác như vậy, nhưng nước mắm lại là món gia vị đem lại chất bổ dưỡng cao, và làm tăng hương vị đậm đà cho các món ăn hàng ngày của dân tộc Việt Nam. Mùi của nước mắm tiết ra cũng khăm khẳm, y như mùi của loại phó mát rất qúy và đắt tiền của Pháp “Camember”, Tôi đă có dịp được thưởng thức nhiều lần trong thời gian du học tại Trường Truyền Tin Montargis bên Pháp.

Trong các loại nước mắm, chúng ta được biết có loại thượng hảo hạng là “nước mắm Nhĩ”, mùi vị dịu ngọt chớ không hắc khẳn mặn chát, giá cả bán cũng rất đắt so với các loại thường. Nhưng “nước mắm Nhĩ” thứ cốt thiệt rất quư, dân nhà nghề chài lưới thường dành để dùng trong những chuyến ra khơi. Họ uống một ly nhỏ để hâm nóng cơ thể, chống lạnh cóng lúc hoạt động buông kéo lưới ngoài khơi. Thành ra loại “nước mắm Nhĩ” mà chúng ta mua được ngoài chợ là loại “nước Nhĩ nh́” hoặc “Nhĩ pha trộn”, chớ không phải thứ “Nhĩ thiệt cốt nhất”, thế mà ăn vẫn ngon hơn các loại thường rơ ràng như “một trời một vực”. Theo chỗ Tôi biết th́ Việt Nam có 3 nơi sản xuất nước mắm nhiều và nổi tiếng. Miền Trung có Phan Thiết, miền Nam có đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Rạch Giá, và miền Bắc là vùng Cát Hải thuộc tỉnh Quảng Yên.

Ra khỏi thị xă Phan Thiết, xe phải vặn hết các cửa kính 2 bên hông xuống cho thoáng gió, chạy cả tiếng đồ sau vẫn c̣n thấy phảng phất mùi nước mắm. Đưa tay áo lên mũi ngửi, mới biết là hơi nước mắm đă bám và thấm vào vải, chỉ c̣n có cách cởi ra bỏ giặt th́ mới hết. Xe tiếp tục chay qua vùng không khí oi nóng. Dọc bên trái đường, tầm mắt bị hạn chế bởi dải núi Trường Sơn cây rừng rậm rạp, cao vút lên trời xanh. Bên phải quang đăng, bằng bằng, nhấp nhô những đụn cát dài ra tận bờ biển, thưa thớt đó đây những hàng cây cao lẫn cả dừa. Có đoạn nh́n thấy cả mặt biển long lanh mầu xanh lam hiền dịu, nhập chung với đường chân trời xa tít, với những nhóm cột buồm khẳng khiu túm tụm nghỉ ngơi sau chuyến ra khơi nhiều ngày trở về.

Qua Phan Rí, Phan Rang, đến Ba Ng̣i, đoàn xe ngừng cho máy móc nghỉ ngơi, người xuống vận động cho thư giăn các cơ bắp và ăn uống lấy lại sức, trước khi đi nốt đoạn đường c̣n lại để vào thành phố Nha Trang.

Các đơn vị Truyền Tin được ghi trong lịch tŕnh “Thanh tra Chỉ huy” lần này gồm: Đại đội 7 TT, cơ sở Truyền Tin Phân khu Duyên hải Nha Trang, và Đơn vị Tồn trữ, Tiếp liệu và Sửa chữa Vật liệu TT. Riêng việc thăm Đơn vị Tồn Trữ Tiếp Liệu và Sửa Chữa Vật liệu TT, phải gọi là “thăm viếng xă giao” th́ đúng hơn là “Thanh tra Chỉ huy”, v́ đơn vị này vẫn đang c̣n nằm trong hệ thống Chỉ huy của Nha Quân Cụ (Direction du Matériel) ở Saigon, không thuộc quyền chỉ huy của Chỉ huy trưởng Viễn Thông. Đơn vị trưởng lịch sự muốn tiếp và cho thăm viếng cũng được, ngược lại theo “nguyên tắc chỉ huy” từ chối không cho cũng chẳng làm ǵ được.

Theo nhận xét riêng của Tôi, kỳ “Thanh tra Chỉ huy” này chỉ là cái dù hợp pháp, để anh Khương thực hiện 2 công tác ngoài kỹ thuật Truyền Tin là:

1.- Tiếp xúc với nhóm ủng hộ Thủ tướng Diệm, bàn luận các kế hoạch hành động và nhận những nhiệm vụ sẽ phải thực hiện trong tương tại Saigon.

2.- Cho anh em sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Chỉ huy Viễn Thông trong Saigon, thấy tận mắt h́nh thức “sinh hoạt chính trị của Phong trào Cách mạng Quốc gia” trong hàng ngũ Quân đội như thế nào, tại Đại đội 7 Truyền Tin để mà học hỏi và áp dụng sau này.

Sở dĩ Tôi dám khẳng định như vậy, v́ lịch tŕnh chính thức thực hiện chỉ là đi phớt qua các đơn vị y như ta đi xem triển lăm vậy thôi, chớ không phải thanh tra t́m hiểu kỹ để giải quyết những vấn đề của đơn vị. Thời gian làm như vậy chỉ cần một ngày là xong, thế mà chúng tôi phải ở Nha Trang tới 3 ngày 3 đêm lận. Dĩ nhiên là có những buổi anh Khương họp riêng với Phong trào Chủ chốt tại Nha Trang, th́ chúng tôi được rảnh rang rạo chơi coi phố phường, chợ, hoặc đi tắm biển dọc ngay bên thành phố.

Hoạt động nổi bật nhất trong dịp “Thanh tra Chỉ huy” này, là đêm lửa trại tổ chức tại doanh trại của Đại đội 7 Truyền Tin. Tất cả đơn vị, Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ, không phân biệt cấp bậc, ngồi xệp xuống đất, lẫn lộn quây quần bên nhau, quanh một đống củi lớn ở giữa sân của đơn vị. Thủ tục khai mạc, mọi người đứng lên hát bài Quốc Ca Việt Nam xong, anh Khương Chủ toạ châm mồi lửa vào đống củi bùng cháy, mọi người vỗ tay reo ḥ và ngồi xuống. Diễn tiến kế theo là “Chủ tọa đoàn của Phong trào Cách mạng Quốc gia” của đơn vị điều khiển mọi người công khai đóng góp ư kiến nhận xét về các hoạt động của đơn vị, đặc biệt nêu ra những điểm sơ xuất và thiếu Dân chủ để các cấp chỉ huy tùy trách nhiệm phải tŕnh bầy giải quyết. Xen kẽ cuộc “phê b́nh và giải quyết” là những mục tŕnh diễn văn nghệ ca, kịch… Sau 2 tiếng đồng hồ sinh hoạt, đống lửa bắt đầu tàn th́ bế mạc.

Đêm Lửa Trại có h́nh thức y hệt sinh hoạt của Hướng đạo sinh tổ chức cuối tuần bên thiên nhiên. Thuở niên thiếu, Tôi đă từng tham gia hoạt động trong các Đoàn Hướng Đạo Sinh Đông Dương thời Pháp thuộc, nên không bị bất ngờ hay lạ lùng ǵ. C̣n đối với các bạn khác từ Saigon ra chưa từng tham gia các sinh hoạt Hướng đạo hay Thanh niên ngoài trời, th́ hẳn thấy là lạ, vui vui, thích thú. Nhưng, sau giờ tàn Lửa Trại ra về, đêm nằm ngủ chắc chắn sẽ phải suy tư hoang mang lo âu không ít. Có lẽ hồi ở trong “chiến khu của Thiếu tá Thái Quang Hoàng” thường tổ chức sinh hoạt chính trị như vậy, nên anh Khương và mấy anh em thuộc Đại đội 7 đi theo thấy hay, bắt chước đem về áp dụng trong “sinh hoạt chính trị” của đơn vị. Cũng có thể lối sinh hoạt chính trị này là kiểu mẫu do Phong trào chỉ thị phải thực hiện như vậy tại đơn vị.

Riêng cá nhân Tôi, sau khi tham dự buổi “Lửa trại sinh hoạt chính trị” này, cảm thấy không có thiện ư nhưng không dám nói ra. V́ Phong trào dùng h́nh thức lửa trại (giải trí xây dựng t́nh đồng đội có vẻ thân thiết này) để thực hiện việc “phê b́nh đ̣i biết mọi truyện trong đơn vị, và buộc cấp chỉ huy phải sửa đổi lề lối làm việc”, y như các Đảng ủy Cộng sản đối với các cấp trong đơn vị Bộ đội của họ. Trong ngày th́ các cấp chỉ huy tùy theo chức vị ra lệnh đôn đốc thuộc cấp hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Tối đến đơn vị sinh hoạt chính trị, một Binh sĩ, một Hạ sĩ quan, hay một Sĩ quan cấp nhỏ nào đó, làm “Chủ tịch Phong trào” ngồi điều khiển cuộc “phê b́nh đàn hạch” các cấp chỉ huy, về những lệnh hay hành động mà Phong trào cho là không hợp lư, thiếu Dân chủ, chưa Cách mạng… Nhất là trong buổi sinh hoạt này, anh em trong đơn vị lại không xưng hô với nhau bằng cấp bậc, mà gọi nhau là “Đồng chí với Họ Tên người được đề cập tới”. Chẳng lẽ, Đại đội trưởng bị phê b́nh, lúc trả lời lại nói: “Thưa Hạ sĩ X, Chủ tịch…” th́ nó khôi hài quá, nên mọi người đành thoả thuận là trong những giờ công vụ th́ “Thưa Đại úy!”, nhưng trong buổi sinh hoạt chính trị th́ chỉ nên gọi đơn giản “Thưa đồng chí X, đồng chí Y...” cho nó thuận tai và vui vẻ cả làng. Cách mạng là b́nh đẳng mà!!! Chắc hẳn rằng, cái loại “sinh hoạt chính trị phê b́nh xây dựng công khai” mới mẻ này là phương tiện gây áp lực làm nản ḷng những người Chỉ huy nào mà “cấp lănh đạo cao của Phong trào” thấy cần phải thay thế, v́ nghi vấn thân Pháp Thực dân, thuộc phe nhóm cũ của Cựu Hoàng Bảo Đại, hoặc ngang bướng không chịu luồn lách uốn ḿnh theo thời đại, khiến cho họ chịu đựng không nổi phải t́m cách xin rút lui, nhường chỗ cho những người của “Phong trào” lên thay thế. “Mỗi cái tóc là một cái tội”, nếu ai không thông minh hiểu ra được để mà từ nhiệm cứ cố gắng bám trụ, th́ trước sau ǵ cũng sẽ bị hạ bệ bằng nhiều h́nh thức, nặng nhẹ khác nhau khó mà lường trước được.

Từ khi “Phong trào Cách mạng Quốc gia” bắt đầu nở rộ trong toàn Quân đội, biết bao cảnh các cấp chỉ huy đơn vị có khả năng chuyên môn giỏi, có tinh thần phục vụ hăng say, có kỷ luật tư cách ngay thẳng, bị thay đổi bằng những người kém khả năng chuyên môn và thiếu tài lănh đạo chỉ huy, nhưng có được đặc tính khả năng duy nhất là, luôn luôn tỏ ra trung thành, tận tụy hăng hái, tuyệt đối tuân theo chỉ thị đường lối của “Cấp cao lănh đạo Phong trào” không cần biết thuận lư hay không.

Cái phương thức “Sinh hoạt chính trị lửa trại” này đem vào Saigon, đă phải biến đổi theo h́nh thức khác. “Học tập chính trị đả Thực bài Phong” trong Hội trường, v́ doanh trại các đơn vị và cơ sở tham mưu trong thành phố (Thủ Đô) không có điều kiện tổ chức lửa trại. Cái phương thức sinh hoạt cách mạng (cá mè một lứa, Binh sĩ và cấp Chỉ huy đàn hạch nhau công khai), tưởng sẽ đem lại sự đổi mới tinh thần Quân đội và Hành chánh thoát khỏi nếp sống ù ĺ quan lại cũ, lại là mầm mống làm băng hoại tinh thần Kỷ luật Quân đội, và làm nản ḷng những người có thiện chí, đă hăng hái hy sinh gia nhập Quân đội để phục vụ Quốc gia Dân tộc với “tinh thần bất vụ lợi”, trong suốt thời Đệ Nhất Cộng hoà kéo dài sang cả Nền Đệ Nhị Cộng hoà vẫn chưa dứt. Nhiều người đă bị cho giải ngũ với những h́nh phạt hoặc lư do không chánh đáng, hoặc phải tự ư t́m cách chạy chọt để được giải ngũ v́ không muốn thấy cảnh “trái tai gai mắt” “Kỷ luật là sức mạnh Quân đội” bị phá sản như vậy. Thật đáng tiếc! 

 

 
Nguyễn Huy Hùng; HỒI KƯ DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN