[Bài Viết - Article]
                                                                               

 

 

HỒI KƯ

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN

 

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


***

 

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 9.

 

MỘT CÔNG ĐÔI VIỆC: CÔNG VỤ THANH TRA VÀ “VINH QUY BÁI TỔ” CỦA CHỈ HUY TRƯỞNG VIỄN THÔNG BỘ TỔNG THAM MƯU QLVNCH.

  

Dưới đây là h́nh ảnh, Họp mặt Truyền Tin mùa Thu 1994, và bầu Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 1994-1996, tại Hội quán Lạc Hồng  trong trường Tâm’s Beauty College của Bồ câu Hải quân Nguyễn văn Diễm, thành phố Garden Grove, khu Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ ngày 19-11-1995.

 

 

H́nh trên, Nguyễn-Huy Hùng được bầu làm Trưởng ban tổ chức điều hành cuộc bầu Hội trưởng Ái hữu TT cho nhiệm kỳ 1994-1996, đang phát biểu ư kiến đề nghị cách thức và điều lệ ứng cử, đề cử, và bầu cử.

H́nh dưới, từ phái qua trái, hàng trước: Nguyển văn Xê, Lê nguyên Hoàng, Tạ Thái B́nh, Nguyễn-Huy Hùng,…(không biết tên)…

hàng sau: Nguyễn Đ́nh Hoà, Lê văn Tiền, Cao Mạnh Thắng,…

 

 

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 9.

 

MỘT CÔNG ĐÔI VIỆC: CÔNG VỤ THANH TRA VÀ “VINH QUY BÁI TỔ” CỦA CHỈ HUY TRƯỞNG VIỄN THÔNG BỘ TỔNG THAM MƯU QLVNCH.

  

Noi gương Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (ngày Mồng Một Tết tiếp Ngoại giao đoàn, ngày Mồng Hai về Huế chúc Tết Thân mẫu, mấy ngày Tết c̣n lại kể từ Mồng Ba đi thăm các đơn vị Quân đội và Dân chúng ở các tỉnh xa Thủ Đô), nên ngày mồng Ba Tết Bính Thân 1956, Trung Tá Nguyễn Khương Chỉ huy trưởng Viễn Thông Bộ Tổng Tham mưu, cũng dẫn phái đoàn tham mưu của Bộ Chỉ huy và Pḥng Mật Mă Trung Ương đi thăm viếng các đơn vị Truyền Tin tại Quân khu I, gồm Huế, Quảng trị, Đà Nẵng và Quảng Nam.

Chuyến đi này, ngoài mục đích công vụ ra, anh Khương c̣n thực hiện được mấy việc riêng tư khác, như “vinh quy bái tổ” về quê thăm khoe với họ hàng bà con thân quyến nhân dịp Tết về sự kiện được thăng quan tiến chức quan trọng trong Quân đội, và đến tŕnh diện chúc Tết ông Ngô Đ́nh Cẩn (Cố vấn của Tổng thống Diệm, Lănh tụ Phong trào chính trị của Cần Lao Nhân Vị tại miền Trung, thường được quần chúng gọi là ông Cậu) để Cậu biết mặt nhớ Tên, như thông lệ các Chỉ huy trưởng Binh Chủng, Nha Sở Trung Ương, Đại Đơn vị khác trong Quân đội từng làm.

Máy bay Air Việt Nam rời Saigon, đưa chúng tôi cùng hành khách dân sự đi thẳng một lèo ra Huế, không ghé nơi nào cả. Đến khoảng gần trưa, phi cơ hạ thấp cao độ rồi đáp xuống phi trường Phú Bài. Phái đoàn chúng tôi được Thiếu Tá Phan văn Chuân Chỉ huy trưởng Viễn Thông Quân Khu, và một số Sĩ quan Truyền Tin đang phục vụ tại Huế ra đón rất niềm nở.

Trên đường từ phi trường Phú Bài về Huế, một sự kiện làm Tôi rất ngạc nhiên là, trước cửa nhà dân chúng ở dọc 2 bên đường suốt từ xóm nhà quanh chân núi Ngự B́nh, qua chợ An Cựu, vào thành phố Huế, treo toàn một loại cờ Phong trào Cách Mạng Quốc gia (một sọc vàng to chính giữa với ngôi sao 5 cạnh đỏ, và hai sọc đỏ nhỏ hơn dọc 2 bên suốt bề dài cờ). Các trụ sở cơ quan Hành chánh và Quân đội chỉ treo Cờ Quốc gia (cờ quẻ Càn, nền vàng 3 sọc đỏ) chớ không treo cờ của Phong trào Cách mạng Quốc gia.

Tại các tỉnh miền Nam, cũng như tại vùng Cao nguyên Trung phần, Tôi đă có nhiều dịp đi qua, không thấy có hiện tượng này. Thảo nào tại Saigon, trong thời gian chuyển tiếp từ Chế độ Quốc gia Việt Nam sang Việt Nam Cộng ḥa, sau ngày trưng cầu Dân ư truất phế Quốc trưởng Bảo Đại (23 tháng 10 năm 1955), người ta đă đưa ra công luận bàn căi về việc thay đổi h́nh thức lá Quốc kỳ, bài Quốc Ca, cùng một lượt với việc soạn thảo bản Hiến Pháp và Chế độ Chính trị mới cho miền Nam Việt Nam.

Hiện tượng này khiến Tôi mung lung suy nghĩ, phải chăng đây là mẫu Quốc kỳ mà người ta đă muốn vận động hợp thức hoá nhưng không thành? V́ Hiến Pháp đă ban hành vào ngày Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tuyên thệ nhậm chức 26 tháng 10 năm 1956, Cờ Việt Nam Cộng hoà vẫn là “Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ” (Quẻ Càn), Quốc Ca vẫn là bài “Tiếng gọi Công Dân”, có từ thời ông Bảo Đại làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam. Chỉ có một điều khác là, trong các buổi lễ lạc, và ngay cả trong các rạp hát, chiếu bóng, sau khi mọi người đứng nghiêm chỉnh nghe hoà tấu bài “Quốc Ca VNCH” để chào Cờ, phải tiếp tục đứng nghe bài hát tuyên dương lănh tụ Ngô Đ́nh Diệm: “…Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống. Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm!…” rồi mới được ngồi xuống bắt đầu xem tŕnh diễn tuồng hay chiếu phim.

Trong thời gian công tác tại Huế, chúng tôi được sắp xếp ở trong khách sạn Morain sang trọng nhất Huế, trước kia chỉ dành riêng cho người Pháp và quan chức Việt Nam quan trọng có dịp ghé Huế. Anh Khương về nhà riêng không ở khách sạn với chúng tôi. Ngay buổi tối ngày chúng tôi vừa tới Huế, cả phái đoàn được mời sang ăn cơm Tầu tại nhà hàng danh tiếng bên Gia Hội, do toàn thể anh em Truyền Tin làm việc tại Huế đóng góp khoản đăi rất trọng hậu.

Sáng sớm hôm sau ngày tới Huế, đang lang thang trong hành lang trên lầu Khách sạn đợi xe đến đón, Tôi gặp một cô dáng vẻ nữ sinh rất duyên dáng xinh xinh. Vốn tuổi trẻ hào phóng lăng mạn, Tôi nhoẻn miệng cười nghiêng ḿnh lịch thiệp chào làm quen. Vừa lúc đó th́ Thiếu Úy Phan Xuân Thế, Trưởng Pḥng Mật Mă Bộ Chỉ huy Viễn Thông Quân khu tới. Anh Thế chào Tôi và ghé tai nói nhỏ: “Em vợ Thiếu Tá Lam Sơn Chỉ huy trưởng Khu Truồi, mới bị cất chức và giữ điều tra liên quan đến an ninh quốc gia sao đó. Thiếu Tá không nên gần và làm quen, e rằng an ninh theo dơi ngó thấy có thể gặp chuyện không hay sau này cho ḿnh.”

Anh Thế người gốc Huế, nguyên là công chức Toà Án bị động viên theo học khoá Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, ra trường được tuyển lựa cho về tăng cường nhân số ngành Mật Mă. V́ hoàn cảnh gia đ́nh có Cha già yếu cần săn sóc đặc biệt, nên sau khi học khoá Sĩ quan Mật Mă tại Pḥng Mật Mă trung Ương, Tôi đề nghị cho về Huế, thay cho anh Lư Thái Vượng đă phục vụ tại Huế trên 2 năm, cũng đang có nhu cầu đưa Cha già và gia đ́nh đông con di cư từ Hà Nội vào không hợp với phong thổ Huế, muốn được vào Saigon để ổn định việc định cư vĩnh viễn.

Buổi công tác đầu tiên của phái đoàn là tham dự thuyết tŕnh tại Bộ Chỉ huy Viễn Thông Quân khu. Qua các điều tŕnh bầy của địa phương và thảo luận thắc mắc của phái đoàn Trung ương, Tôi cảm nhận được rằng tại đây, giữa cấp chỉ huy Khai thác Truyền Tin (Thiếu tá Phan văn Chuân) và chỉ huy trưởng đơn vị Tiếp liệu sửa chữa Vật dụng Truyền Tin (Thiếu tá Khổng văn Tuyển) cũng đang có các khó khăn tương tự như tại Saigon, giữa Trung Tá Khương Chỉ huy trưởng Viễn Thông Bộ Tổng Tham mưu QĐQGVN và Trung Tá Lê văn Hiền Chánh Sự vụ Sở Vật liệu truyền Tin trực thuộc Nha Quân Cụ trong hệ thống chỉ huy của Tổng Cục Tiếp vận.

Vài tháng sau, anh Khổng văn Tuyển được anh Khương đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu điều động vào Saigon, làm Chánh Sở Vật liệu Truyền Tin thay thế Trung tá Lê văn Hiền bị thuyên chuyển ra khỏi ngành TT, không biết v́ lư do ǵ? Sau này anh Hiền hoạt động ngoài Bộ binh cũng đă được thăng lên cấp Đại tá. Thời kỳ sau 30-4-1975 phải đi tập trung cải tạo, Tôi lại có dịp gặp anh Hiền mặc dù anh ấy đă giải ngũ sống tại quê vùng trồng bưởi có tiếng của tỉnh Biên Hoà, nhưng cũng phải đi tập trung cải tạo như những người đang c̣n tại ngũ chúng tôi. Đến giữa năm 1976, Tôi bị chuyển ra cải tạo tại vùng Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, miền Bắc Xă hội Chủ nghiă, anh Hiền được ở lại Trại Suối Máu, Biên Hoà, cùng với một số Bác sĩ Quân Y, không biết lúc nào th́ được tha.

Rời Bộ Chỉ huy Viễn Thông, toàn thể đoàn thanh tra chúng tôi được hướng dẫn vào Thành Mang Cá, nơi đồn trú của Đại đội TT, chờ anh Khương ghé vào Cung Nội (nơi có Bộ Tư lệnh Quân Khu để yết kiến vị Tư lệnh Quân Khu) để tŕnh vị Tư lệnh Quân Khu (h́nh như lúc đó là Đại Tá Lê văn Nghiêm) biết là ḿnh đang dẫn đoàn thanh tra TT công tác tại miền Trung. Đến khi anh Khương xong công việc tŕnh diện Tư lệnh Quân Khu về tới Đại đội, cuộc thanh tra Đại đội mới bắt đầu. Tại cơ sở Đại đội TT chẳng có ǵ liên quan đến Mật Mă, nên Trung úy Trịnh Xuân Minh và Tôi không được mời tham dự. Thiếu úy Vơ Trịnh Trọng được giao phó trách nhiệm dẫn chúng tôi xuống Câu lạc bộ của Đại đội giải khát chờ, phái đoàn làm việc xong sẽ cùng lên đường đi thăm Trung tâm Truyền Tin Khu Truồi. Thiếu úy Trọng (đến năm 1959 mang lon Đại úy du học TT tại Hoa Kỳ về, được anh Khương đưa về làm Phó Giám đốc cho Tôi tại Trường Truyền Tin Liên trường Vơ Khoa Thủ Đức, Tôi đă nhắc đến trong đoạn Duyên Nợ Truyền Tin-5) kêu nhân viên Câu lạc bộ đăi chúng tôi, nem chua nướng, tỏi sống, nhắm với Bia hâm nóng bỏ đường, rất ngon và làm ấm ḷng người vào buổi sáng mồng 4 Tết. Thời tiết của Huế vẫn c̣n lạnh cóng, trong khi tại Saigon và các tỉnh miền Nam đă nóng đổ mồ hôi.

Buổi tối ngày thứ 2 làm việc tại Huế, ông Cụ Trần Thái Kỉnh (một nhân sĩ Chính trị của Cần Lao hầu như ai ở Huế cũng biết tiếng, là thân phụ của Hạ sĩ Trần Chí Trung Mật Mă viên làm việc với Tôi tại Saigon) nhờ Thiếu úy Thế Trưởng Pḥng Mật Mă Quân khu, mời anh Minh, Tôi, anh Khương và cả anh Thế đến nhà dùng cơm tối. Trong lúc ăn uống, ông Cụ vồn vă nói truyện với Tôi rất mực thân t́nh về cả các hoạt động chính trị tại miền Trung, và nhắc Tôi nhớ chiều ngày Mồng Tám Tết ra phi trường Tân Sơn Nhất đón con gái của Cụ đưa tới nhà Bác sĩ Trần Kim Tuyến tại Saigon giùm. Sự kiện này làm anh Khương ngạc nhiên vô cùng, không hiểu v́ sao Tôi là người Bắc sống trong Saigon, mà lại có sự liên lạc quen biết thân thiện với một nhân vật như vậy tại Huế. Cũng nhờ thế, sau cuộc thanh tra Huế về Saigon, Tôi cảm nhận được rằng mấy “đồng chí” có vai vế trong Phong trào Cách mạng Quốc gia của Binh chủng TT, không ai c̣n tỏ vẻ quan trọng kênh kiệu khi tiếp xúc với Tôi như trước nữa.

Sau 2 ngày làm việc ở Huế và Quảng Trị xong, chúng tôi dùng xe hoả từ ga Bạch Hổ Huế chạy qua An Cựu, Phú Bài, Truồi, Lăng Cô, rồi leo núi và chui qua hầm Đèo Hải Vân để vào Đà Nẵng, vào buổi chiều tối ngày mồng 5 Tết. Một gặp gỡ “kỳ ngộ” đă xẩy ra trên chuyến xe hoả đầu năm Con Khỉ này, cũng ghi lại cho Tôi và anh em Pḥng Mật Mă Trung Ương một kỷ niệm vui vui. Số là, khi anh Trung úy Trịnh xuân Minh và Tôi vừa bước vào pḥng hạng nhất trên toa xe hoả, thấy có 2 nữ sinh cỡ tuổi đôi mươi, xinh xinh dễ thương đang ngồi trong đó. Chúng tôi sắp xếp hành lư rồi ngồi vào chỗ xong, mới bắt đầu khơi truyện làm quen 2 người đẹp. Nhờ Huệ Chi và Kim Lan đều là thân quyến của gia đ́nh lính, nên câu truyện hàn huyên trở nên thân thiện dễ dàng nhanh chóng. Huệ Chi có anh rể thuộc đơn vị Thiết giáp đóng ở Thủ Dầu Một. C̣n Kim Lan có thân quyến thuộc Không quân làm việc ở Tân Sơn Nhất. Hai người cùng là bạn học Gia Long cũ, nhân dịp Tết rủ nhau đi thăm Huế, lúc ra về th́ gặp chúng tôi đi cùng chuyến tầu đêm vào Đà nẵng. Sau này về tới Saigon, anh em Pḥng Mật Trung Ương chúng tôi (Vượng, Thiều, Minh, Lạng và Tôi) có nhiều dịp lại nhà riêng Huệ Chi thăm, nên biết Huệ Chi cũng là một “nữ thi sĩ tài tử” của trường Trung học Gia Long. Để làm cho sự quen biết ngày một thêm thắm thiết, anh Lư Thái Vương đă làm 2 câu thơ để yêu cầu Huệ Chi phụ hoạ, “Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên ǵ hay không?”. Huệ Chi không phụ họa ngay, nói để lần khác sẽ trả lời.

Trước lạ sau quen, nhờ những kỳ thăm như vậy, nên chúng tôi đă mời được Huệ Chi tham gia Ban Hợp Ca của Pḥng MMTU (Ban Hợp ca M2, có cả Vợ của Tôi), lên tŕnh diễn giúp vui trong các buổi học tập Chính trị Tố Cộng bài Phong do Bộ Chỉ huy Viễn Thông tổ chức. Những ngày Chủ nhật mọi người thường tới nhà Tôi để tập dượt hợp ca, và lần nào cũng được Vợ Tôi đăi trà bánh hoặc xôi chè đậu.

 

Ban hợp ca M2 (em hai=Mật Mă), ảnh chụp năm 1957 tại tư gia trong trại gia binh Bà Chiểu, Từ trái sang phải, hàng trước: Trần Kim Huê (nữ phụ tá), Huệ Chi, Bà Hùng,
hàng sau: Nguyễn-Huy Hùng, Lư Thái Vượng, Trịnh Xuân Minh, Trịnh Xuân Lạng, Nguyễn Bỉnh Thiều, và Trung sĩ Hạp (không nhớ Họ ǵ)

 

Tại Đà Nẵng, Quảng Nam, sau khi thanh tra các đơn vị khai thác TT xong, cũng có cuộc “thăm viếng xă giao” đơn vị Yểm trợ Tiếp liệu Sửa chữa Vật liệu TT (h́nh như lúc đó do anh Dương Hồng Cẩm chỉ huy). Hoàn tất công tác tại miền Bắc Trung Việt, chúng tôi dùng máy bay trở về Saigon, chuẩn bị cho đợt công tác khác tại miền Cao Nguyên Trung phần (Banmêthuột, Pleiku, và Kontum).

Kỳ thanh tra miền Cao nguyên Trung phần, chúng tôi cũng được Tổng cục Tiếp vận cấp vé đi máy bay Air Việt Nam lên Banmêthuột, chớ không phải dùng “Air Kaki” tức là máy bay chuyển vận liên lạc của Không Quân như những quân nhân đi công tác thường lệ. Sau khi thanh tra các đơn vị TT tại Banmêthuột xong, chúng tôi dùng xe Jeep đi đường bộ lên Pleiku, rồi xuống Kontum.

Đặc biệt tại Pleiku, chúng tôi gặp Trung úy Nguyễn văn Thúy (nhà văn Kỳ Văn Nguyên, tác giả cuốn truyện “T́m về sinh lộ” được giải thưởng văn chương của miền Nam Việt Nam) đang thuộc quân số đơn vị TT hoạt động tại đây. Anh Khương tiếp xúc nói truyện thấy có vẻ như 2 người đă quen biết nhau từ trước. Ít ngày sau cuộc thanh tra, anh Thúy được điều động về Bộ Chỉ huy Viễn Thông để làm việc bên Trung tâm TT Bộ Tổng Tham mưu, và nhận lănh việc tiếp tục thực hiện cuốn đặc san “Sóng Việt” và giờ phát thanh của Binh chủng TT trên làn sóng Đài Phát Thanh Quân đội, thay Tôi và anh em Pḥng Mật Mă Trung Ương từ nhiệm. Chúng tôi từ nhiệm v́ anh Giác ỷ thế Tham mưu trưởng của Bộ Chỉ huy, xen lấn vào quyền Chủ bút tờ đặc san “Sóng Việt” của Binh chủng do anh Khương phó thác cho Tôi phụ trách.

Từ cuối năm 1956 qua đầu năm 1957, toàn Bộ Tổng Tham Mưu di chuyển hết vào Camp Chanson (cơ sở cũ của Bộ Tư lệnh tối cao Quân viễn chính Pháp giải tán trao lại cho Việt Nam) ngay sát phi trường Tân Sơn Nhất thuộc quận Phú Nhuận, tỉnh Gia Định. Từ ngày đó Camp Chanson được đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo. Bộ Chỉ huy Viễn Thông và Sở Vật liệu TT, được cấp 2 dẫy nhà song song bên nhau, ngay gần bồn chứa nước (water tower) giữa khu các Văn pḥng làm việc, khu Câu lạc bộ và cư xá dành cho gia đ́nh Sĩ quan thuộc Bộ Tổng Tham Mưu.

Cơ sở cũ của Bộ Tổng Tham Mưu tại đường Trần Hưng Đạo giao lại cho Cơ quan Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ xử dụng. Sau này, tất cả Sĩ quan, Hạ sĩ quan QLVNCH được cho đi du học bổ túc chuyên nghiệp tại Hoa Kỳ, đều phải tới đây làm thủ tục trắc nghiệm anh văn và phỏng vấn trước khi được chính thức cho lên đường. Về sau nữa, cơ sở này lại trở thành nơi làm việc của Bộ Tư lệnh Quân Đại Hàn (Nam Hàn) vào giúp Việt Nam Cộng hoà chống Cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam.

Dọn vào Trại Trần Hưng Đạo, Pḥng Mật Mă Trung Ương được cấp 3 căn pḥng chính giữa nơi tầng dưới, trong dẫy nhà dành cho Sở Vật liệu TT. Chúng tôi đề nghị phải xây tường ngăn các hành lang, và làm lưới sắt an toàn quây chung quanh thành một khu biệt lập, không ai được đi ngang hoặc đứng ngoài sân có thể nh́n thấy bên trong, rồi mới dọn vào. Sự kiện này, ban đầu cũng làm cho một số anh chị em làm việc tại các văn pḥng ở 2 bên đầu nhà tầng dưới của Sở Vật liệu phiền ḷng. V́ nắng hay mưa, anh chị em ở đầu nhà bên này muốn sang gặp anh chị em ở đầu nhà bên kia, đều phải đi ṿng ra ngoài sân hoặc dùng cầu thang leo lên lầu, đi ngang hàng hiên rồi lại xuống cầu thang, mệt mỏi diệu vợi.

Nhưng về sau, khi thấy Tướng Trần văn Đôn Tham mưu trưởng Liên Quân và Đại tá Nguyễn Khương Chỉ huy trưởng Viễn Thông, mỗi lần đến thăm viếng Pḥng Mật Mă Trung Ương cũng vẫn phải bấm chuông và đợi người ra nhận diện rồi mới mở cửa mời vào. Không như những văn pḥng khác, Qúy vị này thích thăm đâu là cứ tự nhiên đến và ra vào tự do bất cứ lúc nào, không cần phải chờ đợi người nhận diện kiểm soát rồi mới được đón vào. Nhờ thế, anh chị em hiểu được rằng đó là Quy luật Quân đội áp dụng để bảo vệ cơ mật cho Cơ sở làm việc của Mật Mă, nên từ đó trở đi không c̣n ai (nhất là các cô dân chính trẻ đẹp đi giầy cao gót) phiền ḷng đối với anh em Pḥng Mật Mă Trung Ương chúng tôi nữa.

Từ ngày dọn về cơ sở mới này, và cũng nhờ ông Ngô Đ́nh Diệm đă trở thành Tổng Thống, nên việc học tập chính trị của các đơn vị TT vào ban đêm không c̣n nữa. Hoạt động của Phong trào Cách mạng Quốc gia Binh chủng TT cũng tự động ch́m vào quên lăng, chỉ c̣n các thành viên ṇng cốt theo anh Khương từ Nha Trang về tiếp tục bí mật công tác mà thôi.

Theo lệnh của Tổng Thống, các buổi học tập “Chính trị Tố Cộng” chính thức được tổ chức hàng tuần trong giờ làm việc, áp dụng chung cho cả Hành chánh và Quân đội trên toàn miền Nam Việt Nam. Do đó Bộ TTM tổ chức hàng tuần một buổi học tập “Chính trị Tố Cộng”, chung cho tất cả mọi đơn vị đồn trú trong Trại Trần Hưng Đạo, tại sân cờ trước toà nhà lớn, dưới sự Chủ toạ của Trung Tướng Lê văn Tỵ Tổng Tham Mưu trưởng. Cục Tâm lư chiến phải đưa Đoàn Văn nghệ Trung ương, gồm toàn nam nữ ca kịch sĩ nổi danh đương thời, đến phụ trách chương tŕnh ca nhạc kịch để giúp vui cho buổi học tập được hào hứng.

Từ sau ngày có sự trục trặc giữa anh Đại úy Hà Quang Giác Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Viễn Thông và Tôi, về vụ tờ đặc san “Sóng Việt” phải giao cho anh Thúy phụ trách, có vài chiếc thư rơi đến Tướng Trần văn Đôn Tham Mưu trưởng Liên quân, và Tướng Lê văn Tỵ Tổng Tham Mưu trưởng, tố cáo về tác phong của Tôi. Không biết có cái nào gửi đến “Hộp thư dân ư nơi Phủ của Cụ” không? Có lẽ các “thư dân ư” này được gửi đi với mục đích làm cho Tôi bị mất tín nhiệm đối với 2 vị Tướng cầm đầu Bộ Tổng Tham Mưu, mà theo quy định Tôi vẫn trực thuộc thẳng Quư vị ấy về phương diện tổ chức điều hành kỹ thuật các Hệ thống Mật Mă trong Quân đội.

Tôi không nghĩ rằng anh Giác làm việc này, chắc là các em út của anh ấy v́ lư do nào đó, hoặc do lệnh của Phong trào buộc phải làm việc này, để loại Tôi ra khỏi Phong trào sau khi việc vận động ủng hộ ông Ngô Đ́nh Diệm đă hoàn thành. V́ nhiều lần, có người đă đề cập khuyến khích Tôi gia nhập đảng Cần Lao Nhân Vị, nhưng Tôi đă lịch sự từ trối, v́ Tôi đă thấy có sự chia bè phái kèn cựa nhau trong hàng ngũ ấy, nên không muốn gia nhập làm chi thêm mệt. Có lẽ đây cũng là nguyên do v́ sao suốt thời gian 8 năm ông Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng Thống, Tôi không được thăng lên một cấp nào. Vẫn đeo một “Hoa Mai Bạc” thay cho “4 vạch kim tuyến vàng” Tôi đă có từ trước ngày Song Thất 1954, ra phi trường Tân Sơn Nhất cùng các sĩ quan cấp Tá thuộc Bộ Tổng Tham Mưu đón ông Ngô Đ́nh Diệm về làm Thủ Tướng.

Thư tố cáo thuộc loại “ruồi bu” nên đă không làm hại được Tôi. Câu truyện này được ghi lại không có mục đích “xả oán cũ”, mà chỉ muốn chứng minh những “cái Duyên Nợ Truyền Tin” vui buồn đă đến với Tôi, trong khoảng thời gian mười một năm ngắn ngủi phục vụ trong Binh chủng TT, so với 27 năm Quân vụ của Tôi (tính đến 30-4-1975) để các Bạn đọc chơi cho vui trong lúc tuổi già thôi.

Trong khoảng Đệ Nhất Tam cá nguyệt 1957, Tôi đang làm Chánh chủ khảo Khoá Mật Mă Viên tại Trung tâm Huấn luyện TT Vũng Tầu, do Thiếu tá Nguyễn Đ́nh Tài Chỉ huy, Đại tá Khương gọi điện thoại từ văn pḥng Bộ Chỉ huy Viễn Thông xuống nhắn Tôi sớm trở về Bộ Tổng Tham Mưu, tŕnh diện Thiếu Tướng Tham Mưu trưởng Liên Quân gấp. B́nh thường th́ sau khi chấm thi xong, đoàn giám khảo chúng tôi thế nào cũng nghỉ xả hơi vài ngày rồi mới trở về Saigon. Lần này vừa xong công việc, chúng tôi phải vội vă rời ngay Vũng Tầu vào buổi chiều, để sáng hôm sau Tôi kịp tŕnh diện Tướng Tham mưu trưởng, xem có việc ǵ mà gấp vậy.

Chín giờ sáng anh Khương mới tới văn pḥng, Tôi nhờ báo với Chánh văn pḥng Tướng Tham Mưu trưởng cho giờ hẹn lên tŕnh diện Thiếu tướng. Mấy phút sau, Chánh văn pḥng trả lời cho anh Khương biết là Tôi không cần phải tŕnh diện nữa. Cả 2 người chúng tôi cùng ngạc nhiên và lo lắng thắc mắc. Anh Khương đề nghị Tôi cứ lên gặp thẳng Chánh văn pḥng, xin yết kiến Thiếu tướng như Tôi vẫn thường làm trong những lần tŕnh công vụ riêng về Mật Mă, để t́m hiểu xem sao.

Tôi đă lên gặp Chánh văn pḥng, sau khi ngồi chờ 5 phút, Tướng Đôn gọi qua Interphone cho mời Tôi vào gặp mặt. Sau khi chào và xưng danh xong, Tôi tŕnh bầy là đang đi công tác tại TTHL Truyền Tin Vũng Tầu, được điện thoại của Chỉ huy trưởng Viễn Thông báo là phải về tŕnh diện Thiếu tướng gấp, sáng nay Tôi nhờ xin lấy giờ hẹn tŕnh diện th́ Thiếu Tướng chỉ thị không cần nữa. Tôi thắc mắc e ngại không biết có điều ǵ quan trọng không, nên cố t́nh đến đây xin gặp Thiếu Tướng. Tướng Đôn chỉ tay mời Tôi ngồi xuống ghế rồi nói: “Con người ta có lúc nghĩ thế này, nhưng cũng có lúc b́nh tĩnh nhận ra lại nghĩ thế khác, v́ thế Tôi thấy không cần gặp anh nữa.”

Tôi tŕnh bầy là, Tôi đă được thường xuyên tiếp xúc và làm việc với Thiếu Tướng, từ những năm 1952 Thiếu Tướng mới ở Pháp về làm Chánh Sở An Ninh Quân đội cho đến nay. Chắc Thiếu Tướng biết rơ tác phong của Tôi hơn ai hết, do vậy Tôi khẩn khoản xin Thiếu Tướng vui ḷng cho Tôi biết việc đó được không, để Tôi thấy cái sai nếu có mà tự sửa ḿnh cho tốt hơn. Tướng Đôn nói: “Trước đây mấy bữa có lá thư gửi đến “hộp thư dân ư” của Tôi, kể rằng trong lúc ăn uống tại Câu lạc bộ Sĩ quan (nơi gần cổng Một) anh nói với mọi người rằng, Tôi là người ăn chơi thích nhẩy đầm… Tôi không biết Thiếu tá Nguyễn-Huy Hùng nào ở Bộ Chỉ huy Viễn Thông mà lại tệ như vậy, nên Tôi muốn gặp ngay cho biết mặt. Nhưng sau khi cho truy tầm hồ sơ Thiếu Tá Nguyễn-Huy Hùng tŕnh lên, Tôi mới biết là anh nên đă đổi ư kiến, không thấy cần phải gặp nữa, v́ Tôi biết anh từ lâu, anh không phải là người ăn nói bừa băi như vậy. Thôi mọi việc bỏ qua coi như không có ǵ đừng thắc mắc nữa.”

Tôi ngỏ lời cám ơn, rồi chào giă từ trở về Bộ Chỉ huy Viễn Thông, kể lại cho anh Khương nghe những ǵ vừa xẩy ra giữa Tôi và Thiếu tướng Tham Mưu trưởng. Đồng thời Tôi cũng nói với anh Khương là nếu em út của anh không chấm dứt những việc rơi thư như thế này, Tôi sẽ nộp đơn xin ra khỏi Binh chủng Truyền Tin. Anh Khương giả lả khuyên Tôi nên b́nh tĩnh để anh ấy coi lại.

Khoảng một tháng sau, vào một buổi sáng, anh Khương lại gọi điện thoại qua văn pḥng của Tôi, báo cho biết là Trung Tướng Tổng Tham Mưu trưởng muốn gặp Tôi ngay. Tôi tức tốc lên tŕnh diện liền. Chánh văn pḥng (vốn là người quen thân từ lâu) vừa thấy mặt Tôi liền ghé tai nói nhỏ cho biết, là có tên nào ở Bộ Chỉ huy Viễn Thông báo cáo là anh phá hoại học tập chính trị, chuẩn bị tinh thần mà gặp Trung Tướng. Chánh văn pḥng vào tŕnh, 2 phút sau quay ra mở cửa mời Tôi vào gặp Trung Tướng Tổng Tham Mưu trưởng.

Tôi bước vào, đến trước bàn giấy, đứng nghiêm chào, xưng danh và đợi lệnh. Tướng Tỵ thấy Tôi, khoan dung nói: “Cấp bậc lớn rồi, sao không giữ ǵn cho nghiêm chỉnh trong giờ học tập Chính trị làm gương cho em út, mà lại nhẩy nhót làm mất trật tự như vậy?” Tôi chợt nhớ ra ngay, trong buổi học tập 2 tuần lễ trước, trong lúc nữ ca sĩ Ánh Tuyết (nhưng da lại hơi bánh mật) hát bài “Trăng sáng vườn chè”, đến câu “…Anh chưa thi đỗ th́ chưa, th́ chưa, th́ chưa…” Tôi lớn tiếng hỏi: “th́ chưa làm ǵ?”, mọi người cùng khoái chí huà nhau nhắc lại câu hỏi của Tôi. Rồi đến lượt Thái Thanh hát bài “Gịng sông Danube”, Tôi ngồi dẫy ghế sau cùng không cản vướng ai, nên đứng lên nhún nhẩy theo điệu nhạc. Mấy bạn Mật Mă ngồi bên cạnh cũng nhún nhẩy theo, làm mấy “đồng chí” ṇng cốt của Phong trào nh́n chúng tôi có vẻ không đồng ư. Tôi cho rằng sự hoà nhịp làm cho tinh thần ca sĩ hứng khởi thêm trong khi tŕnh diễn, chẳng có ǵ đáng quan tâm, thế mà đă bị báo cáo là “kém tác phong, làm mất trật tự phá hoại học tập”. Thật hết chỗ nói.

Tôi thủng thẳng tŕnh bầy lại các sự việc trên, và thưa với Tướng Tỵ rằng: “Buổi học tập đó Trung Tướng cũng có mặt, và nhân viên Bộ Chỉ huy Viễn Thông được cái vinh dự ngồi các hàng ghế kế ngay bên cánh trái của khu ghế dành cho Trung Tướng và Qúy vị phục vụ trong văn pḥng Trung Tướng và Tướng Tham Mưu trưởng, nếu Tôi làm huyên náo mất trật tự hẳn là Trung Tướng và Quư vị khác đă thấy ngay, làm sao tránh được. Nhất là chung quanh các khu ghế đều có Quân Cảnh đứng canh nghiêm ngặt. Nếu Tôi làm bậy gây mất trật tự, chắc chắn đă bị Quân Cảnh giữ và tŕnh lên Trung Tướng ngay, đâu phải đợi tới mấy tuần sau mới có thư tố cáo gửi đến tay Trung Tướng.”  Rồi, lợi dụng dịp này Tôi tŕnh bầy để ông biết luôn về việc, một tháng trước Tướng Đôn Tham mưu trưởng cũng gọi Tôi lên gặp, v́ người ta đă gửi thư đến vu cáo là Tôi nói xấu ông ấy tại Câu lạc bộ Sĩ quan, nơi mà Tôi chưa bao giờ tạt ngang chứ nói chi đến việc vào ăn uống ở trong đó.

Nghe xong, Tướng Tỵ khuyên: “Từ nay phải cẩn thận, thư tố cáo gửi đến Tôi th́ không sao. Nếu lỡ thư tới tay Tổng Thống th́ anh nghĩ làm sao?” Tôi thưa: “Trước đây, Tôi đă từng có thời gian phục vụ bên Trung Tướng tại Tham mưu Biệt bộ Bộ Quốc pḥng, từ hồi Tôi mới ở Pháp về. Chắc Trung Tướng biết rơ tính t́nh của Tôi. Nếu chẳng may Tổng Thống có hỏi, xin Trung Tướng tŕnh bầy giùm. Nếu không xong th́ Tôi đành chịu hàm oan chớ biết làm sao. Chắc kỳ này Tôi phải nộp đơn xin Trung Tướng cho Tôi ra khỏi Truyền Tin, để phục vụ tại một đơn vị Bộ Binh nào đó là hơn.” Tướng Tỵ nói: “Được rồi, về nói với Trung tá Khương lo mà làm kỹ thuật, chứ cứ làm chính trị như vầy người nào cũng xin ra hết th́ lấy ai làm việc!”

Tôi chào và rời văn pḥng Tổng Tham mưu trưởng trở về Bộ Chỉ huy, kể lại mọi việc cho anh Khương nghe, và nói: “Ngày mai Tôi sẽ nộp đơn, xin anh ghi ư kiến thuận, và chuyển lên cho Tôi ra khỏi Binh chủng TT. Tôi không thể tiếp tục làm việc trong t́nh trạng như thế này nữa, rất nguy hiểm cho Tôi.” Anh Khương khuyên Tôi bớt giận, để anh ấy tính lại.

Sáng hôm sau, Tôi cầm đơn sang văn pḥng anh Khương, nhưng anh ấy không có mặt v́ mới được Trung Tướng Tổng Tham Mưu trưởng kêu lên gặp. Tôi phải đợi đến ngày hôm sau, anh Khương mời Tôi sang, và đề nghị: “Liên Trường Vơ khoa Thủ Đức sẽ được thành lập trong năm nay. Các Khoa chuyên môn Binh chủng đang thuộc thành phần tổ chức của Trường Sĩ quan Trừ Bị trong hiện tại, sẽ được tách ra lập thành Trường chuyên môn riêng cho từng Binh chủng. Khoa TT hiện tại của Trường Sĩ quan Trừ Bị sẽ biến thành Trường Truyền Tin. Vậy Tôi đề nghị anh chịu khó xa nhà ít lâu, đi học 2 khoá TT liên tiếp tại Fort Monmouth bên Hoa Kỳ (Khoá Sĩ quan TT cao cấp, và Khoá Sĩ quan Tiếp liệu Bảo tŕ Vật liệu TT). Năm tới trở về, Tôi sẽ tŕnh bổ nhiệm anh làm Giám đốc Trường TT, trong hệ thống của Liên Trường thuộc Tổng cục Quân Huấn, như vậy không một ai c̣n có thể đụng chạm đến anh nữa. Hôm qua, Trung Tướng Tổng Tham Mưu trưởng gọi Tôi lên hỏi: “bộ Anh đánh anh em dưới quyền giữ lắm hay sao mà ai cũng muốn xin ra khỏi Binh chủng vậy?”. Để tránh cho Binh chủng những tăm tiếng không thuận lợi này, Tôi đề nghị anh ở lại trong Binh chủng, anh em ḿnh hỗ trợ nhau xây dựng cho Binh chủng ngày một tốt hơn.”

Sau một thoáng suy nghĩ, Tôi cũng muốn có cơ hội sang thăm nước Hoa Kỳ, học hỏi về tổ chức TT của Quân đội Hoa Kỳ, cũng như t́m hiểu thêm về xă hội Hoa Kỳ xem nó khác với xă hội Âu Châu như thế nào, nên bằng ḷng nhận lời đề nghị của anh Khương. Anh Đại úy Lư Thái Vượng, Phó của Tôi đă có lệnh giải ngũ nên Tôi chuẩn bị bàn giao Pḥng Mật Mă Trung Ương lại cho anh Đại Úy Trương văn Tàng. Tôi được đề cử theo học một khoá Anh văn Thực hành Cấp tốc, tại Trường Sinh ngữ Việt Mỹ (VAA = Vietnamese American Associaton) tại khu Bàn Cờ Saigon. Sau này trường VAA được khuếch trương lớn hơn, trường sở rất đồ sộ được xây dựng tại đường Mạc Định Chi thuộc Quận I, Saigon.

Tôi được học chung một khoá Anh văn Thực hành với rất nhiều sĩ quan mọi cấp, thuộc mọi Binh chủng Nha Sở và Bộ binh, cũng sắp được gửi đi tu nghiệp bên Hoa Kỳ. Trường chia ra thành nhiều lớp sáng và chiều. Mỗi lớp học chỉ gồm 12 học viên, do một Giáo sư người ngoại quốc phụ trách hướng dẫn riêng. Lớp của Tôi do Bà Hà văn Vượng (người Anh) hướng dẫn. Mỗi cuối tuần đều có giờ thi trắc nghiệm, xếp hạng để kiểm tra mức độ tiến triển của từng học viên. Sau 3 tháng, lễ măn khoá trao bằng tốt nghiệp, được tổ chức tại Pḥng Hội lớn của Trung tâm Hành quân Bộ TTM, dưới quyền chủ tọa của Tướng Tổng Tham Mưu trưởng với sự hiện của các Trưởng nhiệm sở trong Bộ TTM và các Cố vấn Hoa Kỳ cùng tham dự.

Khoảng tháng 8-1957, Tôi và các bạn sắp đi học khoá Truyền Tin tại Fort Monmouth, ở Tiểu bang New Jersey, Hoa Kỳ, được đưa đi làm thủ tục, may cắt mỗi người 1 bộ lễ phục mùa Hè và 1 bộ lễ phục mùa Đông cùng với áo choàng nỉ dài, đồng thời cũng được may (trả tiền riêng với giá rẻ hơn ngoài phố) một bộ âu phục nỉ mầu xanh nước biển xậm nếu ai muốn. Chúng tôi không phải qua kỳ thi trắc nghiệm anh văn, v́ các khoá học mà chúng tôi sẽ tham dự, đă dự trù có thông dịch viên phụ giúp các Huấn luyện viên trong giờ học.

Các bạn cùng đi học 2 Khoá Truyền Tin một lượt với Tôi gồm 12 người, thuộc cả bên khai thác lẫn bên Tiếp liệu Sửa chữa. Bên khai thác có Nguyễn văn Lành, Nguyễn như Hổ, Nguyễn Đ́nh Hoà, Tôn Thất Tâm, Chu văn Trung, Ngô văn Doanh, Vơ Tấn Ngải, và Tôi. Bên Tiếp liệu có Vũ Xuân Hoài, Phạm Xuân Mai, Nguyễn Đ́nh Thế, và Robert Việt. 

                                                

 

 
Nguyễn Huy Hùng; HỒI KƯ DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN