[Bài Viết - Article]
                                                                               

 

 

HỒI KƯ

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN

 

 

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


***

 DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 10.

 

CHUYẾN DU HỌC THÍCH THÚ TẠI TRƯỜNG TRUYỀN TIN LỤC QUÂN HOA KỲ, FORT MONMOUTH, TIỂU BANG NEW JERSEY BÊN BỜ ĐẠI TÂY DƯƠNG, MIỀN ĐÔNG HOA KỲ.  

 

 

 

Nhân dịp Ái hữu Truyền Tin họp mặt Xuân Nhâm Ngọ 2002, Bồ câu Nguyễn Bế Hội trưởng đại diện Hội Ái Hữu Truyền Tin tặng tấm plaque quà mừng thọ cho Bồ câu Nguyễn-Huy Hùng, và bó hoa kỷ niệm cho phu nhân Nguyễn-Huy Hùng, cùng lượt với một số bồ câu khác thuộc loại tuổi “THẤT THẬP CỔ LAI HY”.

 

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 10.

 

CHUYẾN DU HỌC THÍCH THÚ TẠI TRƯỜNG TRUYỀN TIN LỤC QUÂN HOA KỲ,

FORT MONMOUTH, TIỂU BANG NEW JERSEY BÊN BỜ ĐẠI TÂY DƯƠNG,

 MIỀN ĐÔNG HOA KỲ.  

 

 Khoảng cuối tháng 9 năm 1957, chúng tôi gồm 12 Sĩ quan (8 người bên Khai thác và 4 người bên Tiếp liệu) được Pḥng Huấn luyện MACV gọi tŕnh diện làm thủ tục lên đường sang Hoa Kỳ theo học 2 Khoá Truyền Tin liên tiếp (Khoá Sĩ quan Truyền Tin Cao cấp, và Khoá Tiếp liệu Bảo tŕ vật liệu Truyền Tin cấp Chiến trường) tại Trường Truyền Tin Lục quân Hoa Kỳ ở Fort Monmouth, Tiểu bang New Jersey, bên bờ Đại Tây Dương miền Đông Hoa Kỳ. Chúng tôi không phải qua kỳ sát hạch Anh văn, v́ chương tŕnh các Khoá học có dự trù thời gian xử dụng thông dịch viên.

Tôi là người duy nhất mang cấp bậc Thiếu Tá nên được đề cử làm Trưởng đoàn phối hợp anh em trong khi di chuyển. Đi đường chúng tôi mặc quân phục nỉ mầu xanh olive xậm bốn túi, mũ casquette đồng mầu với quần áo, và khoác thêm áo choàng dài ba phần tư (trois quart) cũng bằng nỉ dùng cho mùa Đông. Ngoài quần áo dân sự, chúng tôi phải mang theo đồng phục kaki để dùng trong mùa Hè, v́ thời gian học kéo dài tới tháng 5 năm 1998 mới chấm dứt.

Chúng tôi đi bằng máy bay của một hăng hàng không dân sự Hoa Kỳ (không nhớ tên, h́nh như TWA) kư hợp đồng vận chuyển nhân sự cho quân đội Hoa Kỳ, rời phi cảng Tân Sơn Nhất Saigon vào buổi sáng. Nhờ thế trên máy bay có chiêu đăi viên cung cấp thức ăn và nước uống cho hành khách, chớ không phải mua thực phẩm hộp như di chuyển trên các máy bay vận tải của hệ thống chuyển vận quân đội.

Chiếc máy bay đưa chúng tôi đi, từ Bangkok Thái Lan ghé Tân Sơn Nhất Saigon lấy thêm khách là chúng tôi. Trên chuyến bay, ngoài những hành khách quân sự Hoa Kỳ và thân quyến, c̣n có một toán sĩ quan Thái Lan cũng mặc quân phục mùa Đông như chúng tôi, do một Đại Tá làm trưởng đoàn.

Một chuyện vui kỳ thú đă xẩy ra, làm Tôi chẳng bao giờ quên được, khi máy bay đáp xuống phi trường quân sự trên đảo Guam vào lúc nửa khuya cùng ngày. Sau khi máy bay đáp xuống, rời đường bay vào ngừng lại tại bến đậu, mở cửa bên hông, và chiếc thang xuống máy bay được đẩy sát tới cửa, th́ thấy một Hạ sĩ quan Hoa Kỳ mặc quân phục làm việc mầu kaki lên máy bay. Anh ta đi tới đi lui rồi tự nhiên đến trước mặt Tôi, nghiêm chỉnh dơ tay chào và mời Tôi làm khách Danh Dự xuống trước mọi người. Tôi đang ngạc nhiên chưa biết phải làm ǵ, th́ các anh Đại úy Vũ Xuân Hoài và Phạm Xuân Mai ngồi kế bên Tôi, hối: “Major được mời là khách Danh Dự xuống trước, Major đi theo anh ta xuống trước đi!”

Từ cửa máy bay bước xuống hết cầu thang, đi được thêm mươi thước, có một Trung úy đang đứng nghiêm đợi chào Tôi, rồi chỉ tay hướng dẫn Tôi vào Pḥng Danh Dự của phi cảng để kư tên lưu niệm vào Sổ Vàng dành cho các khách Danh Dự đặt chân lên đảo Guam. Xong thủ tục anh ta dẫn Tôi qua pḥng giải khát, thấy mọi người cùng đi đang có mặt tại đó. Tôi đến cùng mọi người, và kể cho anh em nghe câu truyện vừa xẩy ra với Tôi từ sau khi xuống máy bay.

Đến giờ loa phóng thanh mời hành khách ra cửa lên máy bay đi tiếp, viên Trung úy lúc năy đến mời ông Đại Tá Thái Lan ra lên máy bay trước mọi người, chứ không mời Tôi ra trước như lúc xuống máy bay. Lúc đó Tôi mới vỡ nhẽ và cười thầm trong bụng, nhận ra rằng ḿnh đă được mời lầm v́ chiếc mũ caskette đội trên đầu. Cái lưỡi trai của mũ casquette dành cho sĩ quan cấp Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà và cấp Tá Quân đội Hoa Kỳ đều có thêu 2 nhành nguyệt quế kim tuyến, nhưng quân đội Thái Lan th́ không. Cái lưỡi trai mũ casquette của sĩ quan cấp Úy và cấp Tá Thái Lan để trơn như nhau không thêu ǵ cả. Do đó khi anh Hạ sĩ quan lên máy bay t́m trong số sĩ quan người Á Đông, thấy Tôi đội mũ casquette có lưỡi trai thêu 2 nhành Nguyệt quế kim tuyến th́ yên chí Tôi là người có cấp bậc cao nhất trong chuyến bay, nên  trịnh trọng chào và mời xuống. Đến khi Tôi kư tên trên Sổ Vàng dành cho khách Danh Dự của Phi cảng với danh bậc Major NGUYỄN-HUY HÙNG Republic of Viet Nam Armed Forces, anh Trung Úy mới biết không phải là ông Đại Tá Thái Lan ghi trên bản danh sách khách du hành trên chuyến bay, nên anh ta đă đi t́m và gặp được ông Đại Tá Thái Lan để mời lên máy bay trước mọi người với tư cách là khách Danh Dự của phi trường thuộc Căn Cứ Quân đội Hoa Kỳ tại đảo Guam.

Thật đúng là dịp hên “ngàn năm một thuở” trong đời binh nghiệp của Tôi. Nhưng lại là cái không may cho anh Hạ sĩ quan Hoa Kỳ trực đêm hôm ấy, chắc chắn sẽ bị quở phạt v́ tội không chu toàn trách nhiệm, nếu ông Đại Tá Thái Lan biết ra và gửi thư phiền trách. Nhưng theo suy nghĩ của Tôi, chắc chắn ông Đại Tá Thái Lan không nghĩ ra, hoặc có hiểu ra th́ cũng chẳng muốn làm cái việc gửi thư than phiền không thi hành nghiêm chỉnh quy lệ ngoại giao địa phương ấy làm ǵ.

Trạm dừng chân kế theo của chuyến bay là phi trường quốc tế Honolulu, trên đảo O’AHU thuộc Tiểu bang Hawaii Hoa Kỳ. Phi cơ chúng tôi đáp xuống đây vào khoảng gần nửa đêm ngày hôm sau, nghỉ 2 tiếng đồng hồ để chờ đổi máy bay khác đi tiếp vào lục địa Hoa Kỳ. Khung cảnh phi cảng đẹp vô cùng, thời khí mát mẻ trong lành, nhà ga phi cảng rộng thênh thang khang trang sáng sủa tân kỳ, có nhà hàng ăn uống bán đồ tặng phẩm như một siêu thị nhỏ. Trong khi chờ đợi, các anh Phạm Xuân Mai, Vũ Xuân Hoài và Tôi, lảng vảng đi đến trước thềm cửa ra vào phi cảng để ngắm cảnh, gặp mấy cô gái thổ dân Hawaii mặc xiêm lá nhiều mầu đẹp mắt, cười hỏi chúng tôi mới từ Viễn Đông tới à, chúng tôi gật đầu và các cô ấy choàng vào cổ cho một dây hoa lài trắng toát thơm ngát, miệng nói “Welcome to Honolulu”. Chúng tôi gật đầu cười nói cám ơn rồi đi vào nhà hàng giải khát gọi nước uống. Thật là một thông tục hiếu khách rất nồng hậu, thảo nào người ta nói quần đảo Hawaii của Liên Bang Hoa Kỳ là Thiên đường Hạ giới, ai cũng nao nức được có dịp du lịch vui hưởng ít ngày cho thoả thích.

Trong lúc ngồi gọi nước uống chúng tôi quan sát thấy các cô gái lại choàng hoa vào cổ một người da trắng, ông này móc túi đưa cho các cô ấy tiền (chẳng biết bao nhiêu). Thấy cảnh đó chúng tôi chợt giật ḿnh, định ra gặp các cô ấy để tặng tiền, nhưng suy đi nghĩ lại sợ mắc cỡ nên thôi.

Sau này, trong thời gian học, vào cuối tuần lễ nghỉ đi chơi dọc phố trong khu Times square Plaza ở thành phố New York, thấy có mấy cô xinh xinh đang độ tuổi nữ sinh Trung học đứng trên lề phố chào khách bộ hành qua lại, trước ngực các cô đeo tấm bảng nhỏ ghi chữ “Kiss me!” và tay cằm hộp quyên tiền ghi tên tổ chức xă hội thiện nguyện. Thấy có người ôm hôn rồi bỏ tiền vào thùng, có người cho tiền nhưng không hôn. Lúc đó Tôi mới hiểu ra rằng, việc làm này cũng giống như việc choàng dây hoa của các cô ở phi trường Honolulu, đều nhằm mục đích quyên tiền giúp các cơ sở xă hội thiện nguyện tư nhân, để tiếp tay giúp đỡ những người không may nhất thời gặp phải hoàn cảnh hoạn nạn túng thiếu không nơi cư trú. Bây giờ là công dân Hoa Kỳ cư ngụ thường trực trên đất Mỹ, hàng ngày Tôi thường nhận được những thư quyên tiền của nhiều tổ chức xă hội thiện nguyện khác nhau gửi đến tận nhà, mặc dù ḿnh chẳng quen biết ai làm ở những tổ chức này cả.

Ngồi gọi nước giải khát tại phi cảng Honolulu, Tôi bị hố một cái buồn cười tức cả bụng. Tôi muốn ăn nho tươi, nh́n trong bảng liệt kê trái cây không thấy raisin hay grape, mà chỉ có grape fruit, nghĩ rằng là nho nên gọi grape fruit. Đến lúc người hầu bàn mang ra một đĩa đựng trái chấp (giống như bưởi) cắt đôi, với chiếc muổng để múc ăn, mới biết là ḿnh đoán nhầm. Chua ôi là chua, lỡ kêu rồi đành phải rắc muối lên múc ăn hết cho đỡ tiếc 1 Đô La chớ phải ít đâu!

Lên máy bay rời Honolulu, sau nhiều giờ bay chúng tôi đáp xuống phi trường quốc tế San Francisco vào một buổi chiều thứ Sáu. Có nhân viên tiếp vận Quân đội Hoa Kỳ đợi đón đưa chúng tôi về trung tâm chuyển vận trong khu Presidio, đóng tiền pḥng nghỉ 3 ngày tại BOQ dành cho sĩ quan, đợi làm thủ tục giấy tờ đi tiếp qua Fort Mounmouth, New Jersey bằng phương tiện xe hoả.

Sáng hôm sau là ngày Thứ Bẩy, chúng tôi sang Câu lạc bộ (Day room) hỏi thăm đường ra phố chơi, th́ may sao gặp ngay anh Trung Úy Vơ Xum, trước cùng làm việc tại Bộ Chỉ huy Viễn Thông với Tôi trong những năm đầu Thập niên 1950, sau được thuyên chuyển qua Truyền Tin tại Bộ Tư lệnh Hải quân, nay đang học về Truyền Tin tại Căn Cứ Hải quân bên Treasure Island, t́m đến thăm mừng chúng tôi mới đến. Anh ấy có xe riêng to rộng đủ chỗ cho 4 hành khách, nên rủ các anh Hoài, Mai, Hổ và Tôi xuống phố Tầu (China town) ăn ḿ rồi sang thăm Căn Cứ Hải quân nơi anh ấy đang học.

San Francisco là một thành phố xây trên đồi núi, nên các đường phố dốc gần như thẳng đứng, khi đậu xe phải bẻ quặt 2 bánh trước móc vào vỉa xi măng bên lề đường để giữ cho xe không bị trôi tuột xuống dốc. Đường phố khu China town cũng hẹp, nhà san sát y như ở Chợ Lớn Saigon vậy, chỉ khác là có nhiều tầng cao, và tầng hầm thường là những tiệm ăn b́nh dân, giá bán rẻ hơn những nhà hàng ăn trên mặt đường. Tô ḿ to gấp đôi tô phở xe lửa tại Saigon, vừa nhiều ḿ nhiều thịt đủ thay cho bữa cơm người ăn khoẻ, giá 75 xu. Nếu 5 người gọi món ăn chung cho bữa cơm, gồm canh rau nấu thịt, rau xào thịt, cá hấp hoặc gà vịt quay làm món mặn, và đồ tráng miệng trái cây tươi, cộng thêm tiền “típ” cho hầu bàn, chia ra mỗi người chỉ phải góp khoảng 1 Đô la 50 xu đến 2 Đô La là nhiều. Nếu cũng gọi món ăn cơm chung như vậy trong các nhà hàng trên mặt đường, ít nhất mỗi người cũng phải tốn 5 Đô La.

Sau khi ăn sáng, anh Xum chở chúng tôi qua cầu treo Bay Bridge dài cả chục dặm, băng ngang vịnh San Francisco nối liền San Francisco và Oakland. Cầu treo cao có hai tầng cho xe qua lại 2 chiều riêng biệt, bề ngang mặt cầu có vạch sơn trắng phân ra nhiều đường xe chạy song song. Cầu được bắc ngang qua Treasure Island (nằm ở giữa vịnh) nên chúng tôi chỉ phải chạy hơn nửa chiều dài cầu th́ có đường rẽ dẫn xuống đảo. Ở khúc này có chỗ cho xe đậu lại ngắm cảnh, nên chúng tôi xuống xe nh́n quang cảnh vịnh và các thành phố dọc dài 2 bên bờ vịnh. Nhất là nh́n về hướng cửa biển, có chiếc cầu treo khác chỉ dài khoảng hơn 2 miles gọi là Golden Gate Bridge, dưới ánh sáng trong của mặt trời đang lên ngang vai, cảnh vịnh bao quát với những chiếc tầu và thuyền buồm mầu sắc sặc sỡ nhẹ nhàng lướt sóng, đẹp như một bức tranh hấp dẫn vô cùng.

Vào buồi chiều trước khi vào tiệm ăn cơm tối, chúng tôi tản bộ dọc Columbus Avenue, đến góc đường Broadway gặp một người da trắng trông có vẻ hung hăng giận dữ chặn chúng tôi và nói một thôi những ǵ không ai hiểu anh ta muốn nói ǵ, chỉ nghe được tiếng Pearl Harbor. Mọi người đang lúng túng chưa biết xử trí ra sao, th́ may sao anh Xum chờ tới đối đáp với anh kia. Sau vài câu trao đổi anh ta bỏ đi. Lúc đó anh Xum mới giải thích cho chúng tôi biết rằng anh kia ngỡ chúng tôi là người Nhật, nên muốn nhắc chuyện quân Nhật đánh Pearl Harbor ra gây sự. Anh Xum đă giải thích cho anh ấy biết chúng tôi là người Việt Nam từ Đông Dương qua, không phải người Nhật nên anh ta xin lỗi bỏ đi. Nếu không có anh Xum, th́ chẳng biết truyện ǵ đă có thể xẩy ra v́ ngôn ngữ bất đồng không hiểu nhau.

Chiều Thứ Hai chúng tôi lên tầu hoả đi sang miền Đông Hoa Kỳ theo “Tuyến Bắc”, đến Chicago phải đổi sang tầu khác đi đến ga Red Bank thuộc hạt Monmouth Tiểu bang New Jersey. Hệ thống chuyển vận xe lửa xuyên Lục địa Hoa Kỳ được chia thành 2 tuyến, “Tuyến Bắc”(North bound) chạy ṿng băng ngang các Tiểu bang phiá Bắc, và “Tuyến Nam” (South bound) ṿng băng ngang các Tiểu bang phiá Nam. Tầu chạy liên tục suốt đêm ngày. Chúng tôi được cấp vé đi hạng nhất có giường ngủ, lúc nào đói chỉ việc t́m đến toa hàng ăn bán suốt 24 giờ. Ban ngày muốn xem phong cảnh 2 bên đường, th́ đến toa có ṿm kính cao hơn các toa thường, ngồi ghế nệm hút thuốc đọc sách ngắm cảnh thoải mái. Tầu tới trạm ga trung ương Chicago vào một buổi sáng, chúng tôi phải mang hành lư xuống vào pḥng đợi cả 4 tiếng đồng hồ sau mới lên chuyến khác đi tiếp cuộc hành tŕnh. Chúng tôi gửi vali hành lư vào một ngăn tủ sắt phải trả tiền, rồi giắt nhau đi quan sát các cơ sở thương mại.

Chúng tôi đi quanh xem các cửa hàng ăn uống, bán kỷ vật, quần áo, sách báo, pḥng hớt tóc (beauty salon)… trong nhà ga rộng lớn gồm 2 tầng ngầm dưới đất như một siêu thị. Đặc biệt có những chỗ đánh bóng giầy thuê làm chúng tôi ngạc nhiên. Khi khách ngồi lên chiếc ghế bành to tướng có chỗ tựa tay như ghế văn pḥng, anh da đen đạp đạp bơm cho ghế cao lên ngang mặt để anh ta đứng thẳng lưng đánh giầy, chớ không ngồi chồm hổm xuống đất cho khách kê chân lên hộp đồ nghề như các em đánh giầy bên Việt Nam. Khi lên đến tầng trên mặt đất, t́m ra khu trước cửa ga nh́n phố xá xe người qua lại tấp nập, thấy đă có tuyết rơi phủ trắng mặt đường. Thời khí làm chúng tôi tê mặt lạnh cóng chân tay, vậy mà những người địa phương mua cà rem ăn ngon lành, như chúng ta thường ăn vào mùa hè tại Việt Nam vậy.

Tầu rời Chicago vào lúc xế chiều, phăng phăng chạy tiếp qua đêm, đến chiều hôm sau tới ga Red Bank. Chúng tôi xuống tầu đang đảo mắt t́m người để hỏi thăm đường về trường Truyền Tin, th́ thấy một sĩ quan Hoa kỳ và 2 sĩ quan Việt Nam (Trung úy Trường, Thiếu úy Thông thông dịch viên), từ trong nhà ga bước ra chào mừng đón chúng tôi. Có xe bus đưa chúng tôi về Fort Monmouth, chạy đến khu hành chánh để làm thủ tục đóng tiền thuê pḥng ngủ trong BOQ dành cho khoá sinh, nhận tập hồ sơ hướng dẫn các thủ tục khác về chương tŕnh hàng ngày và các cơ sở sinh hoạt cung cấp tiện nghi phục vụ khoá sinh trong trường.

Bẩy anh Đại úy và Tôi được cấp 3 pḥng trên lầu một BOQ, ở chung với một số Đại úy khoá sinh người Hoa Kỳ và Đồng minh đang theo học các khoá khác. Anh Đại úy Phạm Xuân Mai và Tôi được xếp ngủ chung pḥng dành cho 2 người. Anh Nguyễn văn Lành và Vơ Tấn Ngải ngủ chung một pḥng. C̣n 4 anh Vũ Xuân Hoài, Nguyễn Như Hổ, Nguyễn Đ́nh Thế, Ngô văn Doanh ở chung pḥng dành cho 4 người. Mấy anh Nguyễn Đ́nh Hoà, Tôn Thất Tâm, Chu văn Trung, và Robert Việt ở chung trong BOQ có mấy sĩ quan thông dịch viên Việt Nam, cách BOQ của chúng tôi bởi một băi đậu cả trăm chiếc xe hơi riêng của khoá sinh và thông dịch viên.

Sáng hôm sau chúng tôi được dẫn đến tập trung tại một pḥng học trong khu Myer Hall. Đại tá Giám đốc huấn luyện đại diện Tướng Chỉ huy trưởng Trường tới ngỏ lời chào mừng, giới thiệu một Trung úy Hoa Kỳ làm sĩ quan liên lạc giữa chúng tôi và nhà trường, rồi thuyết tŕnh tổng lược về các khoá học mà chúng tôi sẽ thụ huấn trong những ngày kế tiếp. Chúng tôi cũng được thông báo cho biết là đang có 2 khoá khác gồm toàn sĩ quan cấp Úy Truyền Tin Việt Nam đang theo học tại Trường, như vậy tổng số sĩ quan Việt Nam được khoảng 50 người. Sau đó, sĩ quan liên lạc dẫn chúng tôi đi thăm các pḥng học và các văn pḥng hành chánh trong Myer Hall, rồi ra xe bus đi thăm viếng làm quen với tất cả các cơ sở hành chánh, siêu thị, nhà bank, nhà bưu điện, các câu lạc bộ, nhà hát và khu giải trí khác dành phục vụ cho toàn thể khoá sinh, và nhân viên làm việc tại Fort Monmouth cùng thân nhân của họ đang cư ngụ trong lănh thổ của Fort hay ở nhà riêng quanh vùng lân cận.

Một tuần lễ sau ngày khai giảng khoá học, chúng tôi và một số sĩ quan Đồng minh khoá sinh đang theo học một khoá khác, được hướng dẫn đến văn pḥng Trung Tướng Chỉ huy Trưởng Fort Monmouth, và Thiếu Tướng Chỉ huy trưởng Trường Truyền Tin, để thực hiện cuộc thăm chào xă giao chính thức theo thông lệ đă quy định. Nhân dịp thăm chào Thiếu Tướng Chỉ huy trưởng Trường, chúng tôi được đưa thăm viếng luôn khu huấn luyện sửa chữa các loại máy đo điện tử, faximile, máy quay phim, máy chiếu phim, và máy Vô tuyến truyền h́nh, ở trong cùng khu vực đặt văn pḥng Thiếu Tướng Chỉ huy trưởng Trường Truyền Tin, nơi gần cổng phiá Đông vào Fort Monmouth. Tại khu này đang có mấy sĩ quan khoá sinh Việt Nam thuộc Binh chủng Truyền Tin theo học.

Trước khi đi du học Hoa Kỳ, Tôi đă được theo học một khoá Anh ngữ Thực hành 3 tháng tại Trường Sinh ngữ Vietnamese American Association tại Saigon, do toàn giáo sư Hoa Kỳ, Anh (England), và Úc Đại Lợi (Australia) chỉ dạy, nhưng chẳng giúp cho Tôi  được bao nhiêu. V́ Bà giáo chuyên trách dạy lớp Tôi học là người gốc Anh chính tông (Bà vợ ông Hà văn Vượng), âm ngữ nhịp điệu phát ra thuần túy Anh Cát Lợi, nên khi nghe các giảng viên Hoa Kỳ nói tiếng Anh theo giọng nhịp Mỹ lại nuốt vần nhiều quá, nên gặp khó khăn trong tháng đầu của học tŕnh. May nhờ có các Thông dịch viên được chia nhau mỗi người chuyên trách về một môn riêng trong chương tŕnh, nên giúp ích chúng tôi rất nhiều trong tháng học đầu.

Qua tháng thứ 2, chương tŕnh phối hợp nhiều môn căn bản lại với nhau, thông dịch viên hơi bị lúng túng v́ nhiều từ kỹ thuật thuộc môn khác không am tường, may mà chúng tôi đă quen nghe quen nói theo âm điệu của các Huấn luyện viên, nên tự đối đáp thẳng với huấn luyện viên không cần tới thông dịch viên nữa. Do đó số giờ học theo chương tŕnh chỉ dùng hết có phân nửa. Chẳng hạn bài học dự trù giảng dạy có thông dịch viên phải mất 4 tiếng đồng hồ, nay v́ huấn luyện viên và khoá sinh trao đổi thẳng không phải qua thông dịch viên nên chỉ cần có 2 giờ, c̣n 2 giờ dư Huấn luyện viên cho chúng tôi về nghỉ (free time). Do đó anh em yêu cầu Tôi đề nghị với sĩ quan liên lạc của khoá, tŕnh lên Giám đốc Huấn luyện xin xếp lại chương tŕnh để dồn các giờ trống vào một ngày nào đó, và hoạch định cho chúng tôi những cuộc thăm viếng các cơ sở giáo dục Đại học, các cơ xưởng sản xuất lớn, các trung tâm cung cấp dịch vụ thông tin liên lạc cho quảng đại quần chúng, các toà soạn, nhà in, phát hành sách báo, và các trại chăn nuôi trồng tiả theo lối công nghiệp… để t́m hiểu và học hỏi kinh nghiệm hoạt động kinh tế của xă hội Hoa Kỳ, ḥng mang về khai triển tại Việt Nam. Chúng tôi bằng ḷng tự đóng góp tiền để chi trả tổn phí thuê xe vận chuyển đi thăm viếng.

Đề nghị của chúng tôi xét thấy hợp lư, nên nhà trường đă duyệt lại chương tŕnh dồn giờ và tổ chức cho chúng tôi đi thăm rất nhiều nơi, không có dự trù trong chương tŕnh căn bản của khoá học. Chúng tôi được đưa đi thăm viếng chung với khoảng mươi sĩ quan Đồng minh khác đang theo học tại trường. Nhà trường cung cấp xe bus chuyển vận miễn phí, và cho ông Trung úy liên lạc của Khoá tăng cường thêm một Thiếu úy nữa đi theo hướng dẫn chúng tôi. Ngoài ra, mỗi ngày đi xuất du thăm viếng ngoài trường như vậy, mỗi người được lănh “perdiem” $7 ĐôLa thay v́ $5 ĐôLa như thường lệ. Nhưng giờ ăn trưa chúng tôi được dẫn đến dùng bữa tại nhà hàng ăn hạng nhất, giá thực phẩm cung cấp cũng đắt hơn nơi b́nh dân, hoá nên đâu cũng hoàn đó.

Theo chương tŕnh chính của khoá học, chỉ dự trù cho chúng tôi đi thăm có 2 nơi:  Kho Truyền Tin Tobyhanna ở Tiểu bang Pennsylvania, và Trung tâm sản xuất phim ảnh Quân đội tại Newark gần New York mà thôi. Nay nhờ thay đổi thời lượng các bài học, chúng tôi được đưa đi thăm thêm nhiều nơi khác rất hấp dẫn sau đây: -Trường Đại học Rutgers ngay gần trường; -Cơ sở hành chánh và Trung tâm Tổng đài điện thoại tự động rất lớn phục vụ cho cả triệu khách hàng của hăng Pacific Bell, -Toà soạn nhà in nhật báo New Jersey phát hành cả triệu bản một ngày, ở thị trấn Long Branch sát bờ biển Đại Tây Dương, cách xa trường cả mấy chục dặm đường; -Trại nuôi và gây giống ngựa đua; -Trại nuôi ḅ sữa và vắt sữa tươi, lọc bỏ bơ, đóng chai, toàn bằng dây chuyền máy tự động theo lối công nghiệp; -Xưởng lắp ráp và sơn từng chiếc xe hơi hoàn chỉnh theo dây chuyền của hăng General Motor Corporation; -Hăng Philco và xưởng sản xuất dây truyền máy thu thanh bán dẫn (radio transistor), máy Vô tuyến truyền h́nh, và Chuông Tự do (Independent Bell) tại Thành phố Philadelphia; -Trường Vơ bị Lục quân Hoa Kỳ West Point tại Tiểu bang Pennsylvania; -Công ty CAN thăm các pḥng thiết kế và xưởng sản xuất dây truyền các loại hộp kim loại dùng cho việc đóng gói các thực phẩm chín như thịt, cá, rau, trái cây, -Tượng Thần Tự do, -Toà nhà cao cả trăm tầng trụ sở Liên Hiệp quốc, -và Empire State Building tại New York.

Thời gian học hàng ngày từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa, nghỉ 1 tiếng đồng hồ dùng bữa rồi lại học tiếp đến 4 giờ chiều là hết lớp, thứ bẩy Chủ nhật nghỉ. Do đó ngoài những giờ lo “gạo và soạn bài”, chúng tôi có dư rất nhiều giờ chẳng biết làm ǵ ngoài việc sang “Day room” chơi và đi xem phim. May nhờ nhà trường có một tổ chức lo toan về tâm lư xă hội rất toàn hảo, nên đă lập ra những xưởng hướng dẫn thủ công nghiệp miễn phí. Khoá sinh nào muốn tiêu thời giờ rảnh rỗi một cách hữu ích hơn cho cá nhân ḿnh, có thể đến đó mầy ṃ học nghề không tốn tiền bằng tư liệu do xưởng cung cấp miễn phí, lại có chuyên viên rành nghề chỉ dẫn kỹ thuật. Có nhiều loại xưởng hướng dẫn các nghề khác nhau: làm đồ mộc, rửa phim in ảnh, sửa chữa máy móc,…

Các anh thông dịch viên làm việc tại trường theo mỗi hạn kỳ là 2 năm, nên mỗi người đều t́m cho ḿnh một thú tiêu khiển riêng ngoài giờ làm việc. Có người đi học bán thời gian các lớp học văn hoá tại trường Đại học Rutgers. Có người t́m đến các xưởng học nghề, hoặc đến khu luyện tập thể dục thể thao, bơi lội học vơ thuật. Anh Trung úy Trường thích vào hồ tắm và tập thể dục dụng cụ, để duy tŕ sức khoẻ dẻo dai và thân h́nh nẩy nở cân đối vững chắc đẹp trai. Các Thiếu úy Phượng và Thông (anh em cột chèo) th́ thích nhiếp ảnh. Thấy Tôi thích xem tranh hội họa nên rủ Tôi đến xưởng hướng dẫn về rửa phim in ảnh, xin phim đi chụp phong cảnh, rồi đem về xưởng tự thực hiện việc rửa phim, in, phóng đại, và xấy ảnh.

Các anh Phượng và Thông c̣n bỏ tiền mua máy phóng đại và các dụng cụ, hoá chất … về lập một “pḥng tối” (dark room) nhỏ ngay tại góc pḥng ngủ riêng, để trau dồi thêm tay nghề vào ban đêm. Có lần Tôi thấy các anh ấy chụp từng trang các sách hướng dẫn kỹ thuật về máy Truyền Tin trường phát cho khoá sinh tham khảo, vào những cuốn phim. Tôi thắc mắc và nhắc khéo là các tài liệu này được cung cấp cho tủ sách kỹ thuật tại các đơn vị Truyền Tin đầy đủ, việc ǵ phải chụp lỡ an ninh nhà trường thấy chắc là sẽ gặp khó khăn phiền hà, và hậu quả có thể gây khó khăn chung cho tất cả anh em trong tương lai, chớ không riêng ǵ ḿnh các anh. Các anh ấy trả lời chỉ chụp thử những loại trang khác nhau, để trau dồi khả năng kỹ thuật và rút kinh nghiệm về hiệu chỉnh ống kính và ánh sáng phù hợp cho các loại phim cùng máy chụp và khuếch đại ảnh, để khi có thời cơ được giải ngũ sẽ mở tiệm ảnh làm nghề kinh doanh.

Sau này, h́nh như vào cuối năm 1962, các anh Thông, Phượng bị An ninh Quân đội bắt v́ phát giác ra cả 2 người thuộc gốc Cán binh Cộng sản nằm vùng. Theo tin tức ghi nhận hồi đó th́, Thông và Phượng được tổ chức Việt Cộng nằm vùng lo cho theo học Trường Vơ bị Liên quân Đà lạt. Sau khi tốt nghiệp Thiếu úy, lại được lo cho đi làm thông dịch viên tại Trường Truyền Tin Fort Monmouth. Hết hạn 2 năm về nước, Thông làm việc tại Bộ Chỉ huy Viễn Thông, và Phượng được bổ nhiệm về làm Huấn luyện viên tại Trường Truyền Tin Liên trường Vơ Khoa Thủ Đức. Ít lâu sau Phượng được lo cho đổi về Trường Sinh ngữ Quân đội tại Bộ Tổng Tham mưu. Lúc họ bị bắt Tôi đang làm Cục phó cho Trung tá Vơ Đại Khôi Cục trưởng đang được Bộ Tổng Tham mưu giao cho trách nhiệm thành lập Pḥng Sáu. Đến lúc đó Tôi mới nhớ ra và hiểu rằng, hồi ở Fort Monmouth Thông và Phượng đă chụp các sách kỹ thuật máy truyền tin vào phim, không phải để trau dồi tay nghề làm phim ảnh mà để cung cấp tài liệu cho Việt Cộng.

Trong thời gian tháng 10 năm 1997, số sĩ quan Việt Nam đang theo học tại trường rất đông khoảng 50 người. Để cho các bạn Đồng Minh của Hoa Kỳ đang theo học tại trường biết đến nước Việt Nam Cộng Hoà, Tôi đă xin nhà trường cho phép tập họp tất cả mấy chục anh em Truyền Tin Việt Nam đang có mặt tại trường, bàn thảo kế hoạch tổ chức Tiếp Tân tŕnh bầy lai lịch tổ quốc Việt Nam, và ư nghĩa ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hoà 26 tháng 10. Trong buổi họp, tất cả anh em đều tán thành, và chúng tôi thoả thuận đóng góp mỗi người $5 ĐôLa để tổ chức tiệc Tiếp Tân vào buổi tối tại Câu Lạc Bộ sĩ quan của Fort Monmouth, bên khu vực sân Golf cách trường chừng mươi phút lái xe. Khách được mời là hai vị Tướng Chỉ huy trưởng Fort, Chỉ huy trưởng Trường và phu nhân, tất cả sĩ quan cao cấp và phu nhân thuộc 2 bộ tham mưu, và tất cả các sĩ quan các nước Đồng minh đang theo học trong thời gian đó. Chúng tôi mời ông Đại sứ Việt Nam Cộng hoà tại Hoa Thịnh Đốn đến chủ tọa, nhưng ông ấy đă ủy nhiệm Trung Tá Nguyễn Ngọc Khôi Tùy viên Quân sự đại diện đến tham dự.

Nhà trường rất tán thành ư kiến của chúng tôi, và giúp chúng tôi mọi phương tiện cần thiết để việc tổ chức được toàn hảo, có ban nhạc của Fort tham dự giúp vui trong bữa tiệc ăn theo lối “self serve”(tự đi lấy đồ ăn đă bầy sẵn trên bàn dài). Đặc biệt các bạn sĩ quan Đồng Minh được mời rất hân hoan tham dự, nhưng nhất định yêu cầu phải để họ được đóng góp tiền phần ăn của họ, chứ không chịu để chúng tôi gánh vác hết.

Buổi Tiếp Tân đă thành công tốt đẹp nhờ sự tích cực lo toan mẫn tiệp của 5 anh thông dịch viên là: Trung úy Trường (sau này về làm việc tại Pḥng 1 Bộ Tổng Tham mưu, trước 30-4-1975 mang cấp bậc Đại tá), các Thiếu úy Thông, Phượng và 2 Trung úy nữa, nhưng lâu quá nên Tôi không nhớ ra tên các anh ấy. Chúng tôi hy vọng các bạn Đồng minh trong Thế giới Tự do đang theo học tại trường, sau buổi Tiếp Tân đă biết rơ hơn về nước Việt Nam Cộng Hoà tại miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954. Không biết những năm kế theo, anh em theo học tại trường sau chúng tôi, có được thời cơ thuận lợi để thực hiện hay không?

Chúng tôi ăn cơm ngày 3 bữa tại Field Mess dành riêng cho khóa sinh ngay bên khu nhà ngủ. Nếu ai muốn đến ăn tại Câu Lạc bộ sĩ quan trong Fort cũng được, dĩ nhiên phải trả tiền đắt hơn Field Mess. Bữa ăn sáng tại Field Mess giá 50 xu, bữa trưa và bữa tối giá 75 xu. Nếu ăn ở Câu Lạc Bộ sĩ quan th́ mỗi bữa ăn phải tốn từ 2 đến 5 ĐôLa tùy theo món ăn ḿnh gọi.

Các anh Thiếu úy Phượng và Thông (thông dịch viên) mua được chiếc xe hơi cũ chạy cũng c̣n tốt, thường rủ anh Mai, Hoài, Thế, Hổ, Doanh, và Tôi đi ăn cơm Tầu tại Red Bank hay Eatontown, rất ngon và rẻ. Sáu người gọi các món ăn chung và chi tiền xăng cho xe, mỗi người chỉ phải góp khoảng 2 ĐôLa mỗi lần. Có khi chúng tôi rủ anh Đại úy khoá sinh người Nam Dương ở chung BOQ, đưa chúng tôi đi ăn bằng xe riêng của anh ấy. Những dịp này th́ chúng tôi trả tiền đổ xăng và bao anh ấy ăn không phải góp. Sau này vào năm 1970, Tôi là Đại Tá theo học Khoá 3 Cao đẳng Quốc pḥng Việt Nam, có dịp qua thăm viếng trao đổi kinh nghiệm với Trường Cao đẳng Quốc pḥng và Bộ Quốc pḥng chính phủ Nam Dương, Tôi có may mắn gặp lại anh ấy đă mang cấp bậc Thiếu Tướng.

Nhà trường cấm không được nấu nướng ăn trong pḥng ngủ, nhưng được phép dùng nồi điện đun sôi nước pha trà, cà phê để uống. Trong mỗi BOQ c̣n có một tủ lạnh to tướng để khoá sinh tồn trữ sữa tươi, các hộp nước giải khát, trái cây riêng để ăn dần suốt ngày đêm tùy ư. Do đó, thỉnh thoảng chúng tôi lén làm ḅ nhúng ăn vào những ngày Chúa Nhật nào không ra phố. Dĩ nhiên là phải canh chừng để khỏi bị bắt quả tang. Những dịp như vậy, chúng tôi đến Commissary vào chiều thứ bẩy, mua thịt ḅ tươi nhờ quầy dùng dao máy thái mỏng giùm, mua sà lách, hành tươi, tỏi, nước chấm Maggi, dấm, bánh ḿ ṛn (French bread), gạo hộp, cánh và mề gà sống đông lạnh, đem về cất vào tủ lạnh, sáng sớm hôm sau hiệp nhau mỗi người một việc, sửa soạn bữa chén và thanh toán cho xong trong ṿng khoảng 2 tiếng đồng hồ.

Những ngày nghỉ, ai không muốn nằm ́ trong trường để “gạo bài”, đến Day room xem TV, thụt bida, đánh bóng bàn, đá banh bàn, đi xem phim rất rẻ chỉ tốn 25 xu (toàn phim mới chưa chiếu ngoài phố), th́ có thể đi xe Bus lên New York hoặc Long Branch chơi ngắm phố buôn bán rất vui, và t́m đến các khu giải trí thắng cảnh tiêu khiển. Vé xe Bus đi từ Fort Monmouth lên New York chỉ tốn có 2 ĐôLa. Nhiều khoá sinh người Hoa Kỳ có xe riêng đi New York, họ thường đậu tại cổng Đông của Fort để chờ có ai muốn đi ké lên New York th́ chở đi chung một lượt, dĩ nhiên là phải đóng góp tiền xăng 1 ĐôLa cho mỗi người.

Mỗi khi lên New York, chúng tôi thường đến thuê pḥng ngủ tại Coulidge Hotel ở Fifth Avenue, gần khu Times Square Plaza, Manhattan, do nhà trường giới thiệu, vừa rẻ sạch sẽ thoải mái, từ pḥng riêng khách có thể nhấc điện thoại liên lạc với nhân viên tổng đài tại văn pḥng Hotel kêu “call girl” nếu muốn, và an ninh cá nhân được bảo đảm không sợ kẻ lưu manh xâm nhập pḥng quấy rầy.

Vào dịp Noel 1957 và đầu năm Dương lịch 1958 được nghỉ cả chục ngày, các anh Thiếu úy Phượng và Thông thông dịch viên rủ các anh Mai. Thế, Hổ và Tôi góp tiền xăng cùng đi bằng xe riêng đến thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Sáng sớm lên đường xẩm tối th́ tới nơi. Chúng tôi chỉ ở Hoa Thịnh Đốn có 2 đêm 1 ngày, nên không đi thăm được nhiều nơi. Chúng tôi chỉ đủ th́ giờ đến thăm Nghiă trang Arlington, Đài kỷ niệm các cố Tổng Thống Washington, Jefferson, Abraham Lincoln rồi phải trở về Trường ngay, v́ chương tŕnh TV loan báo các bản tin thời tiết dự đoán là băo tuyết có thể đến trong vài ngày kế theo.

Mùa Đông năm Tôi theo học tại Fort Monmouth có băo tuyết thật lớn. Chỉ qua có một đêm, mà tuyết đổ xuống nhiều đến nỗi phủ ngập đến ngang mui các xe đang đậu trong băi. Giờ đi ăn cơm chúng tôi phải lội tuyết dầy ngập cao tới đầu gối. Nhà trường đóng cửa 2 ngày không hoạt động, v́ trở ngại lưu thông ngoài đường phố nhân viên không đi làm được. Người địa phương nói rằng từ nhiều năm nay mới có lần băo tuyết lớn như vậy. Có lẽ tại cái số của Tôi vất vả “đi đâu chết trâu đó” như các Cụ thường nói chăng! Hồi du học bên Pháp, vào cuối năm 1950 Tôi cũng bị gặp trận băo tuyết rất lớn, trường học cũng phải đóng cửa không hoạt động trong 2 ngày liền.

Tháng 4 nắng đẹp, chung quanh công viên trước Bản doanh của Bộ Chỉ huy Fort, đỏ rực những tàng cây dầy đặc hoa anh đào. Các loại hoa khác cũng đua nhau nở, khoe đủ mầu sắc sặc sỡ riêng rất đẹp mắt. Chúng tôi tha hồ đi chụp phong cảnh bằng phim mầu, thuê rửa ráp thành slide để chiếu lớn lên màn ảnh xem và giữ lưu niệm. Nhưng sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Việt Cộng chiếm Saigon, gia đ́nh Tôi bị trục xuất ra khỏi cư xá sĩ quan Bộ Tổng Tham mưu trại Trần Hưng Đạo với 2 bàn tay trắng, nên tất cả những h́nh ảnh kỷ niệm vô cùng quư giá này đă mất hết.

Cuối tháng 5 năm 1998 măn khoá, nhà trường cho biết sẽ cho chúng tôi đi bằng xe hoả sang San Francisco. Do đó chúng tôi yêu cầu cho đi theo “Tuyến Nam” (South bound) để có dịp quan sát thắng cảnh của các Tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ trên suốt dọc cuộc hành tŕnh từ Fort Monmouth đến San Francisco.

Về tới San Francisco, chúng tôi lại có dịp nghỉ tại khu Presidio một tuần lễ để chờ làm giấy tờ về Việt Nam bằng máy bay. Lúc này đă coi như thông thạo Anh ngữ và quen với nếp sống của người bản xứ, nên chúng tôi ra phố chơi mua bán thoải mái không bỡ ngỡ ǵ cả. Mọi thứ cần mua về làm quà đă mua ở New York và gửi về Việt Nam trước cả rồi, nên tha hồ đi thăm Sở thú San Francisco, Golden Gate Park cho biết, và ra Chinatown ăn ngày 2 bữa chờ đợi thôi.

Việc rời Hoa Kỳ về Việt Nam không nhất thiết phải đi cả toán cùng một lúc, nên cơ quan chuyển vận đă sắp chúng tôi đi thành 2 toán theo 2 chuyến bay khác nhau. Toán một gồm 5 người trong đó có Tôi. Toán 2 gồm 7 người đi sau chúng tôi một ngày. Tuy chúng tôi được đi trước, nhưng lại về đến Saigon chậm hơn toán 2 cả tuần lễ. Truyện trục trặc như thế này: “Bà nhân viên phụ trách lúc trao vé máy bay cho chúng tôi tại Presidio dặn rơ ràng là, chúng tôi sẽ tới Clark Field Air Base vào buổi trưa, phải dùng xe bus của Căn cứ không quân lên ngay phi trường quốc tế Manila để “book in” ngay máy bay của hăng Panam, chuyến dự trù cất cánh vào lúc 9 giờ tối đi tiếp về Saigon. Chuyến bay sẽ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào khoảng 10 giờ đêm cùng ngày. Bà ấy đă điện báo các nơi biết như vậy rồi. Sổ Thông Hành của chúng tôi không cần phải có Visa của Phi Luật Tân, v́ chỉ di chuyển từ Clark Field sang phi trường Manila như trường hợp tranfer, không cư ngụ lâu trên đất Phi quá 12 tiếng nên luật không đ̣i hỏi phải có Visa. Hành tŕnh di chuyển từ Clark Field Air Base đến phi trường Manila bằng xe Quân đội Hoa Kỳ nên không trở ngại ǵ.”

Nhưng thật là xui, khi xuống máy bay tại Clark Field, lấy lại hành lư xong, chúng tôi ra xe bus của Căn cứ để đi phi trường Manila, th́ nhân viên Quân Cảnh xem Sổ Thông Hành của chúng tôi, thấy không có Visa của Toà Lănh sự Phi Luật Tân tại San Francisco cho phép vào đất Phi, nên không cho chúng tôi lên xe đi. Chúng tôi giải thích thế nào anh ta cũng nhất định không chịu, và bắt buộc chúng tôi phải ở lại Clark Field. Tôi vào gặp Trung úy trưởng pḥng của anh ta để giải thích, ông này không dám giải quyết và phải điện thoại lên Tham mưu trưởng căn Cứ xin lệnh. Theo quyết định của Tham mưu trưởng, anh ta cho xe đưa chúng tôi về ghi đóng tiền thuê chỗ ngủ tại BOQ, sáng hôm sau sẽ có xe đón Tôi là trưởng toán lên văn pḥng gặp Đại tá Tham mưu trưởng giải quyết.

Hôm sau, anh Mai và Tôi cùng đi lên văn pḥng Tham mưu trưởng Căn Cứ, tŕnh bầy lại mọi sự với ông Đại tá. Sau khi tiếp xúc điện thoại với các nơi cần thiết, ông Đại Tá cho chúng tôi biết những việc Căn Cứ sẽ phải làm là:

1.- Liên lạc với Toà Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Manila để yêu cầu cho người xuống lấy Sổ Thông Hành của chúng tôi đi xin Visa của Bộ Ngoại Giao Phi Luật Tân;

2.- Tiếp xúc với hăng máy bay để định lại chuyến bay khác cho chúng tôi;

3.- Mọi việc phải cần ít nhất 7 ngày mới hoàn tất, trong khi chúng tôi lưu tại Clark Field sẽ được cấp “Per diem” $7 ĐôLa một ngày.

Ngày hôm sau, nhân viên Pḥng Tùy viên Quân sự Sứ Quán đến gặp chúng tôi, để lấy Sổ Thông Hành đi làm các thủ tục cần thiết.

Buổi tối, chúng tôi đến Câu Lạc Bộ dùng cơm, gặp Thiếu Tá Oánh (sau này lên Tướng) và mấy bạn sĩ quan Không quân đang học lái Trực thăng tại Clark Field Air Base. Đă sống lâu ngày tại đây nên anh em thông thuộc địa phương, nên rủ chúng tôi đến làng Angeles khu hộp đêm gần Căn Cứ giải trí, giống hệt khu giải trí Tam Hiệp cạnh căn cứ Long B́nh Biên Hoà. Chúng tôi đi về bằng xe Lambretta tư nhân sơn vẽ mầu sặc sỡ đưa đón khách, giá cũng rẻ chỉ mất có 50 xu một lượt. Tại làng Angeles cũng thấy có các Quân Cảnh của Căn Cứ đi tuần tiễu dọc các đường phố, để duy tŕ trật tự và bảo vệ an ninh cho quân nhân được phép ra thăm viếng khu này.

Năm ngày sau, Sổ Thông Hành của chúng tôi có được Visa, Căn Cứ mời chúng tôi đến thanh toán tiền “Per diem”, và cho xe cùng một Hạ sĩ quan phụ trách đưa chúng tôi lên Manila thuê pḥng ngủ qua đêm, để sáng sớm hôm sau kịp đáp chuyến bay rời Manila vào 9 giờ sáng. Chúng tôi không muốn thuê pḥng ở khách sạn Manila ngay cạnh phi trường v́ giá đắt quá, nên anh ta dẫn chúng tôi đến khách sạn anh ta quen, cũng khang trang sạch sẽ mà giá thuê pḥng rẻ hơn. Sau khi chúng tôi lấy pḥng xong, anh Hạ sĩ quan dặn chúng tôi chờ tại khách sạn để anh ta ra phi trường tiếp xúc hăng máy bay Panam “book in” chuyến bay cho chúng tôi. Khi xong việc, anh ta sẽ trở lại cho chúng tôi biết chính xác sáng mai giờ nào phải có mặt tại phi trường, để tự thuê taxis mà đi.
Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau, anh ta điện thoại đến báo cho biết là có chuyến bay rời Manila ngay lúc 9 giờ tối hôm đó, nếu chúng tôi muốn đi ngay anh ta sẽ đem xe đến đón đi luôn. Tôi hỏi ư kiến anh em. Ai cũng đồng ư chịu mất không tiền thuê pḥng để ra phi trường về Saigon ngay trong đêm. V́ gia đ́nh đă được anh em thông báo bằng điện tín là lên đường về cả tuần nay rồi, mà chưa đến nơi chắc hẳn đang lo lắng thắc thỏm lắm.
Tôi liền trả lời anh ta là chúng tôi bằng ḷng đi ngay đêm nay, yêu cầu đến đón chúng tôi. Nửa giờ sau, xe anh ta tới khách sạn đón đưa chúng tôi ra phi trường làm thủ tục để lên chuyến bay rời Manila vào lúc 9 giờ, trước sự ngạc nhiên của nhân viên khách sạn. Chúng tôi thuê chung 2 người một pḥng, nên mỗi người chịu mất không $5 ĐôLa, mà mới chỉ được tắm thoải mái thôi. Âu cũng là cái thời vận đến lúc phải “tán tài” th́ đành chịu vậy biết làm sao hơn!

Máy bay cất cánh, thấy nét mặt mọi người lộ vẻ vui mừng hớn hở hẳn lên. Không ai bảo ai, nhưng h́nh như mọi người đang thầm cầu nguyện cho chuyến bay được thượng lộ b́nh an, và nhẫn nại chịu đựng thêm một tiếng đồng hồ vượt không gian nữa là phi cơ đáp xuống Tân Sơn Nhất Saigon. Bất thần xuất hiện trước cửa nhà trong đêm khuya, chắc hẳn là vợ con thân quyến sẽ ngạc nhiên vui mừng lắm.

Đúng 10 giờ đêm, máy bay hạ thấp cao độ lượn một ṿng rồi từ từ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất như dự trù. Mọi người vui cười sung sướng, mang xách tay rời phi cơ bước xuống đặt chân lên mặt đất Việt Nam thân yêu, sau hơn nửa năm trời xa cách.

Các bạn khác ra đi xe bus của hăng Hàng Không đưa về địa điểm kinh doanh của hăng tại khu trung tâm Saigon, rồi từ đó thuê taxis đưa về nhà. Riêng Tôi v́ gia đ́nh ở trong cư xá Bà Chiểu Gia Định, nên nhờ điện thoại của văn pḥng của hăng tại phi trường gọi về văn pḥng trực Bộ Chỉ huy Viễn Thông nhờ đem xe ra đón đưa về thẳng nhà, chứ không đi theo xe bus của hăng hàng không xuống Saigon. Thật hên, đêm hôm đó gặp đúng Sĩ quan trực là người thuộc Pḥng Mật Mă Trung Ương tới phiên trực, nên không phải đợi chờ lâu.

 

 
Nguyễn Huy Hùng; HỒI KƯ DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN