báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

[Bài Viết - Article]                                                                   


 

BÚT KƯ
VIỆT NAM VÀ ĐỜI TÔI QUA HAI THẾ KỶ 20 VÀ 21.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
(Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa)
Tổng hợp tháng 4 năm 2016.
 


Nguyễn-Huy Hùng, ảnh chụp năm 1969.

ĐÔI LỜI TÂM SỰ


Tôi gia nhập Quân đội từ năm 1947 và tiếp tục cuộc đời binh nghiệp cho đến ngày Quốc Hận 30-4-1975 th́ bị bạo quyền Việt Cộng bắt đi tù tập trung cải tạo suốt 13 năm sau mới được tha về sống đoàn tụ với gia đ́nh tại Saigon. Tháng 8 năm 1992 được bạo quyền trục xuất ra khỏi nước cùng với vợ các con và các cháu nội cháu ngoại đi định cư tỵ nạn chính trị Cộng sản tại Hoa Kỳ theo diện H.O.10 (Humanitarian Operation).

Suốt từ ngày tới Hoa Kỳ đến nay, ngoài việc lo cho gia đ́nh Tôi vẫn hăng hái tham gia hoạt động chính trị chống Cộng cùng với các Hội đoàn cựu Chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa và các Tổ chức Cộng đồng người Việt Tỵ nạn Cộng sản trên toàn thế giới. Tôi cũng đă thường xuyên đóng góp rất nhiều bài tham luận đăng trên các Diễn đàn Intrenet, các báo Việt ngữ, đọc trên Đài phátthanh và Vô tuyến truyền h́nh của người Việt nơi hải ngoại. Lúc này các Cộng đồng người tỵ nạn cư trú trên toàn thế giới đang rầm rộ tổ chức tưởng niệm THÁNG TƯ ĐEN, nên Tôi thấy là cần gom một số bài quan trọng mà Tôi đă đóng góp từ trước đến nay vào Tập Bút Kư này, để các Bạn Trẻ đang hăng hái dấn thân tiếp nối công cuộc đấu tranh chống Cộng của Ông Cha ḿnh cho đến khi toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách thống trị độc tài tàn bạo của bè đảng Việt Cộng (chưa có dịp đọc trước đây) tùy nghi tham khảo./.

Chào kính mến, NGUYỄN-HUY HÙNG.

Nội dung:

Phần 1:

1-Sự thất lịch sử Việt Nam vào năm 1945
2-Nh́n lại ḿnh 62 năm về trước
3-Việt Nam Cộng Ḥa ra đời trong hoàn cảnh nào?
4-Tứ Thánh bất tử Việt Nam.
 

Phần 2:

5-Tâm  sự người con đầu ḷng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt
6-T́m hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6
7-Ngồi lại với nhau
8-Phỏng Vấn Đặc biệt của Việt Luận
9-Câu truyện bán nước của bọn gian tặc Hồ chí Minh và bè đảng Việt cộng  Hồ Chí Minh và bè đảng Việt Cộng. Hồ Chí Minh và bè đảng Việt cộng
10-K
ẻ bán ải Nam Quan và Km Zéro- Ô nhục ải Nam Quan!
11-Ải Nam Quan/Chu tất Tiến
12-Nên thận trọng đừng để bị Việt cộng lừa bịp nữa.
13-Những cái Tết  khó quên của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20.

SỰ THẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀO NĂM 1945


Nguyễn-Huy Hùng (K1 trường VBQGVN)

 
Cựu Hoàng Bảo Đại, Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam

NGÀY 11 THÁNG 3 NĂM 1945,
QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT,
SAU 61 NĂM BỊ THỰC DÂN PHÁP THỐNG TRỊ (1884-1945)
 

Trong suốt thời gian dài hơn 60 năm qua, nhóm người Cộng sản Việt Nam theo chủ nghiă Tam Vô chuyên chính toàn trị vong nô bán nước hại dân, đă cố t́nh dùng những phương tiện tuyên truyền xảo quyệt gian dối lừa bịp nhân loại, bóp méo sự thật về hoàn cảnh lịch sử mà toàn dân tộc Việt Nam đă sát cánh bên nhau giành lại được Độc lập cho đất nước sau 61 năm bị Thực dân Pháp thống trị, khi Thế giới Đại Chiến II chấm dứt. Người viết là một nhân chứng, sống trong ḷng dân tộc Việt Nam trên đất nước Việt nam suốt từ Thập niên 1930 cho đến giữa Thập niên 1990, thấy có bổn phận phải ghi lại sự thật những ǵ đă xẩy ra trên đất nước Việt Nam, để giúp cho các thế hệ Trẻ sau này biết được sự thật về giai đoạn lịch sử này của Dân tộc Việt Nam, để thấy được những ǵ Cộng sản Việt Nam tiếm nhận khoe khoang phổ biến cho đến nay đều hoàn toàn không đúng với sự thật hiển nhiên đă xẩy ra.

1. T̀NH H̀NH QUỐC TẾ KHI THẾ GIỚI ĐẠI CHIẾN II CHẤM DỨT.

Sau khi Hoa Kỳ thả 2 quả bom nguyên tử xuống đất Nhật, san bằng 2 thành phố Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945, và Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945, Hoàng Đế Nhật Bản phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15 tháng 8 năm 1945. Nhờ vậy, Thế giới Đại chiến II, do phe Trục Đức-Ư-Nhật chủ xướng từ năm 1939 được coi là chấm dứt hoàn toàn trên cả 5 Châu: Âu, Phi, Á, Úc, và Mỹ. Hết Thế giới Đại chiến II, Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ Cao trào các Tiểu nhược quốc Thuộc địa trên toàn Thế giới, đang bị các nước Thực dân Đế quốc da trắng đô hộ cai trị áp bức, vùng lên giành lại Độc lập Tự do cho Dân tộc ḿnh, để xây dựng Thể chế Chính trị theo mô thức Dân
chủ Tự do Tư bản. Khối Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Viết Nga lănh đạo (phe đối nghịch với khối Thế giới Tự do Tư bản) cũng nhân cơ hội này, dùng các tay sai người bản xứ lôi cuốn các nhóm công nông vô sản dùng bạo lực hăm dọa song hành với phương thức truyên truyền xảo quyệt buộc quảng đại quần chúng dân lành phải đi theo chúng dưới mỹ từ làm Cách mạng giải phóng quê hương, cũng như để bành trướng thế lực nhằm thực hiện sách lược Xích hoá toàn Thế giới theo chủ nghĩa Cộng sản Tam Vô chuyên chính. Tại Việt Nam có tay sai bán nước hại dân là Hồ Chí Minh và nhóm đồng chí Việt Minh của hắn.

2.- HOÀN CẢNH DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO NĂM 1945.

A.- Trong nước, vào ngày Chủ Nhật 11 tháng 3 năm 1945 (hai ngày sau khi quân Nhật lật đổ Pháp nắm toàn quyền cai trị Đông Dương), Vua Bảo Đại được Vua Nhật giúp tái lập Quốc Gia Việt Nam Độc Lập (thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam) trong Khối Đại Đông Á do Nhật chủ xướng. Ông Trần Trọng Kim đă được Vua Bảo Đại cử làm Thủ Tướng thành lập chính phủ điều hành Quốc gia, và ban bố chương tŕnh hưng quốc vào ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó quy định Quốc Kỳ là cờ Quẻ Ly, nền vàng giữa có biểu tượng Quẻ Ly mầu đỏ nằm dọc theo bề dài nền cờ (2 vạch dài liền, nằm song song 2 bên 1 vạch đứt quăng chính giữa, trông như chữ CÔNG của Hán tự).

Quốc Ca là bài “Việt Nam minh châu trời Đông” của nhạc sĩ Hùng Lân.


 

Việt Nam minh châu trời Đông!
Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái B́nh Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi,
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai c̣n vương cỏ hoa,
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết, Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết, Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.


Khoảng hơn 5 tháng sau, vào ngày 17 tháng 8 năm 1945 (hai ngày sau khi Vua Nhật tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh do Hoa Kỳ lănh đạo), các đoàn thể Công chức và quần chúng Việt Nam họp mít tinh trước Nhà Hát Lớn tại Hà nội, để ủng hộ ông Trần Trọng Kim tiếp tục làm Thủ Tướng. Nhưng, đă bị nhóm Việt Minh của Hồ Chí Minh trà trộn vào lèo lái biến thành cuộc xuống đường đ̣i Chính phủ Trần trọng Kim từ chức. Đồng thời, nhóm Hồ Chí Minh và Việt Minh cũng đưa người vào Huế làm áp lực buộc Vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường quyền cho nhóm Việt Minh thành lập các Ủy ban Nhân dân Cách mạng thay thế các tổ chức hành chánh của Chính phủ Trần trọng Kim.

B.- Nơi Hải ngoại, những nhà yêu nước thuộc các Phe nhóm và Đảng phái Cách mạng Nhân bản Việt Nam chống Thực dân Pháp, đang lưu vong bên Trung Hoa Lục địa (trong đó có cả nhóm Việt Minh và Hồ Chí Minh*), được Chính quyền Trung hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch bảo trợ giúp hoàn cảnh cho ngồi lại với nhau, lập ra một tổ chức đoàn kết hợp nhất với danh hiệu VIỆT NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG MINH HỘI (VNCMĐMH) do Cụ Nguyễn Hải Thần làm Chủ Tịch.

[Ghi chú *: Hồ Chí Minh bị chính quyền tỉnh Quảng Tây bắt giam vào tháng 10 năm 1942 trong ngục tối ở Tĩnh Tây, v́ hoạt động gián điệp cho Cộng sản Nga trên đất Trung Hoa Dân Quốc, đến tháng 5-1943 bị giải sang Liễu Châu. Cụ Nguyễn Hải Thần và các nhà Cách mạng Nhân bản Việt Nam chống Pháp đang lưu vong bên Trung Hoa, thấy Hồ Chí Minh và phe Việt Minh của hắn ta cũng đang hoạt động đấu tranh chống Thực dân Pháp, nên đă v́ t́nh nghiă Đồng bào không kỳ thị khuynh hướng chính trị Cộng sản mà Hồ Chí Minh đang theo, đồng ḷng vận động bảo lănh xin cho Hồ Chí Minh được tha ra khỏi ngục tù của Trung Hoa Dân Quốc, để cùng nhau hợp tác tiếp tục công cuộc chống Pháp và Nhật giành lại quyền Tự do Độc lập cho Dân tộc và quê hương Việt Nam. Hồ Chí Minh được tha vào ngày 10 tháng 9 năm 1943.]
Vào ngày 28-8-1945, trong khi quân đội Mỹ đổ bộ lên chiếm đóng đất Nhật Bản thua trận đầu hàng, th́ 5 Đoàn quân Trung Hoa Dân Quốc của ông Tưởng Giới Thạch đại diện Liên Hiệp Quốc do Tướng Lư Hán chỉ huy, cũng tiến vào Việt Nam bằng 5 ngả : Lạng Sơn, Lào kay, Lai Châu, Hà Giang, Móng Cáy, để thực hiện việc giải giới quân Phiệt Nhật tại phiá Bắc Vĩ Tuyến 16 của Bán đảo Đông Dương. Đi theo các Đạo quân Trung Hoa này, có các toán thuộc Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội về theo, để phối hợp cùng các Đoàn thể Việt Nam đấu tranh ở trong nước, thành lập Chính phủ Liên Hiệp gồm thành phần đại diện của mọi Phe nhóm Đảng phái, cũng như vận động quần chúng tham gia ứng cử và bầu cử đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến cho Việt Nam. Mọi chuyện tiến hành êm đẹp, Hồ Chí Minh (thuộc phe Việt Minh Cộng sản chiếm đa số trong Quốc Hội) được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Liên Hiệp, Cụ Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch, và cựu Hoàng Bảo Đại (ông Vua thoái vị) được mời làm Cố vấn cho Hồ Chí Minh Chủ Tịch Chính phủ Liên Hiệp.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí minh, đại diện Chính phủ Liên Hiệp đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, trước đông đảo Đồng bào Việt Nam tham dự cuộc mít tinh tại vườn hoa Ba Đ́nh* ở Hà Nội. [*Vườn hoa Ba đ́nh thời Pháp thuộc gọi là vườn hoa Con Cóc, một bùng binh (rond point) ở giữa có những tượng con cóc bằng đồng đúc, ngồi quanh một chiếc hồ phun các ṿi nước từ miệng ra, được xây dựng trước Phủ Toàn quyền Pháp cũ, đă được ông Trần Huy Lai Đốc lư Hà Nội thời Chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là Quảng trường Ba Đ́nh từ ngày 3 tháng 8 năm 1945.]

Ngày 28 tháng 1 năm 1946, quân đội Vương Quốc Anh (England) đại diện tổ chức Liên Hiệp Quốc, đổ bộ xuống Saigon để phụ trách việc giải giới quân Phiệt Nhật tại các vùng ở miền Nam Vĩ Tuyến 16 của Bán đảo Đông Dương. Quân Anh đă dung túng cho nhóm 200 quân Pháp tháp tùng để tái chiếm miền Nam Việt Nam, và ngày 4 tháng 2 năm 1946 Pháp đă công khai tuyên bố thành lập Chính quyền Hành chánh cai trị dưới danh xưng Nam Kỳ Tự Trị. [Trong thời Pháp thuộc từ trước năm 1945, Nam phần Việt Nam là một nhượng địa cho Pháp gọi là Cochinchine có hệ thống Hành chánh cai trị riêng biệt không lệ thuộc Hoàng triều An-Nam, y như trường hợp nhượng địa Hồng Kông của Trung Hoa cho Vương Quốc Anh vậy.]Lợi dụng cơ hội này, Hồ Chí Minh Chủ tịch Chính phủ Liên Hiệp đă gian manh tổ chức TUẦN LỄ VÀNG, kêu gọi nhân dân Việt Nam đóng góp vàng để mua súng chống Pháp tái xâm lăng Việt Nam. Nhưng thực tế, Hồ Chí Minh đă dùng số vàng thu được để đút lót (hối lộ) mua chuộc Tướng Lư Hán và các Tướng, Tá trong Ban Tham mưu quân Tầu tại Hà Nội cũng như tại các thành phố có quân Tầu đang trấn đóng, làm ngơ cho phe Việt Minh và Hồ Chí Minh mở các cuộc hành quân Cảnh sát tiêu diệt thành viên các Đảng phái Quốc gia không thuận theo Cộng sản, để chiếm độc quyền cai trị dân tộc Việt theo Chế độ Cộng sản Quốc tế do Liên Xô Viết Nga lănh đạo. Trong cùng lúc đó, Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh lén lút tiếp xúc rồi kư Hiệp ước Sơ bộ với Sainteny (đại diện Pháp) vào lúc 4 giờ chiều ngày 6 tháng 3 năm 1946 tại căn nhà số 38 đường Lư Thái Tổ Hà Nội. Theo bản Hiệp ước, th́ Chính phủ do Hồ Chí Minh lănh đạo thoả thuận cho Pháp được tự do đổ quân chiếm đóng nhiều Tỉnh trọng yếu tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam (kể cả Thủ đô Hà Nội). Các đảng phái chính trị không Cộng sản trong Chính phủ Liên Hiệp tổ chức biểu t́nh chống đối, đă bị Hồ Chí Minh và phe Việt Minh gian manh xảo quyệt phao tin vu khống là các Đảng phái Quốc gia cấu kết với Pháp phản bội Tổ quốc, để công khai dùng Binh lực và Công An tổ chức các cuộc hành quân thẳng tay tiêu diệt các thành phần đối lập với Cộng sản, ngay tại Hà Nội và tại các Tỉnh khác mà quảng đại quần chúng sợ bị liên lụy không dám phản kháng. Cụ Nghuyễn Hải Thần đă được anh em Đồng Minh Hội đưa trốn thoát khỏi HàNội lên thị xă Lạng Sơn, và được anh em Phục Quốc Quân tại đây hộ tống trốn sang Tầu qua cửa Ải Nam Quan tại Đồng Đăng, bản thân người viết lúc đó là một thành viên trong đoàn hộ tống cụ Nguyễn Hải Thần sang B́nh Tường bên đất Trung Hoa.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh giữa quân Pháp và quân Việt Minh bùng nổ trên toàn lănh thổ Việt Nam, v́ tranh chấp thương thảo chia chác quyền cai trị đất nước giữa Việt Minh và Pháp không êm xuôi. Quân của Hồ Chí Minh thua phải bỏ Thủ đô Hà Nội và nhiểu Thành phố trọng yếu khác để rút vào rừng vùng Việt Bắc (gọi là Bưng). Trước khi rút vào bưng, Hồ Chí Minh ra lệnh bắt buộc nhân dân Việt Nam cả thành thị lẫn thôn quê, phải thực hiện chính sách “Tiêu thổ kháng chiến” (tức là phá b́nh địa tất cả các nhà gạch to lớn đồ sộ của tư nhân, cũng như cơ sở công cộng, Nhà Thờ, Đ́nh, Chùa, đào đường đắp mô, phá cầu cống…) gọi là chiến lược chống Pháp tái xâm lăng. Nhưng mục đích thực sự sâu xa của việc làm này là, để thực hiện bước đầu tiên bần cùng vô sản hoá toàn dân, chuẩn bị xây dựng chế độ vô sản chuyên chính độc tài tàn bạo theo mô h́nh của Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Viết Nga chỉ đạo.

Thời gian tiếp theo, dân chúng phải sống dưới cảnh một cổ 2 tṛng, y như thời gian từ 1940 đến 1945 bị Pháp và Nhật song hành cai trị. Công việc làm ăn mưu sinh hàng ngày của dân chúng rất khổ cực, và luôn luôn lo lắng cho phần an ninh cá nhân và gia đ́nh, v́ hệ thống Công an của cả 2 bên Pháp và Việt Minh hoạt động khủng bố ngày đêm rất là tàn bạo. Măi đến giữa năm 1947, những thành phần Nhân Sĩ Quốc Gia sống sót sau chiến dịch Cộng sản tiêu diệt hồi đầu năm 1946, ngồi lại với nhau t́m giải pháp giành lại Độc Lập cho đất nước bằng đường lối hoà b́nh, và đă quyết định mời Cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong tại Hồng Kông, đứng ra thương thuyết với Chính phủ Pháp về việc tái thiết một Quốc Gia Việt Nam Độc lập Thống nhất trong Khối Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Năm 1946 sau khi kư Hiệp ước Sơ bộ tại Hà Nội với Sainteny, Hồ Chí Minh cũng đă sang Pháp thương thuyết nhưng đă bị thất bại ê chề.

Ngày 19 tháng 8 năm 1947 tại Hồng Kông, Cựu Hoàng Bảo Đại chấp nhận lời kêu gọi đứng ra tiếp xúc với Chính phủ Pháp, và ngày 5 tháng 6 năm 1948, Hiệp định Hạ Long được kư kết giữa Thủ Tướng Chính phủ Trung Ương Nguyễn văn Xuân đại diện Việt Nam Thống Nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam, và ông Bollaert đại diện Chính phủ Pháp (trước sự chứng kiến của Cựu Hoàng Bảo Đại) trên chiến hạm Duguay Trouin của Hải quân Pháp đậu tại Vịnh Hạ Long, Bắc phần Việt Nam. Hiệp định công nhận Quốc Gia Việt Nam Độc Lập Thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam trong Khối Liên Hiệp Pháp, có Chính phủ độc lập và Quân đội riêng, cũng như có toàn quyền thiết lập bang giao với mọi nước trên toàn Thế giới ngoài nước Pháp, về Kinh tế và Khoa học Kỹ thuật th́ ưu tiên giao dịch với Pháp và các nước thuộc Khối Liên Hiệp Pháp. (Khối Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương lúc đó gồm 3 nước Việt nam, Lào, Cao Miên, và tại Phi Châu gồm các nước Algéria, Tunisia, Maroc, và Sénégal.) Quốc Kỳ của Quốc Gia Việt Nam, được định lại là nền vàng với biểu trưng quẻ Càn mầu đỏ (3 vạch dài bằng nhau) nằm dọc chính giữa suốt bề dài của cờ, trong dân gian thường gọi nôm na là Cờ Vàng Ba Xọc Đỏ.

Quốc Ca* là bài “Tiếng gọi Công dân”, nguyên là bài “Sinh viên hành khúc” nhạc của Lưu Hữu Phước, lời do một ủy ban sinh viên Đại học Hà Nội đặt gồm 3 Đoạn và 1 Điệp khúc. Bài “Sinh viên hành khúc” được các sinh viên tŕnh bầy hợp ca lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 3 năm 1942, trong buổi tŕnh diễn văn nghệ do sinh viên tổ chức tại Viện Đại Học Hà Nội, để lấy tiền giúp các bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện mà sinh viên Y Khoa Đại học Hà Nội đến thực tập. (*ghi chú: Quốc Ca chỉ dùng có Đoạn I của bài “Sinh viên hành khúc” mà thôi. Tên bài hát được đổi thành “Tiếng gọi Công dân”, và các từ “Sinh viên” trong bài ca đổi thành từ “Công dân”.)

Đoạn I.
Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!
Đồng ḷng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
V́ non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên.
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn trông gai vững ḷng chi sá.
Đường mới kíp phóng mắt nh́n xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
(Điệp khúc)
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết ḷng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Đoạn II.
Này sinh viên ơi! Dấu xưa vẫn c̣n chưa xoá!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
B́nh bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát, Trần Quốc Tuấn.
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
Ṇi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang ta thắp hương nguyền.
(trở lại Điệp khúc)…
Đoạn III.
Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng!
Hành tŕnh c̣n xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem ḷng son cho giống ḍng.
Là sinh viên vun cây văn hoá,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.
Đời mới kiến thiết đáp ḷng những ai,
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.

(trở lại Điệp khúc)…


Vào tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, một phong trào Thanh niên Tiền phong được tổ chức tại miền Nam Việt Nam, nhóm này lấy bài “Sinh viên hành khúc” dùng làm Đoàn Ca, nhưng đổi tên bài hát là “Tiếng gọi Thanh niên” và các từ “Sinh viên” được thay bằng từ “Thanh niên”.

Sau khi Quốc Trưởng Bảo Đại bị ông Ngô Đ́nh Diệm tổ chức trưng cầu dân ư để truất phế vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, miền Nam Việt Nam thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà, Quốc hội Lập Hiến năm 1956 đă quyết định tiếp tục dùng bài “Tiếng gọi Công dân” làm Quốc Ca (nhưng lời ca được đổi lại như ghi dưới đây), và Quốc Kỳ cũng vẫn là Cờ Quẻ Càn của thời Quốc Gia Việt Nam dưới quyền lănh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại, và hiện nay tập thể các Cộng Đồng Người Việt lưu vong tỵ nạn Cộng sản trên toàn Thế giới vẫn tôn trọng là Quốc Ca và Quốc Kỳ chính thống gốc Việt của ḿnh:

Này Công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng,
Đồng ḷng cùng đi hy sinh tiếc ǵ thân sống.
V́ tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Ṇi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người Công dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
(Điệp khúc)
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công dân ơi! Mau làm cho cơi bở!
Thoát cơn tàn phá vẻ vang đời sống,
Xứng danh ngàn năm ḍng giống Lạc Hồng.


Kể từ sau khi Đại diện Việt Nam và Đại diện Pháp kư Hiệp Ước Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948 trở đi, Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại đứng đầu, được cả trăm nước trên toàn Thế giới lần lượt tuyên bố công nhận, và trao đổi cơ sở Ngoại Giao với hàng Đại Sứ. Trong khi đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ Chí Minh và phe Việt Minh cướp đoạt ôm giữ từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 cho đến lúc đó tháng 6 năm 1948, vẫn không được một nước nào trên Thế giới nh́n nhận, kể cả Liên Xô Nga và các nước trong khối Cộng sản theo Nga. Quốc Trưởng Bảo Đại đă chính thức công khai gửi lời mời Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh hợp tác chấm dứt chiến tranh, để cùng toàn dân xây dựng kiến thiết đất nước mau hùng mạnh thịnh cường. Nhưng v́ Hồ Chí Minh là đảng viên trung kiên của Quốc tế Cộng sản luôn luôn phải tuân hành lệnh của Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Viết Nga chỉ đạo, nên đă từ chối và tiếp tục được Nga Xô và Trung Cộng yểm trợ đẩy mạnh chiến tranh du kích khủng bố dân lành không cho làm ăn phát triển kinh tế, đốt làng xóm, phá hoại cầu đường giao thông, và các cơ sở công cộng tiện ích xă hội do Chính phủ Quốc Gia Việt Nam xây dựng để phục vụ quảng đại quần chúng tại các thành thị và thôn quê.

3.- ĐỂ KẾT LUẬN.

Qua các sự kiện lược kể trên đây, chúng ta thấy rơ ràng nhóm Hồ Chí Minh và Việt Cộng không hề có công đấu tranh giành lại Độc lập Tự do, hay làm cách mạng để đem lại hạnh phúc ấm no cho Dân tộc và phồn vinh cho quê hương Việt Nam. Tất cả những ǵ Cộng sản khoe khoang vơ vào bấy lâu nay, đều là xảo trá láo khoét, trâng tráo vô liêm sỉ của nhóm mafia vong nô tay sai của Quốc tế Cộng sản nay đă tan ră. Sự thật bao giờ cũng vẫn là sự thật, cây kim dù bọc kỹ lưỡng đến đâu, lâu ngày cũng sẽ bị rỉ sét làm ḷi ra giữa ánh sáng mặt trời. Thật đáng tiếc cho vận nước Việt Nam gặp thời bĩ cực, nếu không có bọn Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Nga lănh đạo thúc đẩy yểm trợ cho tên tay sai đại gian manh xảo quyệt Hồ Chí Minh và nhóm đồng chí Việt Minh Cộng sản của hắn thực hiện cái gọi là cách mạng muà Thu 1945, th́ nước Việt Nam Độc lập thống nhất từ ngày 11-3-1945 dưới quyền lănh đạo của cựu Hoàng Bảo Đại có thể đă theo thể chế chính trị Quân chủ Lập hiến như Anh quốc, Nhật bản, Thái Lan…, th́ dân tộc Việt Nam đâu có phải tốn bao nhiêu xương máu của nhiều thế hệ một cách vô ích và đất nước bị bom đạn tàn phá suốt mấy chục năm chiến tranh. Suốt 35 năm qua đất nước không c̣n chiến tranh nữa mà quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục sống cuộc sống khổ cực như nô lệ thời Phong kiến Thực dân, các quyền tự do nhân bản của con người trong một nước độc lập không được tôn trọng bảo vệ dưới ách cai trị chuyên chính độc đảng tàn bạo vô nhân đạo của bè lũ độc tài Việt Cộng nay đă trở thành nhóm Phong kiến Thực dân đại tư bản Đỏ vong nô bán nước hại dân !!!

Tất cả những điều tŕnh bầy trên đây đều là những sự kiện thật đă xẩy ra, và là những dấu ấn được khắc ghi sâu đậm trong bộ năo của người viết, theo thời gian chung sống hoà đồng cùng dân tộc đồng bào của ḿnh ngay trên đất nước Việt Nam, chớ không hư cấu tưởng tượng cường điệu để tuyên truyền.

Quư Vị độc giả có toàn quyền tự do phân định giả chơn, và tự quyết định nên đứng vào hàng ngũ những người đang tranh đấu hỗ trợ quảng đại quần chúng dân tộc Việt Nam ở trong nước, đẩy mạnh cuộc đấu tranh loại trừ bè lũ Việt Cộng gian xảo vô nhân đạo, để giành lại Tự do Dân chủ Nhân quyền và cuộc sống b́nh đẳng ấm no hạnh phúc cho toàn dân tộc Việt Nam, đă bị bọn bạo quyền này tước đoạt từ hơn nửa Thế kỷ nay, hay v́ lợi ích riêng tư vị kỷ cá nhân cố t́nh giả ngộ ngu ngơ tiếp tục tin theo lời tuyên truyền xảo trá gian ngoan mời gọi nịnh vuốt ngọt ngào của bè lũ phản dân hại nước Cộng sản VN này, mà hoà hợp hoà giải quên đi quá khứ tàn bạo khát máu của chúng đối với dân tộc suốt hơn 60 năm qua, và làm ăn buôn bán cộng tác tiếp tay cho chúng có thêm thời cơ kéo dài cường quyền tiếp tục bán nước hại dân lâu them nữa.

Phụ chú, Xin mời Qúy Vị đọc thêm bài viết dưới đây của ông Phạm Cao Dương đăng trên Diễn Đàn 1000 Elites do Tiến sĩ Ngô văn Tuấn bên Âu Châu đảm trách đưa lên ngày 23-1-2015.


Corona, Nam California, Hoa Kỳ.
NGUYỄN-HUY HÙNG.
Cựu đảng viên Phục Quốc hoạt động tại Thị xă Lạng Sơn trong thập niên 1940.
Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tởng cục trưởng Chiến tranh Chí Trị, kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến.
Cựu Tù nhân Chính trị, 13 năm khổ sai trong các trại tập trung của đảng Việt Cộng và nhà nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam sau ngày
Quốc hận 30-4-1975.
Subject: E . Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đă Có Dân Chủ - Tự Do Rồi
Date:F ri, 23 Jan 2015 20:01:38 +0100
From:P hong Lan <ngophonglan@gmail.com>
To: P hong Lan <ngophonglan@gmail.com>
Elite 2015-01-167
_____________________________________________________________
Elite là diễn đàn khoa học quan hệ quốc tế, thường xuyên tổ chức hội nghị quốc tế, chuyên nghiên cứu về t́nh trạng căng thẳng ở Biển Đông và vùng phụ cận, cũng như về kinh tế và xă hội trong nước, đặc biệt là nhân quyền
______________________________________________
From: Hinh KHONG TRONG
Date: 2015-01-23 19:56 GMT+01:00
Subject: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đă Có Dân Chủ - Tự Do Rồi
Phạm Cao Dương - Nhân dịp đầu năm Ất Mùi - 2015,
một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ
Năm 1945 Dân Tộc Ta Đă Có Dân Chủ - Tự Do Rồi
Thứ Năm, ngày 22 tháng 1 năm 2015

 

Hoàng Đế Bảo Đại

Do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời của chính người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đă không những không biến chuyển như mọi người mong muốn mà c̣n đầy rẫy những ngộ nhận, từ đó oan khuất cần phải được giải toả và làm sáng tỏ. Đây là một việc làm vô cùng khó khăn mà một cá nhân khó có thể làm nổi. Tuy nhiên, tuy gọi là khó nhưng những người quan tâm và hiểu biết ít nhiều vẫn phải làm để sau này sẽ có người tiếp tục và điều chỉnh. V́ là một khoa học, sử học luôn luôn tiến bộ. Những ǵ gọi là đúng ngày hôm nay có thể sẽ cần phải được ít ra là điều chỉnh và bổ khuyết ngày mai, không có ǵ gọi là chân lư vĩnh cửu trong môn học này. Người học sử không thể chủ quan nhất định điều ḿnh nói, viết ra hay được học măi măi là đúng, là chân lư bất di bất dịch.

Trong bài này cũng như một số bài trước, người viết xin gửi tới các bạn đọc, đặc biệt là các nhà tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ, một vài nhận định về những ǵ Hoàng Đế Bảo Đại và vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập là nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim cùng với các bộ trưởng của ông, đă làm, trong một thời gian ngắn ngủi hơn ba tháng của năm 1945, từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 6 tháng 8 năm 1945, để xây dựng một chính thể dân chủ lâu dài cho đất nước và ban hành các quyền tự do cho người dân từ cách nay ngót 70 năm bằng những đạo luật không phải là không tiến bộ. Đây là một việc làm mà 70 năm sau với ít nhất ba thế hệ đă qua đi một cách uổng phí, với hàng triệu sinh mạng đă bị hi sinh cùng với máu và nước mắt của người dân lành vô tội, người ta vẫn chưa muốn làm hay chưa làm được.

Bốn bước tiến đă được Vua Bảo Đại thực hiện trong thời gian này gồm có:

Thứ nhất: Ban hành dụ “Dân vi Quư”

Thứ hai: Đích thân tham khảo ư kiến của các quan lại, các thân hào, nhân sĩ có uy tín để thành lập một chính phủ mới

Thứ ba: Thành lập các hội đồng chuyên môn để mọi người có thể tham gia việc soạn thảo hiến pháp và các sinh hoạt quan trọng của quốc gia

Thứ tư: Ban hành các đạo dụ liên quan đến các quyền tự do cơ bản của người dân

Sau đây là những chi tiết liên hệ tới bốn bước tiến kể trên: Khẩu hiệu “Dân Vi Quư” của Hoàng Đế Bảo Đại Đây là khẩu hiệu của vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn mà ai đă từng học sử Việt Nam đều biết và cũng là bước tiến đầu tiên của vị hoàng đế này trên đường thực hiện chế độ dân chủ của ông. Khẩu hiệu này được trích dẫn từ sách Mạnh Tử, một trongTứ Thư của các Nhà Nho ta thời xưa[1], nguyên văn là “Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là “Dân là quư, sau đó là xă tắc, vua là nhẹ”, được nhà vua chính thức đưa ra trong Dụ Số 1, mở đầu cho một giai đoạn mới trong triều đại của ông. Dụ này được ban hành ngày 17 tháng 3 dương lịch năm 1945,
nguyên văn như sau:

Dương Lịch ngày 17 tháng 3 năm 1945 Nước Nhật muốn hoàn toàn thực hiện chương tŕnh sây nền thịnh vượng chung ở Đại-Đông-Á đă giải phóng cho nước Nam ta, và Trẫm tuyên bố Việt Nam độc lập rồi.

Nay Trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ lấy quyền lợi cho Tổ-quốc và giáng dụ rằng:

1-Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÍ’

2- Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.

3-Trẫm sẽ tái định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân. Nhận định về đạo dụ này, Nguyễn Tường Phượng trong bài “Một Đạo Dụ, Một Chế Độ” đăng trên Tri Tân Tạp Chí số ra ngày 20 tháng 4 năm 1945, trên trang đầu, đă viết như sau:

“Ba điều ban bố trên đáng ghi vào lịch sử xứ này, thật là trên thuận ḷng giời, dưới đẹp ḷng dân, quốc dân rất trông mong ở sự thi hành triệt để khác nào như đói mong ăn và khát mong uống vậy.

“Nếu một khi nhà nước dùng được người tài, đức vẹn hai ra gánh vác, đảm đương những trọng trách, lại thêm vào đấy cái chính sách thân dân, thể tất đến dân nguyện thời nền tảng quốc gia xứ này có thể phục hưng.

“Được như vậy, đạo dụ ngày 17 tháng ba đáng ghi vào trang đầu lịch sử của nước Việt-Nam độc lập.”

C̣n Luật Sư Bùi Tường Chiểu, trong bài “Đạo Dụ Số 1 Của Đức Bảo Đại Hoàng Đế” đăng trên Thanh Nghị, số 107, “Số Đặc-San Chính Trị”, ra ngày 5 tháng Năm 1945, cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của đạo dụ này. Ngay những ḍng mở đầu ông viết: “Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng đạo dụ này đă nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rơ ràng những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này.” rồi nhấn mạnh hơn đến ba chữ Dân Vi Quư, ông phân tích:

“Nay đạo Dụ số 1 đă nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là đức Bảo-Đại đă hủy bỏ cái lư thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đă cho là không hợp thời. Đă lấy dân làm trọng, đă lấy quyền lợi dân để trên tất cả th́ vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, t́m những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành. Như thế là trong nền chính trị đức Bảo-Đại Hoàng-Đế đă định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới.”

Cuối cùng đi xa hơn nữa, vị luật gia này c̣n nói tới hiến pháp. Ông viết: “Xong chúng ta có thể căn cứ vào điều thứ 3 của bản Dụ mà nói rằng đức Bảo-Đại sẽ tuyên bố các cơ quan chính trị mới mà trong câu cơ quan ấy sẽ có một cơ quan có quyền lập pháp. Muốn tổ chức một cách phân minh các cơ quan hành chính, lập pháp và tư pháp, tất nhiên phải có một đạo hiến-luật để ấn định rơ ràng những quyền hành của các cơ quan chính trị.”

Đúng như vậy, Hoàng Đế Bảo Đại sau đó đă từng bước tiến hành những biện pháp mang tính cách dân chủ để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay v́ của một thiểu số quan lại trong triều. Sau đây là những nét chính của những nỗ lực này.

Đặt nền tảng cho việc xây dựng chế độ mới và sửa soạn cho những công tŕnh tái dựng đất nước lâu dài (sửa lại chính thể và toàn bộ guồng máy chính quyền)
Đây là bước tiến thứ hai trong tiến tŕnh xây dựng chế độ dân chủ bằng cách tạo dịp cho người dân mà đại diện là các nhân sĩ, trí thức và chuyên viên các ngành được tham gia việc nước, đồng thời thực hiện khẩu hiệu Dân Vi Quư của Hoàng Đế Bảo Đại. Bước đầu tiên là việc Vua Bảo Đại tham khảo ư kiến các quan lại, trí thức nhằm thành lập chính phủ đầu tiên cho nước Việt Nam độc lập thay thế cho Nội Các Phạm Quỳnh đă từ chức. Với bước tiến thứ hai, vào khoảng từ trung tuần tháng sáu đến thượng tuần tháng bảy, vừa nhằm chiêu dụ nhân tài, vừa nhằm tạo cơ hội cho người dân được góp phần vào việc đặt nền tảng và thiết lập các cơ ch căn bản cho mọi phạm vi sinh hoạt lâu dài của đất nước, bốn hội đồng đă được thành lập qua ba đạo dụ và một đạo sắc. Bốn hội đồng này gồm có:

Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp, do Phan Anh làm Thuyết Tŕnh Viên gồm có các ông Phan Anh, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long, Vũ Đ́nh Hoè, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Huy Lai, Đặng Thái Mai, Vương Quang Nhường, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Văn Sâm, Nhượng Tống, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Thinh và Nguyễn Trác (Dụ số 60 ngày 7 tháng 7 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 7 tháng 7 năm 1945). Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính, do Vũ Văn Hiền làm Thuyết Tŕnh Viên, gồm có các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Ân, Trần Văn Chương, Phạm Khắc Hoè, Lê Quang Hộ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoát, Trần Văn Lư, Trần Đ́nh Nam, Nguyễn Khắc Niêm, Đặng Như Nhơn, Dương Tấn Tài, Nguyễn Hữu Tảo, Trịnh Đ́nh Thảo và Phan Kế Toại (Dụ số 70 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 9 tháng 7 năm 1945). Hội Đồng Cải Cách Giáo dục, do Hoàng Xuân Hăn làm Thuyết Tŕnh Viên, gồm có Bà Hoàng Thị Nga, các ông Hoàng Xuân Hăn, Tạ Quang Bửu, Kha Vạng Cân, Nguyên Văn Chi, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thành Giung, Ngụy Như Kontum, Bùi Kỷ, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Quang Oánh, Ưng Quả, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Đạo Thúy và Nguyễn Xiển (Dụ số 71 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 10 tháng 7 năm 1945).
Hội Đồng Thanh Niên. Hội Đồng này gồm có

Chủ Tịch: Hoàng Đạo Thúy

Phó Chủ Tịch: Trần Duy Hưng, Bắc Chi Bộ

Phó Chủ Tịch: Tạ Quang Bửu, Nam Chi Bộ

Cố Vấn Bắc Chi Bộ: Bà Nguyễn Thị Thục Viên, các ông Nguyễn Xiển, Phạm Thành Vinh, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Xuân Phương, Trần Văn Quư, Phan Huy Quát, Ngụy Như Kon-tum, Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tường Bách.

Cố Vấn Nam Chi Bộ: Bà Nguyễn Đ́nh Chi, các ông Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Tôn Quang Phiệt, Kha Vạng Cân, Nguyễn Tư Vinh, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Kinh Chi và Thái Can (Sắc số 65 ngày 15 tháng 6 năm 1945)[2]

Khi đọc danh sách các hội viên được đề nghị tham gia các hội đồng kể trên để tŕnh lên Hoàng Đế Bảo Đại phê duyệt, Phạm Khắc Hoè tỏ ư thắc mắc là có tên những người ông “chưa từng thấy bao giờ” nên đă hỏi Trần Trọng Kim và được Trần Trọng Kim cho biết là các danh sách này “đă được toàn thể Nội các và nhất là các ông bộ trưởng thuyết tŕnh viên đồng ư cả rồi, tuy chưa hỏi được ư kiến của tất cả những người hữu quan, song chắc họ vui ḷng nhận cả, v́ lúc này ai mà chẳng sẵn sàng ra thờ vua giúp nước” và nói thêm “Vậy ông chịu khó xin Hoàng Đế phê chuẩn đi cho kịp thời, đừng nên hỏi đi hỏi lại nữa.” Kết quả, theo lời Phạm Khắc Hoè, là“chỉ mấy phút sau, bốn dự thảo của nội các trở thành ba đạo dụ và một đạo sắc chính thức.”[3] Những lời đối thoại này cho ta thấy tính cách hữu hiệu và làm việc chạy theo thời gian của Trần Trọng Kim và nội các của ông dù đó mới chỉ là ban hành được những đạo dụ hay đạo sắc để làm nền tảng pháp lư cho những bước kế tiếp trong tương lai. Nó cũng nói lên tính cách hữu hiệu của chế độ quân chủ chuyên chế và sự tin tưởng của Hoàng Đế Bảo Đại vào vị thủ tướng và nội các đương thời, v́ b́nh thường những quyết định liên hệ đến thể chế và những cơ chế tương lai trong một quốc gia dân chủ b́nh thường không thể nào có thể thực hiện được trong ṿng trên dưới hai tháng tính từ ngày Nội Các Trần Trọng Kim họp phiên họp đầu tiên, ngày 8 tháng 5, đến ngày 10 tháng 7, ngày đạo dụ cuối cùng trong bốn đạo sắc dụ này được đệ tŕnh, rồi được vị nguyên thủ quốc gia phê chuẩn trong có“mấy phút sau”. Một thời gian kỷ lục. Cũng nên để ư là các vị bộ trưởng được Trần Trọng Kim nói đến ở đây là Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Hiền và Bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hăn. Cả ba, ngoài bằng cấp chuyên môn, đều là những chuyên viên hàng đầu của Việt Nam thời đó. Họ là những người từ lâu đă t́m hiểu, nghiên cứu và viết những những bài tham khảo bàn về những lănh vực riêng của ḿnh và là những cây bút ṇng cốt của tờ Thanh Nghị, một thứ “think tank” của chính phủ đương thời. Đây cũng là dịp để họ thi thố tài năng và thực thi hoài băo mà từ lâu họ đă từng thai nghén. Cũng nên nhớ là thành ngữ “thờ vua giúp nước” cho đến thời điểm này vẫn chưa trở thành lạc hậu. Thế nhưng họ vẫn bị Phạm Khắc Hoè cản trở và mỉa mai. (Chú thích)

“Tuần lễ của các Tự Do”

Đây là sự ban hành một số những đạo dụ ấn định những nguyên tắc liên hệ đến các quyền tự do căn bản của người dân. Ba đạo dụ sau đây đă được báo Thanh Nghị số 117, ra ngày 21 tháng Bảy năm 1945[4] ghi nhận theo thứ tự thời gian gồm có:

1. Dụ số 73, ngày 26 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 5 tháng 7 dương lịch năm 1945 về tự do lập nghiệp đoàn.

2. Dụ số 78, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do lập hội.

3. Dụ số 79, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do hội họp.

Cả ba đạo dụ này đă được ban hành trong một thời gian ngắn là thượng tuần tháng bảy năm 1945 và Thanh Nghị đă gọi tuần lễ này là “Tuần của các Tự Do.”
Về chi tiết, báo Thanh Nghị tóm tắt như sau: Tự do lập hội: Từ nay phàm người công dân Việt Nam ai nấy đều có quyền lập những hội có mục đích chính trị, văn hóa, tôn giáo hay xă hội, ngoài những hội có mục đích kiếm lợi. Chỉ cần mục đích của hội không trái với pháp luật, luân lư hoặc là có hại đến nền duy nhất và sự toàn vẹn của lănh thổ quốc gia. Nhưng cần phải báo trước với nhà chức trách ít nhất là 30 ngày trước khi hoạt động. Muốn phân biệt các hội do đạo Dụ số 78 với các hội có mục đích kiếm lợi phải xét xem các hội viên có chia lăi cho nhau hay không? Nếu chia lăi th́ tất phải theo những luật lệ hiện hành về các hội buôn. Nhiều người hội họp với nhau nhiều lần cũng lại không họp thành một hội v́ không có điều lệ để hội viên theo. Cho nên trong tờ khai phải đính theo cả bản điều lệ của hội ḿnh định sáng lập.

Hội có thể tự giải tán (theo điều lệ hay theo ư muốn toàn thể hội viên) hay bị toà án giải tán, nếu mục đích trái với pháp luật, luân lư, hại tới quốc gia, nếu không khai báo cho đúng thể lệ (chưa kể những sự trừng phạt về tội h́nh những người có trách nhiệm). Tài sản của hội khi đó sẽ phân phát theo điều lệ của hội, theo quyết định của đại hội đồng của hội hay theo lệnh của toà.

Có hai thứ hội: hội thường và hội được Hội Đồng Nội Các công nhận là một hội có ich lợi chung. Hội thường có quyền tố tụng, thu nhập tiền đóng góp của hội viên, có quyền mua, quyền sở hữu và quản lư nhà hội quán, quản trị những bất động sản mà bộ Nội Vụ và Tài Chính cho phép mua. C̣n hội được chính quyền công nhận là có ích lợi chung th́ ngoài những quyền này c̣n có quyền được nhận những tặng dữ.

Tự do hội họp: Người dân được quyền tự do hội họp nhưng Dụ số 72 phân biệt hai thứ hội họp là hội họp trong tư gia có tính cách gia đ́nh hay lễ nghi và các hội họp ở những nơi công cộng.

Đối với các hội họp trong gia đ́nh hay lễ nghi hay những hội họp của các hội tư nhóm họp trong tư gia với số người tham dự không quá 30 người, người triệu tập không cần phải khai báo. Các cuộc hội họp khác cũng được tự do nhưng phải khai báo với nhà chức trách. Tất cả các cuộc hội họp ở các nơi công cộng như họp ở ngoài đượng phố, trong các công viên hay các thị xă đều phải xin phép trước. Giờ họp không được quá 12 giờ đêm trừ khi có phép riêng. Ngoài ra một nhân viên hành chánh hay tư pháp cũng có quyền tới dự.

Tự do lập nghiệp đoàn: Việc lập nghiệp đoàn cũng được coi như quyền tự do của người dân với những quy luật được ấn định trong Dụ số 73, theo đó, để tránh không cho những hội kiếm lợi giả danh làm nghiệp đoàn với mục tiêu trốn thuế, các nghiệp đoàn bị cấm không được chia lời cho các đoàn viên và khi giải tán th́ của cải không được đem chia cho các đoàn viên. Đồng thời để bảo vệ những người trong nghề, dụ này cấm không cho nghiệp đoàn cưỡng ép những người này phải gia nhập hay bắt đoàn viên phải ở lại trong nghiệp đoàn vĩnh viễn nhưng ngược lại cho phép nghiệp đoàn được từ chối không nhận một người làm đoàn viên theo điều lệ của ḿnh. Mặt khác, nghiệp đoàn có tư cách pháp nhân trong việc bảo vệ các quyền lợi của ḿnh, có quyền sở hữu các động sản hay bất động sản nếu xin phép, có quyền liên kết với nhau để thành lập các liên đoàn và về phía chính quyền, chính quyền có quyền cử nguời kiểm soát việc quản lư tài chánh của nghiệp đoàn hay liên đoàn. Cuối cùng v́ nghiệp đoàn là một tổ chức có thể dùng để tranh đấu nên người sáng lập bắt buộc phải có quốc tịch Việt Nam và phải ở trong nghề ít nhất một năm. V́ ba đạo luật kể trên đă được ban hành trong thượng tuần tháng 7 năm 1945 nên tác giả của bài báo gợi ư gọi tuần lễ này là “Tuần Lễ Của Các Tự Do”. Mặt khác nếu người ta theo dơi những cuộc hội họp của người dân ở cả hai miền Trung và Bắc đă diễn ra liên tiếp từ ngày 10 tháng 3, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, đặc biệt là ở Huế và Hà Nội với hàng vạn người tham dự một cách tự do, thoải mái, th́ sự ban hành các đạo dụ này “đă làm hợp pháp một t́nh trạng riêng của các tỉnh ở Bắc Bộ Việt Nam v́ từ sau ngày 9 tháng 3 các hội, các đoàn mọc lên như nấm, các cuộc hội họp công khai tự do vô cùng”.[5]

Kết Luận

Tất cả các công tŕnh lớn lao kể trên đă được Hoàng Đế Bảo Đại, Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn và trong một thời gian kỷ lục chưa tới ba tháng ngắn ngủi kể từ ngày 8 tháng 5 khi chính phủ này được tŕnh diện đến ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi chính phủ này từ chức và được Hoàng Đế Bảo Đại cho phép, ngắn hơn nữa nếu tính đến ngày 9 tháng 7, ngày các Dụ số 78 về Tự Do Lập Hội và số 79 về Tự Do Hội Họp được nhà vua chấp nhận. Đây là một phần của một cuộc cải cách rộng lớn hơn bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt đương thời, gọi theo Sử Gia Na Uy Stein Tonnesson là “từ trên xuống”, c̣n gọi theo Vũ Ngự Chiêu th́ đó là một cuộc cách mạng cũng từ trên xuống: “cách mạng từ trên xuống”. Cả hai sử gia này đều có lư v́ tính cách nhanh chóng ít ai có thể ngờ của nó. Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm sao nó có thể xảy ra được trong một chế độ quân chủ chuyên chế đă từng tồn tại cả ngàn năm như vậy? Có ba sự kiện người ta có thể nghĩ tới để trả lời câu hỏi này. Đó là ư muốn của người cầm đầu hay đúng thực hiện cuộc cải cách theo ư muốn của vị nguyên thủ quốc gia ấy và cuối cùng là sự đón nhận của dư luận đương thời. Cả ba sự kiện này Đế QuốcViệt Nam ở thời điểm đương thời đều có đủ. Từ Vua Bảo Đại đến Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng đều là những người được huấn luyện đầy đủ, có kiến thức và nhất là có thực tâm, tha thiết với nền độc lập và sự tiến bộ của nước nhà. Điều đáng tiếc là biến cố 19 tháng 8 đă xảy ra, Việt Minh cướp chính quyền và tất cả đều đă bị dẹp bỏ, điển h́nh là ngày 22 tháng 9 năm 1945, 20 ngày sau khi tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh kư sắc lệnh băi bỏ các nghiệp đoàn trong toàn cơi Việt Nam[6] và Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Vơ Nguyên Giáp kư NghịĐịnh ngày 14 tháng 9 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức trong khi cùng ngày lại kư một nghị định khác “cấp năng lực pháp luật”[7] cho hội “Văn Hoá Cứu Quốc Việt Nam” (Việt Minh)[8].

Cuối cùng th́ sau 70 năm, cho đến tận ngày hôm nay khi bài này được viết, bất chấp mọi sự hy sinh, gian khổ, máu và nước mắt của hàng triệu đồng bào,Tự Do và Dân Chủ, Công Bằng và Bác Ái vẫn nguyên vẹn chỉ là niềm mơ ước hầu như c̣n lâu mới đạt được của người dân Việt. Phạm Cao Dương

Viết để tưởng niệm các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hăn, những người đă góp phần xây dựng nền giáo dục mới cho nước Việt Nam độc lập và một thế hệ trí thức mới đă đứng ra làm việc nước

[1]Đoàn Trung C̣n, dịch giả, Tứ Thư, Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Quyển Bảy, “Chương Sau: Tận Tâm”. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 2000, tr. 263.- Nguyễn Đức Lân (dịch và chú giải), Tứ Thư Tập Chú, “Mạnh Tử, ChươngXIV, Tân Tâm, Chương Cú Hạ”. Hà nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1999, tr. 1346.- Nguyễn Hiến Lê, Mạnh Tử. Saigon: Cảo Thơm, 1975; Nhà Xuất Bản Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, Los Alamitos, CA, tr. 58. – Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng Trọn Bộ. Houston: Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm, tr. 463.-Bàn về khẩu hiệu này, Phạm Khắc Hoè, Ngự Tiền Tổng Lư Văn Pḥng của Vua Bảo Đại và là người thân Việt Minh nằm trong Đại Nội bên cạnh nhà vua cho là do một người nào đó “mớm” cho nhà vua chứ Bảo Đại không thể có ư tưởng đó được. Nhận xét này nhiều phần không đúng nếu ta để ư tới căn bản giáo dục mà Bảo Đại nhận được xuyên qua Phụ Đạo Lê Nhữ Lâm từ hồi ông mới 6 tuổi rồi sau đó theo ông sang Pháp trong suốt thời gian ông ở Pháp để dạy ông về đạo làm vua theo truyền thống Việt Nam trong đó có Khổng Giáo, tiếp theo là những ǵ ông làm trong thời kỳ cải cách trước đó và những ǵ ông viết trong hồi kư sau này của ông. Xem thêm Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đ́nh Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1987, tr. 22-23.

[2]Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đ́nh Huế…, dẫn trên, tr. 41-43.
[3] - như trên -, tr. 41.
[4]Trong mục “Đời Sống Đông Dương qua bài báo nhan đề“Mấy Đạo Dụ về Tự
Do”, tr. 23-25.
[5]- như trên-, tr. 25
[6]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, số 2, 6 Tháng Mười 1945, “Mục Lục Công
Báo ngày 6 tháng 10 năm 1945”
[7]Tư cách pháp nhân
[8]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, dẫn trên.

 

NH̀N LẠI M̀NH 62 NĂM VỀ TRƯỚC

 

Tôi măn Khoá Peleton I Vệ Binh, được thăng cấp Hạ sĩ Nhất v́ đậu thủ khoa, trở về Đại đội đang đóng quân tại thị xả Quảng Yên làm việc được khoảng một tháng sau th́ Thiếu Úy Boulanger Đại đội trưởng được thăng cấp Trung Úy, và nhận được lệnh ra Hongay thành lập Bộ Chỉ huy Liên đoàn Tự trị Vệ Binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ (Groupe Autonome de la Garde Frontalière de l’Est Tonkinois) để chỉ huy một số Đại đội Vệ Binh đang trấn giữ các vị trí an ninh ṿng bên Vịnh Hạ Long là Hongay, Cẩm Phả, Băi Cháy, và Quảng Yên. Tôi là một trong những người được ông đem theo để thành lập Bộ Tham mưu Liên đoàn, đóng trong một biệt thự to rộng ba tầng lầu nguyên thuộc sở Quan Thuế Pháp ngày xưa trên một đỉnh núi tại thị xă Hongay nh́n ra Vịnh Hạ Long.

Làm việc tại Bộ Tham mưu mới này, Tôi thường xuyên phải đi theo làm thông dịch viên cho Liên đoàn trưởng trong những dịp thanh tra các Đại đội bằng thuyền buồm có động cơ, ngoài công việc hàng ngày là thư kư đánh máy (nhưng có nhiều văn thư thuộc loại Mật và Tối Mật được giao cho các Trung sĩ người Pháp đánh máy chứ không phải Tôi), nhật tu các hồ sơ quân số các Đại đội, và phụ trách việc tổng kết t́nh h́nh quân sự hàng đêm do các Đại đội gửi về tŕnh lên Liên đoàn trưởng y như Hạ sĩ quan thường vụ của Liên đoàn vậy. Ngoài ra Trung Úy Boulanger c̣n đưa cho Tôi những cuốn cẩm nang huấn luyện chỉ dẫn các trách vụ của Hạ sĩ quan thuộc Vệ Binh Pháp để t́m học. Nhờ vậy, Tôi mới thấy rằng quân đội cũng là một ngành nghề chuyên nghiệp quan trọng trong xă hội, làm Tôi thích thú, khác hẳn với mục đích ban đầu của Tôi là nhập ngũ để có cơ hội thoát khỏi thị xă Lạng Sơn miền thượng du, xuống Hà Nội phục vụ cho hết hạn kỳ t́nh nguyện 2 năm th́ giải ngũ để trở về đời sống dân sự, tiếp tục học các ngành nghề khác có lợi ích hơn cho xă hội và cuộc sống sau này của bản thân.

Tại Hongay, các văn pḥng làm việc của Bộ Chỉ Huy Liên đoàn và nơi cư ngụ của Liên đoàn trưởng và các nhân viên thuộc Ban tham mưu và lính pḥng vệ BCH Liên đoàn, cũng đều ở trong cùng một biệt thự, thành ra tất cả cấp chỉ huy và nhân viên thuộc quyền đều thấy mặt nhau thường xuyên suốt ngày đêm.

Hai tháng trôi qua, từ Hà Nội, một ông Đại Úy Vệ binh Pháp tên Fauvel mới ở Pháp sang, đến nhận trách nhiệm làm Liên đoàn trưởng thay thế Trung Úy Boulanger trở về làm Đại đội trưởng Đại đội 4 tại thị xă Quảng Yên như cũ. Tôi cảm thấy rất buồn v́ phải ở lại không được đi theo Trung Úy Boulanger, một vị chỉ huy trẻ trung vui tính lúc nào cũng tỏ ra rất nhân hậu phóng khoáng dân chủ, nêntoàn thể nhân viên người Pháp cũng như Việt rất quư mến.

Chắc là đă được Trung Úy Boulanger giới thiệu sao đó, nên Đại Úy Fauvel cư xử với Tôi cũng rất lịch thiệp y như cư xử với các Hạ sĩ quan người Pháp vậy. Ông này tuổi cỡ xấp xỉ 40, già hơn Trung Úy Boulanger cả chục tuổi, tính t́nh rất điềm đạm, tốt bạn và rất cởi mở b́nh dân, coi Tôi như con. Những lúc rảnh sau bữa cơm tối, ông thường hỏi truyện Tôi về Đạo Cao Đài, v́ ông đang nghiên cứu về Đạo này. Tôi thú nhận là có nghe nói tại tỉnh Tây Ninh gần thành phố Saigon, là nơi có Thánh Thất lớn của Đạo Cao Đài, và h́nh như Đạo này thờ cả Chúa Cứu Thế, Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng nhiều Vị Thánh hiền, danh nhân khác như Victor Hugo, Trần Hưng Đạo, Khổng Phu Tử…, và đặc biệt dùng h́nh ảnh tượng chưng cho Đạo bằng h́nh MỘT CON MẮT nằm trong h́nh tam giác cân, chớ không phải là h́nh CHỮ VẠN của Đạo Phật, hay THẬP TỰ GIÁ của Thiên Chuá Giáo, và Tôi cũng không biết rơ về nguồn gốc và Tôn chỉ của Đạo này ra sao. Đại Úy Fauvel đă đưa cho Tôi mượn cuốn Le Caodaisme để tham khảo t́m hiểu.

Tôi làm việc dưới quyền Đại Úy Fauvel chưa được trọn tháng, th́ một buổi tối sau bữa cơm, ông gọi Tôi vào văn pḥng đưa cho một tờ Sự vụ lệnh (Ordre de mission) mà ông đă kư và do ai đánh máy chứ không phải Tôi, để sáng sớm mai lên đường có xe đưa đi Hà Nội. Tôi ngạc nhiên hỏi để làm ǵ, th́ ông ấy cười nói là:“Đại Tá Tư lệnh Lực lượng Vệ Binh Bắc Kỳ, gửi điện văn ra lệnh phải cho anh tŕnh diện Bộ Tư lệnh tại trại Ngọc Hà ở Hà Nội gấp, để đưa anh đi Huế nhập học khoá đào tạo Sĩ quan Việt Nam, theo quyết định của Bộ Quốc Pḥng Chính phủ Quốc gia Việt Nam.”

Tôi sửng sốt và lo lắng nói: “Úi chà! học làm sĩ quan à, liệu Tôi đủ khả năng theo học không Đại Úy?” Ông ta cười thân mật vỗ vai Tôi nói: “Tôi mừng cho anh, tương lai của anh sáng sủa lắm, chịu khó cố gắng. Tôi tin rằng anh sẽ đạt được kếtquả tốt.”

Sáng hôm sau, xe đưa Tôi và một số nhân viên đi công tác tại Hà Nội rời Hongay, qua phà Băi Cháy (Tôi nhớ h́nh như Pháp gọi là Watchay) để đi theo Quốc lộ 10 về qua Quảng Yên, Núi Đèo sang Hải Pḥng đi Hà Nội. Nhưng khi xe tới thị xă Quảng Yên th́ trời đă xế chiều, nên phải ghé BCH Đại đội 4, nay đă di chuyển vào làng Yên Tŕ, để nghỉ qua đêm. Tôi cảm thấy rất thích thú có được dịp gặp lại Trung Úy Boulanger trước khi lên đường. Thầy tṛ cũ gặp nhau, tay bắt mặt mừng, và khi được Tôi tŕnh bầy lư do sự ra đi của Tôi, th́ thấy Trung Úy Boulanger không tỏ vẻ ngạc nhiên ǵ cả. Ông chậm răi chúc Tôi đi đường b́nh an may mắn và kết luận: “Tôi đă biết trước về sự việc này sẽ xẩy đến với anh, nhưng không ngờ lại nhanh như vậy. Khi nào tới nơi, nhớ biên thư về đây, Tôi sẽ gửi tiếp những tài liệu cần thiết khác giúp anh học thêm ngoài những ǵ nhà trường sẽ chỉ dạy.” Lúc đó Tôi mới hiểu ra rằng chính Trung Úy Boulanger là ân nhân đă đề nghị cho Tôi theo học khoá đào tạo sĩ quan này từ khi ông đang c̣n làm Liên đoàn trưởng, và do đó ông đă tạo môi trường khích lệ Tôi phải t́m học những điều cần am hiểu kỹ càng về quân đội trước khi đi học Khoá sĩ quan, mà Tôi không hề biết. Sáng hôm sau, chúng tôi rời Quảng Yên tiếp tục cuộc hành tŕnh, măi đến chiều tối xe mới tới Hậu Cứ của BCH Liên đoàn Vệ binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ, đóng trong khu gia binh gần vận động trường Ngọc Hà. Hôm đó là ngày Thứ Tư trong tuần, đến sáng Thứ Bẩy mới là ngày phải tŕnh diện Bộ Tư lệnh Vệ binh Bắc Kỳ để làm thủ tục. Lợi dụng cơ hội được hai ngày nghỉ xả hơi, Tôi đi thăm khu Văn Miếu, Đền Quan Thánh bên cạnh Hồ Tây, Đền Ngọc Sơn giữa Hồ Hoàn Kiếm, và Chùa Một Cột, để cầu xin quư Vị Linh Thần Tiền Nhân của ḍng giống Tiên Rồng phù hộ cho Tôi gặp nhiều may mắn trong tương lai sự nghiệp của ḿnh. Sáng Thứ Bẩy, xe Hậu Cứ đưa Tôi (mang theo quân trang mới) đến tŕnh diện tại Trại Ngọc Hà, nơi hồi đầu năm Tôi theo học Khoá Peleton-1. Đến nơi, thấy khoảng hơn chục anh em cũng trạc tuổi hoặc hơn Tôi vài bốn tuổi, đă có mặt ở đó từ trước. Chỉ có 5 người quen là Trung sĩ (TS) Nguyễn Khắc Thăng, TS Đàm Quang Yêu, TS Nguyễn Bá Liêm và TS Lê văn Nhật. Hồi Tôi là Binh Nhất học Peleton-1 để ra Hạ sĩ, th́ các anh ấy đă là Hạ sĩ vừa tốt nghiệp Peleton-1 được lưu giữ ở lại học tiếp Peleton-2 để ra Trung sĩ. C̣n những người kia, biết được tên là nhờ xem tờ Sụ Vụ Lệnh do anh Thăng làm trưởng toán cầm giữ, đó là Binh Nh́ (B2) Bùi Đ́nh Đạm, B2 Nguyễn văn Thản, Hạ sĩ (HS) Đàm Quang Quảng, HS Đàm Quang Đột, HS Phạm văn Khái, HS Đỗ văn Tâm, HS Phan Huy Chương, HS Phạm Ngần, và Nguyễn văn Thành mang cấp bậc Hạ sĩ Nhất như Tôi, nhưng lớn hơn chúng tôi cả chục tuổi lận (sau này đang học mới được hơn tháng th́ anh ấy rời trường không học tiếp, không biết v́ lư do ǵ). Như vậy, tổng cộng nhóm chúng tôi gồm cả thầy 14 người, chia ra: 4 Trung sĩ, 2 Hạ sĩ Nhất, 6 Hạ sĩ, và 2 Binh Nh́.

Đến khoảng 9 giờ, tât cả chúng tôi được một Thượng sĩ Pháp đến mời lên xe để di chuyển qua cầu Long Biên sang phi trường Gia Lâm. Chúng tôi biết ngay là đi bằng máy bay Hàng không dân sự, v́ nếu đi máy bay quân sự th́ phải tới phi trường Bạch Mai ngay gần Ngă Tư Vọng. Vào tới phi trường Gia Lâm, mọi người được hướng dẫn vào làm thủ tục ghi danh, cân hành lư đi máy bay của hăng SITA, loại máy bay hai động cơ, cửa cho hành khách lên xuống được mở ra ở phía đầu phi cơ, ngay phiá bên dưới pḥng lái của phi hành đoàn. Đi chung phi cơ với chúng tôi là khoảng 20 hành khách dân sự.

Làm xong thủ tục, chúng tôi được dẫn vào pḥng đợi giờ lên phi cơ, th́ Đại Tá Tư lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ và Đại úy Fauvel Liên đoàn trưởng Vệ Binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ bước vào thăm hỏi bắt tay chúng tôi. Họ chúc chúng tôi đi đường b́nh an, giữ ǵn sức khoẻ cho tốt, và nhất là chăm chỉ học hành đạt kết quả tốt, để sau này về chỉ huy các đơn vị Vệ Binh.

Sau khoảng hơn một giờ bay cao tít trên các tầng mây, máy bay bắt đầu hạ cao độ lượn ṿng đáp xuống phi trường Phú Bài gần Huế. Đây là một phi trường dùng chung cho cả máy bay quân sự và dân sự, nằm dài trên dải đất giữa Biển Đông và dẫy Trường Sơn trùng điệp cao vút rậm rạp cây rừng. Trung úy An thuộc Bộ chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn (do Đại úy Nguyễn Ngọc Lễ chỉ huy, về sau các đơn vị Việt Binh Đoàn được cải biến thành các Tiều đoàn Bộ binh Quân đội Quốc gia Việt Nam, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà ông Lễ đă được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cất nhắc thăng cho lên đến cấp Trung Tướng) đợi đón chúng tôi và hướng dẫn về Trường. Trung Úy An là sĩ quan phụ trách về hành chánh và tiếp vận của Lực lượng Việt Binh Đoàn.

Xe chở chúng tôi rời phi trường chạy trên quốc lộ song hành với đường xe lửa xuyên Việt, được khoảng mấy chục cây số th́ qua gần bên chân núi Ngự B́nh (nơi có Trường huấn luyện Hạ sĩ quan cho Lực lượng Việt Binh Đoàn, có ga xe lửa An Cựu, có doanh trại của đơn vị Thiếp giáp Pháp), qua chợ An Cựu, qua thêm một quăng đồng trống th́ bắt đầu vào Khu Pháp (quartier francais) bên tả ngạn sông Hương của Thị xă Huế. Xe đến đầu cầu Tràng Tiền rẽ phải theo con đường Lê Lợi đi về phía Đập Đá trên đường đi Phú Vang chớ không qua cầu, được chừng mấy trăm thước th́ đến Trường.

Trường là một khu biệt thự rộng, bề ngang 400 mét và sâu khoảng 200 mét, nằm bên phiá trái đường sát bên bờ sông Hương, đối diện với chợ Đông Ba phía bên kia sông.. Suốt mặt tiền Trường sát ngay bên lề phố là một dẫy tường gạch cao 2 mét, ở khoảng giữa có một cổng rộng chừng 8 mét, phiá trên gắn bảng hiệu h́nh ṿng cung sơn mầu xanh lá cây, trên kẻ chữ mầu vàng “ECOLE DES OFFICIERS VIETNAMIENS”. Hông bên trái Trường hướng Tây sát với các nhà dân, được ngăn bằng một hàng rào kẽm gai cao 2 mét đan ô vuông dầy 20 phân, từ lề đường phố thẳng tuốt xuống tận bờ sông Hương, và có một cổng phụ cho xe hơi tiếp vận ra vào Trường. Hông bên phải hướng Đông có một dẫy tường đá dầy 40 phân, cao hơn 1 mét để ngăn cách với khu biệt thự kế bên cũng rất rộng đang bỏ trống không người ở.

Sau này vào năm 1951, khi đào tạo xong 2 khoá đầu tiên: Khoá 1 (Bảo Đại, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà đổi tên là Phan Bội Châu) và Khoá 2 (Quang Trung) th́ Trường di chuyển vào Đà Lạt bên cạnh hồ Saint Bennois, cải danh thành Trường Vơ Vị Liên Quân Đà Lạt (EMIAD=École Militaire Inter Armes DaLat), đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho xây cất cơ sở Trường mới gần Hồ Than Thở và cải danh thành Truờng Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam. Tính từ cuối năm 1948 cho đến 30-4-1975 Trường đă đào tạo cả thẩy được 31 Khoá cung cấp nhiều ngàn Thiếu Úy Hiện dịch cho Quân đội.

Sau khi Trường Sĩ Quan Việt Nam bên bờ sông Hương rời về Đà lạt, cơ sở cũ này được phá đi cùng với biệt thự bên cạnh để xây cất Trường Vơ bị Địa Phương (École Militaire Régionale) thuộc Quân Khu 2, làm nơi đào tạo các Chuẩn Úy (Aspirant) đáp ứng cho nhu cầu bành trướng của Quân đội. Mấy năm sau, Trường Vơ bị Địa phương giải tán, cơ sở này được giao cho Quân Vụ Thị Trấn Huế quản trị dùng làm Câu Lạc Bộ và nhà văng lai cho Sĩ quan độc thân. Sau trận Việt Cộng tấn công chiếm Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, Tôi được Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị dẫn đoàn Tổng thanh tra Quân đội hỗn hợp Việt-Mỹ ra quan sát duyệt xét t́nh trạng Quân Y Viện nằm trong thành Mang Cá kế bên Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (lúc đó do Đại Tá Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh), nên đă có dịp cư trú trong Câu lạc bộ Sĩ quan này bên cạnh bờ sông Hương.

Bước qua ngưỡng cổng chính của Trường vào trong, ngay bên phiá trái là một sân tập họp thật rộng, có dựng một cột cao treo cờ Quốc gia Việt Nam (nền vàng 3 sọc đỏ). Tiếp đến là một ngôi nhà ngói khoảng 400 mét vuông, dùng làm trụ sở của Ban Giám Đốc Trường gồm văn pḥng Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng, văn pḥng Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện, các văn pḥng của các sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khoá sinh, và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur). Phiá bên phải, sau cổng vào là Trạm kiểm soát gồm văn pḥng Sĩ quan trực nhật, Pḥng Y tế, và nơi ngủ của các lính canh pḥng doanh trại. Kế đến là một dẫy nhà dài khoảng 50 mét, rộng 8 mét, dùng làm pḥng ăn tập thể cho khoá sinh, đồng thời cũng dùng làm Giảng Đường lớn khi phải tập trung toàn Khoá. Ngay sau lưng Trạm kiểm soát và Nhà Ăn tập thể, có 3 dẫy nhà khác nhỏ và ngắn hơn, dung làm pḥng học và sinh hoạt riêng cho từng Trung đội Khoá sinh. Tất cả các dẫy nhà đều lợp mái bằng gốc dạ rất dầy, tường chung quanh là liếp nứa đan. Mỗi nhà chỉ có 2 cửa ra vào tại 2 đầu nhà, dọc hai bên nhà là 2 dẫy cửa sổ rộng có cánh liếp nâng lên hạ xuống được để thông thoáng gió và cho ánh sáng lọt vào nhà những khi không bật đèn.

Bên trong Nhà Ăn, ngoài lối đi rộng hơn 1 mét ở chính giữa, suốt chiều dài của nhà có kê 2 dẫy bàn dài bề ngang 1 mét với những dẫy ghế dài không lưng tựa dọc 2 bên để làm bàn ăn, và bàn viết khi cả khoá tập trung nghe các giảng viên ngoài đến thuyết tŕnh. Đến giờ ăn, các Trung đội tập họp ngoài sân rồi lần lượt theo nhau vào kiếm chỗ ngồi ăn 4 người một mâm. Cơm và thức ăn đă được nhân viên nhà bếp (do nhà thầu tư nhân đảm trách) bầy sẵn từng mâm có lồng bàn đậy cản ruồi trên các bàn. Thức ăn hàng bữa gồm 3 món (xào, mặn, và canh), nấu theo khẩu vị người Trung, và thường là hơi ít không đủ no. Bữa điểm tâm nào cũng là xôi đậu (ăn xường xượng như có lẫn gạo tẻ) chấm muối mè có bỏ thêm chút đường cát trắng. Đa số anh em thường phải ăn quà thêm, bún ḅ, cháo huyết, bánh ḿ cặp thịt, mua của các gia đ́nh tư nhân ở sát hàng rào bên hông Trường, hoặc bánh xèo “Mụ Béo” ngay bên kia đường trước cổng Trường, bán cho ăn chịu ghi sổ cuối tháng lănh lương mới trả.

Bên trong Nhà Học riêng của từng Trung đội Khoá sinh được trang trí y như trong một lớp dành cho các học tṛ Trung học vậy. Suốt bề dài căn nhà, kê 2 dẫy bàn học tṛ, loại bàn liền ghế cho 2 người ngồi chung. Nơi đầu pḥng có một bảng đen lớn và một bàn viết và ghế dành riêng cho Huấn luyện viên đến sinh hoạt với khoá sinh.

Phiá trong cùng của khu đất, song song dọc bờ sông Hương, có 2 dẫy nhà dài nối tiếp nhau dùng làm Nhà Ngủ cho Khoá sinh. Nhà xây tường gạch, mái lợp ngói, bề cao từ nền đến nóc khoảng 5 mét, không có lớp trần che cản sức nóng từ nóc nhà phả xuống, nên mùa Hè rất nóng và ngược lại mùa Đông rất lạnh. Dẫy phía bên trái được ngăn đôi, một nửa dùng làm kho và pḥng ngủ của Thượng Sĩ Nhất Lục Sĩ Mẫn, Hạ sĩ quan phụ trách Thường Vụ (service général) của Trường, c̣n nửa kia dành làm pḥng ngủ chung cho Khoá sinh thuộc Trung đội 1 (người từ miền Nam ra). Dẫy bên phải, nửa bên trái dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 2 (người miền Trung), và nửa bên phải dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 3 là chúng tôi từ miền Bắc vào.

Dọc theo chiều dài Nhà Ngủ, kê 2 dẫy giường cá nhân bằng gỗ, có cọc khung gỗ để giăng mùng chống muỗi riêng cho mỗi giường. Giường được kê từng cặp sát nhau, một đầu sát tường. Giữa mỗi cặp giường để chừa một khoảng cách 1 mét để hai người ngồi đối diện không dụng đầu gối chân của nhau. Mỗi giường có một chiếu bằng cói, và một nệm nằm nhồi cỏ khô và bông g̣n, có thể gập đôi lại được. Ban ngày, mùng phải tháo ra khỏi khung gập lại xếp ngăn nắp cùng với gối và mền, để phiá đầu giường sát tường, rồi gập đôi nệm đè lên sao cho thật vuông vắn đẹp mắt. Vali và túi đựng quần áo và tư trang riêng phải để gọn gang dưới gầm giường phía sát tường. Quần áo cá nhân cần giặt ủi, phải tập trung đưa nhà thầu nhận giao hàng ngày, hoặc tự mang ra các tiểm giặt ủi tư nhân ngay 2 bên đường phố cạnh Trường.

Tại một góc tường bên gần cửa ra vào nơi đầu nhà, có một giá gỗ để gác súng của Trung đội Khoá sinh. Mỗi Khoá sinh được cấp một khầu súng trường Garant riêng, để ǵn giữ lau chùi và xử dụng trong việc tập luyện thao tác cơ bản, duyệt binh, tác chiến, và tập bắn. Loại súng này hơi dài và nặng đối với những người có h́nh vóc nhỏ thó, nhưng bắn lại đầm không giật hậu mạnh như các loại Mousqueton và Mas 36, nên trong các kỳ thi bắn dễ đạt được điểm trúng bia rất cao.

Từ đầu Nhà Ngủ của chúng tôi ra đến bờ sông Hương có một con đường đất rộng khoảng 5 mét. Cuối đường là một sàn gỗ dài rộng khoảng 25 mét vuông, cao hơn mặt nước sông chừng 30 phân, dùng làm Cầu Bến Tắm Giặt cho khoá sinh. Bên phải con đường xuống Cầu Bến Tắm là Nhà Bếp. Đặc biệt nước song Hương trong vắt có thể nh́n suốt tận đáy, ban đêm nhiều thuyển nhỏ đốt đuốc soi sáng nơi đầu thuyền, bơi dọc ven sông để người ngồi trên dùng cây chĩa đôi bằng sắt đâm xuống nước để bắt cá.

Chúng tôi đến Trường đúng vào trưa ngày Thứ Bẩy nghỉ, tất cả Khoá sinh nhập Trường trước chúng tôi đều đi dạo phố hoặc về thăm gia đ́nh, nên Trường vắng tanh. Tuy nhiên nhà thầu đă được thông báo trước, nên đă chuẩn bị sẵn sàng cơm bữa cho chúng tôi dùng không phải ra phố.

Vừa ổn định chỗ nằm xong, anh Tôn Thất Tương (khoá sinh người miền Trung) đang thi hành trách vụ Sĩ quan Trực Nhật ghé vào thăm làm quen với chúng tôi. Anh Tương tự giới thiệu ḿnh là người thuộc Hoàng Tộc, nên có nhà ở ngay bên cạnh Viện Bảo Tàng của Triều đ́nh nhà Nguyễn trong Thành Nội. Anh rủ chúng tôi muốn đi xem, sáng sớm hôm sau là Chủ Nhật, anh ấy sẽ đến đón và dẫn đi coi. Các anh Liêm, Yêu, Nhật, Thản, Đột, Tâm và Tôi nhận lời nhờ anh Tương hướng dẫn.

Sáng hôm sau, anh Tương đến dẫn chúng tôi ra khỏi Trường, qua cầu Tràng Tiền, đổ xuống khoảng giữa đường Trần Hưng Đạo, rẽ trái đến Cửa Thượng Tứ để vào Thành Nội. Trước nhất, anh Tương dẫn chúng tôi vào giới thiệu với bà xă, sau đó đi thăm Viện Bảo Tàng (nơi lưu giữ chiếc ngai vàng để Vua ngồi, áo Cẩm Bào, Vương miện, và nhiều đồ quư khác bằng ngọc thạch hoặc vàng). Tiếp đó là Lầu Kiến Chung gần cửa Hoà B́nh (nơi Vua ngồi kư các Chiếu Chỉ, Sắc lệnh), rồi đến Điện Thái Hoà (nơi họp Đại Triều), sân trưng bầy Cửu Đỉnh (chín chiếc lư hương thật to cao hơn đầu người đúc bằng đồng), các Khẩu Thần Công, Kỳ Đài, Ngọ Môn Quan (chỉ mở để đón tiếp Sứ Thần các nước tới yết kiến Vua), Hồ Tĩnh Tâm gần thành Măng Cá.

Thăm Thành Nội xong, chúng tôi trở ra phiá Cửa Thượng Tứ, rẽ phải đi dọc theo con đường Nguyễn Hoàng, đến khoảng trước Ngọ Môn Quan băng qua đường để xem Phú Văn Lâu sát bên bờ sông Hương và Bến Trương Bạc. Tít xa, tận cùng đường Nguyễn Hoàng là cầu Bạch Hổ bằng sắt bắc ngang sông Hương, và Tháp Chùa Thiên Mụ.

Quay trở lại đầu cầu Tràng Tiên đi hết con đường Trần Hưng Đạo là Chợ Đông Ba, và Cầu Gia Hội (bên kia cầu có một nhà hàng cơm Tầu rất được khách sành ăn hâm mộ). Phiá sau và bên hông Chợ Đông Ba là bờ sông dầy đặc thuyền làm nhà ở, nhiều chiếc trong số này cho thuê để khách làng chơi ngày đêm xuống ăn nhậu mua vui nghe các ca nhạc sĩ cổ nhạc Ḥ Huế… Nh́n qua bên kia bờ sông, thấy 2 dẫy Nhà Ngủ của Khoá sinh chúng tôi và Nhà Bếp nằm dài tiếp nối nhau suốt bề ngang khu đất Trường, và chiếc Cầu Bến Tắm. Nh́n xuôi sang phiá trái thêm khoảng nữa là Đập Đá, và ngoài xa xa thấy Cồn Hến nổi lên bập bềnh cản ḍng chẩy của sông Hương.

Sáng Thứ Hai, tất cả mọi người tập họp ngồi chặt Nhà Ăn để làm thủ tục Khai giảng Khoá học. Lúc đó được coi là giây phút đầu tiên anh em toàn khoá thấy mặt nhau đầy đủ. Anh em Trung đội 3 chúng tôi có sĩ số ít nhất (chỉ có 14 người so với 2 Trung đội kia là 21 hoặc 22), số tuổi trung b́nh cũng trẻ nhất, và cấp bậc cũng nhỏ hơn các anh trong các Trung đội 1 và 2 toàn là Trung sĩ Nhất, Thượng sĩ và Thượng sĩ Nhất thâm niên. Có điều đặc biệt đáng chú ư là, quân phục của anh em không đồng nhất, v́ được tập trung từ nhiều loại đơn vị có nguồn gốc khác nhau trên toàn quốc.

Trước khi buổi lễ chính thức bắt đầu, Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện giới thiệu các Sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khoá sinh, và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur) của từng Trung đội. Trung Úy Scuanec và HSQ moniteur (không nhớ tên) phụ trách Trung đôi 1 gồm toàn người từ miền Nam ra. Trung Úy Peledieu và Adjudant Chef DO phụ trách Trung đội 2 gồm anh em thuộc miền Trung. Và người phụ trách Trung đội 3 chúng tôi là Trung Úy Besson và Sergent Kervenic (cả Trung Úy Besson và Trung sĩ Kervenic đều c̣n rất trẻ, tính t́nh rất hiền lành và tốt bạn, không như Thượng sĩ Nhất DO lúc nào cũng tỏ ra quan trọng và nghiêm khắc).

Buổi lễ khai mạc khoá rất đơn giản, không có khách bên ngoài tham dự. Chỉ có một ḿnh Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng vào ra mắt chào mừng chúng tôi, và nhắn nhủ mấy điểm chính yếu sau:

1.- V́ phần lớn đă là Hạ Sĩ Quan thâm niên có nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động quân đội, nên một phần Chương tŕnh của Khoá học được cắt bỏ bớt, do đó thời gian Khoá học sẽ ngắn hơn dự liệu khoảng 6 tháng.

2.- Kể từ ngày nhập Trường, ai chưa là Hạ sĩ Quan sẽ được thăng cấp Trung sĩ và lănh lương hàng tháng theo cấp bậc này, những người khác có cấp bậc cao hơn tiếp tục lănh lương theo cấp bậc hiện tại của ḿnh.

3.- Mọi người phải cố gắng học hành để đạt kết quả tốt, nhằm cung ứng nhu cầu Sĩ quan cho các đơn vị thuộc Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ bắt đầu thành lập vào năm 1949. Các Sĩ quan Huấn luyện viên toàn là những người tốt nghiệp từ Trường Vơ Bị Saint Cyr của Lục quân Pháp, sẽ giúp đỡ hướng dẫn các bạn học hành được dễ dàng, nếu có điều ǵ cảm thấy chưa thông hiểu rơ ràng cặn kẽ th́ đừng ngại ngùng tham vấn quư vị ấy giúp đỡ bổ túc cho.

4.- Nhà trường sẽ cung cấp ngay cho mọi người có đồng phục mới, để cho được đồng nhất, và cũng kể từ hôm nay không ai mang cấp bậc cũ của ḿnh nữa. Mọi người sẽ mang trên cầu vai áo huy hiệu Sinh Viên Sĩ Quan (kư hiệu Alpha bằng đồng mầu vàng gắn trên coulissant dạ (nỉ) mầu đen), đội calot nỉ đen, trên đỉnh mầu vàng và 2 bên cạnh viền chỉ kim tuyến. Như vậy mọi người sẽ nhận biết rơ ràng các bạn đang là Sinh viên của Trường đào tạo Sĩ quan Việt Nam, do đó các bạn phải giữ ǵn phong thái tư cách cho thật đàng hoàng, đừng làm ǵ tổn hại đến thanh danh cá nhân và Nhà Trường.

Đồng phục làm việc thường của chúng tôi là đồ short vải kaki vàng. Quần ống ngắn tới đầu gối, áo sơmi ngắn tay cổ bẻ, giầy da thấp cồ mầu nâu xậm, và tất (vớ) len dài tới dưới đầu gối cùng mầu với quần áo. Đồng phục dạo phố cũng bằng kaki, quần dài, áo sơmi dài tay với 2 túi ngực có nắp, cổ thắt cà vạt nỉ mỏng mầu ô-liu. Vào mùa Đông dùng quần áo dạ mầu ô-liu xậm (áo blouson). Mũ calô nỉ đen, đỉnh vàng, 2 bên viền kim tuyến, được dùng chung cho tất cả các loại đồng phục. Quần áo lănh về có người mặc không vừa phải thuê sửa lại. Những bạn dư giả tiền thích mặc quần áo đẹp, th́ đến các tiệm may ngoài phố đặt cắt may bằng những hàng vải kaki đẹp đắt tiền để chưng diện lúc ra đường cho được vừa ư. Có điều làm chúng tôi rất hănh diện là, từ ngày chúng tôi mặc đồng phục mang cầu vai Alpha ra đường, mọi Hạ sĩ quan và Binh sĩ gặp chúng tôi, họ đều chào kính chúng tôi đúng theo cung cách chào kính Sĩ quan vậy.

Một tuần lễ sau ngày khai giảng khoá học, có thêm 6 khoá sinh đến tŕnh diện. Ban Giám đốc bổ sung vào Trung đội 3 chúng tôi. Các bạn ấy là Nguyễn Hữu Có, Cao Hoàng Phiên (người miền Nam), Tôn Thất Đính, Lê Huy Luyện (người miền Trung), và Trần Thượng Phương, Khoái (Tôi không nhớ Họ, người miền Bắc). Anh Phương nguyên là Thượng sĩ Lính Khố Xanh (Garde Indigène) thời Pháp thuộc, tuổi đời cao hơn chúng tôi khoảng hai chục, là thân phụ của Trần Đ́nh Thọ sau này cũng theo học Trường Vơ bị Đà Lạt, và trước 30-4-1975 Trần Đ́nh Thọ đă được thăng lên đến Chuẩn Tướng làm Trưởng Pḥng 3 Bộ Tổng Tham Mưu.

Thế là tổng số Khoá sinh tăng lên 64 người. Nhưng ngày măn khoá chỉ có 63 người, v́ anh Thành già thuộc Trung đội chúng tôi bỏ học nửa chừng. Các môn học về tổ chức quân đội, lịch sử quân đội, lănh đạo chỉ huy, kỹ thuật tác chiến, lệnh hành quân, chức năng tổng quát quân vụ, xử dụng Liên binh, thể dục quân sự (EPM=Éducation Phisique Militaire), các trận Đại chiến Thế giới… đều do các Huấn luyện viên cơ hữu của Trường đảm trách giảng dạy. C̣n các môn chuyên nghiệp khác như trách vụ các Pḥng tham mưu, Hành chánh Tài chánh, Quân Nhu, Quân Cụ, Truyền Tin, Pháo binh, Công binh, Thông vận binh, Thiết giáp, Quân cảnh, Quân bưu, Hải quân, Không quân… đều do các Sĩ quan chỉ huy thuộc các ngành liên hệ được Ban Giám đốc trường mời đến thuyết giảng và khảo hạch.

Chương tŕnh học của chúng tôi gồm toàn các môn thuộc lănh vực quân sự, không có chút nào thuộc lănh vực bổ túc văn hoá tổng quát. Thời biểu học hàng ngày thường là buổi sáng học ngoài đồng, buổi chiều trong chu vi Nhà Trường. Băi tập thường xuyên hàng ngày là sân vận động Huế và các vùng phụ cận như: Xóm Mới, khu quán Cơm Âm Phủ, Chợ Cống. Thời gian học thực hành tác chiến trong thành phố th́ vào Thành Nội, tại vùng quanh sân bay,

Hồ Tĩnh Tâm và khu thành Măng Cá. Khi học các chương tŕnh hành quân băng đồng, lục soát làng xóm, bảo vệ xa lộ và thiết lộ, th́ xuống vùng quanh chân núi Ngự B́nh từ Ga An Cựu xuống tới phi trường Phú Bài. Băi tập luyện bắn và thi bắn các loại súng, nằm sát ngay bên Trung tâm huấn luyện Hạ sĩ quan Việt Binh Đoàn tại chân núi Ngự B́nh.

Ngày 21-1-1949 là Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu, Trường đóng cửa 1 tuần lễ, các bạn người miền Trung về nhà xum họp ăn Tết với gia đ́nh, các bạn người Nam và chúng tôi ở lại Trường ăn Tết với nhau. Trong thời gian rảnh rỗi này, mỗi người tùy theo túí tiền và sở thích, đi xem Chiếu bóng, Hát Bộ miền Trung, thưởng thức các món ăn tại các nhà hàng cơm Tây, cơm Tầu, cơm miền Trung, thuê thuyền thả trôi giữa ḍng Hương giang ăn nhậu nghe ca hát, hoặc đi các Chùa, Nhà Thờ cầu nguyện và ngắm người ta ăn diện quần áo mới, chứ không dạo phố v́ các tiệm buôn bán và Chợ đều đóng cửa ăn Tết.

Nhân dịp đầu Xuân, Tôi đă cảm hứng mấy vần thơ kỷ niệm sau đây:

XUÂN NHẬP CUỘC

Mưa Xuân bàng bạc phủ ḍng Hương,
Gió thoảng êm êm vuốt mái trường.
Vạn xác pháo tan hoà tiếng chúc,
Sáu ba (63) hiền họp kết t́nh thương.
Bên nhau thề quyết nung rèn chí,
Tốt nghiệp chung lưng giữ mối giềng.
Học hiệu Liên quân mừng đón Tết,
Tương lai hứa hẹn rạng như gương./.

Vào giai đoạn chót của Khoá học trước khi măn khoá, chúng tôi được đem đi “Thử Lửa” (Baptem au feu) bằng 2 đợt. Vào cuối tháng 4-1949, cả khoá tập thiết kế và thực hiện cuộc hành quân cấp Đại đội, đánh chiếm “làng cùi” (không người ở) trong vùng núi Bạch Mă, có Thiết vận xa trang bị Đại Liên 50, Súng Cối 81 ly tháp tùng, Pháo binh 105 tại Phi trường Phú Bài, và phi cơ khu trục từ Đà Nẵng ra, bắn đạn thật yểm trợ tại chiến trường theo yêu cầu.

Qua đầu tháng 5-1949, cả khoá lại được đưa đi quan sát mặt trận do Bộ chỉ huy Khu quân sự Pháp tại Huế khai triển cuộc hành quân đánh chiếm Chiến khu Lương Miêu của Việt Cộng. Chúng tôi được chia ra thành nhiều toán, ngồi trên các xe lội nước (amphibie) xuất phát từ cầu Bạch Hổ lội ngược ḍng sông Hương lên phía thượng nguồn đến tận khu vực xa hơn Lăng Gia Long. Đến khu vực hành quân, chúng tôi rời xe lội nước lên bờ thăm Bộ chỉ huy hành quân đóng trong các lều vải trên sườn đồi kế cận bờ sông, để nghe thuyết tŕnh về t́nh h́nh diễn tiến của mặt trận. Sau đó, băng rừng đi thăm các đơn vị đang giáp chiến, đến chiều tối mới lên tầu chuyển vận trên sông trở về Trường.

Để chuẩn bị cho lễ măn khoá, Ban Giám đốc trường đưa nhà thầu may quân phục vào đo cắt may cho chúng tôi mỗi người một bộ Đại Lễ bằng kaki (quần dài, áo bốn túi), một cặp cầu vai nỉ đen trên có gắn kư hiệu Alpha vàng phiá đầu vai, cờ Việt Nam ở chính giữa, và nút mạ vàng khắc con rồng nổi ở đầu cầu vai nơi sát cổ áo. Một nhà mát mái lợp dạ, ba bề vách lửng bằng cót cao hơn 1 mét, được dựng lên sát tường chiếm hết phần ba sân tập họp bên cột cờ, để làm khán đài kê ghế dành cho quan khách đến dự lễ. Giữa tháng 5-1949, Lễ Măn Khoá được tổ chức đưới sự chủ tọa của ông Phan văn Giáo Thủ Hiến Trung phần V́ệt Nam đại diện Quốc Trưởng Bảo Đại, với khoảng 100 quan khách Việt Pháp tham dự (trong đó có một số thân nhân của các bạn người miền Trung). Chương tŕnh diễn tiến như sau:

Nghi thức quân cách đón chào Chủ toạ,
Lễ thượng Quốc Kỳ Việt Nam (không có cờ Pháp),
Khoá sinh đồng ca bản Quốc Ca Việt Nam (Tiếng gọi Công dân),
Nhạc Tưởng niệm Tử Sĩ (ban quân nhạc Việt Binh Đoàn hoà tấu),
Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường đọc Diễn văn phúc tŕnh tổng lược kết quả diễn tiến chưong tŕnh huấn luyện và trỉnh diện Khoá sinh.

Thủ Khoa là anh Nguyễn Hữu Có bước ra đứng trước toàn khoá đang xếp 2 hàng ngang trước khán đài, hô to: “À genous les hommes!” (Quỳ xuống các người!). Mọi người cùng quỳ đầu gối phải xuống đất, chắp 2 tay lên đầu gối trái chờ lệnh, và anh Có cũng quỳ xuống tại chỗ.

Trung Tá Chaix đến gần ghế ngồi của Chủ tọa (nói ǵ và Chủ tọa nói ǵ, ở xa không nghe được) sau đó quay ra nói lớn bằng tiếng Pháp, đại ư: “Hoàng Thượng chiếu chỉ đặt tên cho khoá là KHOÁ BẢO ĐẠI”, rồi hướng dẫn Chủ tọa ra sân gắn cầu vai Alpha lên 2 bên vai áo cho Thủ Khoa Có. Trong khi đó th́ 2 hàng Khoá sinh quay mặt đối diện nhau và người nọ gắn cầu vai Alpha lên vai áo cho người kia. Thủ tục gắn cầu vai Alpha xong th́ Chủ tọa trở về đứng trước ghế Danh dự của ḿnh, Thủ Khoa Có đọc lời tuyên thệ bằng tiếng Pháp, đại ư: “Chúng tôi xin thề, Trung thành với Tổ quốc Việt Nam, Quyết hy sinh để bảo vệ nền Độc lập Thống nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam trường tồn cường thịnh, Luôn luôn nêu gương bảo vệ Danh dự của một cấp chỉ huy”. Toàn thể Khoá sinh cùng đưa thẳng tay phải ra trước mặt và đồng thanh đáp lời: “Je le jure!” (Tôi xin thề!). Chủ tọa lên tiếng chấp nhận lời thề và đưa tay ra dấu cho mọi người đứng lên. Thủ Khoa Có đứng lên hô lớn: “Debout les Officiers!” (Đứng lên các Sĩ quan!). Mọi người đứng thẳng lên giữa những tràng pháo tay mừng vang dạy ṛn ră của toàn thể Quan Khách.

Tiếp ngay lúc đó, Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường lại mời Chủ tọa ra trao cho Thủ Khoa Có cây kiếm và chiếc cung cùng với bao mang 4 mũi tên, rồi hướng dẫn Chủ tọa trở về ghế ngồi. Thủ Khoa Có đứng nghiêm rút kiếm ra khỏi vỏ làm động tác chào kính xong tra kiếm trở lại vỏ, rồi cầm cây cung lần lượt quay sang bốn hướng bắn 4 mũi tên đi, để biểu tượng cho ư chí “tang bồng hồ thỉ” của người Chiến sĩ quyết tâm đi khắp bốn phương trời để thi hành nhiệm vụ của ḿnh.

Buổi lễ Măn Khoá được kết thúc bằng 2 nhạc khúc “Chiến sĩ anh hùng” và “Bạch Đằng Giang” do anh em Trung đội 3 chúng tôi hợp ca 3 giọng với sự đệm đàn của anh Tôn Thất Đính, và 3 hoạt cảnh diễn tả câu truyện lịch sử “Trận Đống Đa” do quân Quang Trung chiến thắng quân Tầu vào dịp Tết Nguyên Đán tại Thành Thăng Long, do anh em các Trung đội 1 và 2 phối hợp thực hiện.

Thế là trang đầu tiên của cuốn nhật kư đời binh nghiệp đă được mở ra cho toàn thể Sinh viên Sĩ quan Khoá 1 (Bảo Đại) Trường Sĩ quan Việt Nam. Nhưng có một điều thắc mắc lớn khiến mọi người phải suy nghĩ, mừng lo lẫn lộn ngay sau khi dự Lễ Măn Khoá là, ai được được chấm đậu lên Thiếu Úy, ai không? ngoại trừ anh Nguyễn Hữu Có Thủ Khoa, v́ Nhà Trường không tuyên bố kết quả xếp hạng ra Trường. Mọi người rời Trường với kư hiệu Alpha không phải là cấp bậc được quy định trong quân đội lúc bấy giờ, tiếp tục lănh lương theo cấp bậc cũ của ḿnh, và Sự vụ lệnh rời Trường trở về đơn vị cũ ghi là Élève Officier X… Phải đợi đến 2 tuần lễ sau hết phép măn khoá tŕnh diện đơn vị, mới có thể biết ḿnh được thăng cấp Thiếu Úy hay không.

Cá nhân Tôi, sáng 1-6-1949 đến tŕnh diện Bộ Tư lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ tại Hà Nội, th́ nhận được Sự vụ lệnh đến tŕnh diện Tiểu đoàn 2 Việt Nam mới thành lập, doanh trại đóng tại Thành Lính Khố Xanh (Garde Indigène) của Pháp cũ trên đường Đồng Khánh (sau này chính quyền Việt Cộng đổi là đường Hàng Bài) đối diện với rạp chiếu bóng Majestic. Đến nơi Tôi gặp các anh Nguyễn Khắc Thăng, Bùi Đ́nh Đạm, Lê văn Nhật, Đàm Quang Yêu, và Trần Thượng Phương cũng được bổ nhiệm về Tiểu đoàn này.

Thiếu Tá Vũ văn Thụ Tiểu đoàn trưởng (về sau có thời gian được thăng đến cấp Đại Tá Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Miền Bắc của Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội, État Major Nord Vietnam) tiếp chúng tôi trong văn pḥng, với sự hiện diện của các Đại đội trưởng: Đại Uư Phạm văn Cảm (ĐĐ1), Đại Úy Nguyễn văn Yến (ĐĐ3), và Trung Uư Phạm Ngọc Thuyên (ĐĐ Chỉ huy). Các Vị này đều lớn tuổi cỡ trên 40, nguyên gốc thuộc các đơn vị trong Binh đoàn thuộc địa của Pháp tại Đông Dương từ trước 1945, khi chuyển sang phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam được đương nhiên thăng lên một cấp bậc cao hơn cũ.

Thiếu Tá Thụ cho người trịnh trọng đọc Sắc lệnh do Quốc Trưởng Bảo Đại kư, thăng cấp Thiếu Úy cho chúng tôi kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1949, rồi ông đích thân gắn cấp hiệu mới (một vạch vàng như của quân đội Pháp) lên cầu vai áo cho chúng tôi. Sau tiệc rượu champagne khao lon rất đơn giản nhưng ấm cúng thích thú được tố chức ngay trong văn pḥng Tiểu đoàn trưởng, mỗi người chúng tôi nhận một Sự vụ lệnh đi đáo nhậm đơn vị mới của ḿnh. Thiếu Úy Bùi Đ́nh Đạm về ĐĐ1, Thiếu Úy Đàm Quang Yêu về ĐĐ3, các Thiếu Úy Trần Thượng Phương và Lê văn Nhật về ĐĐ Chỉ huy, cả 3 Đại đội này đều đồn trú ngay trong doanh trại Tiểu đoàn. C̣n Thiếu Úy Nguyễn Khắc Thăng và Tôi (Thiếu Úy Nguyễn-Huy Hùng) về ĐĐ2 đang đồn trú tại Trại Lạch Tray (trại lính Khố Xanh của Pháp cũ) trong thành phố cảng Hải Pḥng, do Đại Úy Nguyễn văn Vĩnh (cũng thuộc gốc Binh đoàn thuộc địa Pháp trước 1945) chỉ huy. Do đó, ngày hôm sau, anh Thăng và Tôi phải đáp xe hoả rời Hà Nội xuống Hải Pḥng đáo nhậm đơn vị. Đến đầu tháng 10-1949, anh Nguyễn Khắc Thăng được lệnh tŕnh diện Bộ Quốc Pḥng tại Saigon để làm thủ tục xuất ngoại du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Thế là Đại đội chỉ c̣n 2 Sĩ quan, Đại Úy Vĩnh Đại đội trưởng và Tôi Trung đội trưởng Súng Nặng kiêm Đại đội phó.

Sau khi tới Pháp, anh Thăng biên thơ về thông báo cho Tôi biết là anh đang theo học Khoá Bổ túc Thực hành Bộ Binh (École d’Application de l’Infantery) cùng với các Thiếu Úy Pháp tốt nghiệp Trường Vơ bị Saint Cyr, và khoảng hơn mười bạn cùng tốt nghiệp Khoá 1 của chúng tôi là: các Thiếu Úy Nguyễn văn Thiệu (sau này là Tổng Thống nền Đệ Nhị Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam), Đặng văn Quang, Nguyễn Hữu Có, Trần văn Trung, Nguyễn văn Chuân, Tôn Thất Xứng, Tôn Thất Đính (về sau các anh này cũng đă được thăng lên cấp Tướng) cùng mấy người khác nữa, lâu ngày quá tôi quên mất tên. Vào năm 1953, anh Nguyễn Khắc Thăng bị thương cụt một chân tại miền Bắc, được du học Pháp lần thứ 2, và sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ huy Tham mưu (École Supérieure de Guerre) tại Paris về, anh Thăng được bổ nhiệm làm Huấn luyện viên tại Trường Vơ bị Liên quân Đà Lạt, ít lâu sau qua đời v́ tai nạn xe hơi.

Sau mấy tháng tổ chức huấn luyện đơn vị hoàn tất, Đại đội 2 của chúng tôi nhận được lệnh rời Hải Pḥng di chuyển về Hà Nội vào ngày 18-10-1949 để nhập cùng Tiểu đoàn khởi sự đi hành quân liên tiếp tại các vùng Phù Lưu Đ́nh Bảng tỉnh Bắc Ninh, Hoà B́nh, Đông Triều Phả Lại, Kẻ Sặt Hải dương, Hưng Yên, Thái B́nh, Vân Đ́nh Sơn Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Yên… Tôi nhớ kỹ ngày 18-10-1949 v́ đó là ngày tổ chức đám cưới của vợ chồng Tôi, nhưng v́ Tôi phải lănh nhiệm vụ chỉ huy Đại đội di chuyển rời Hải Pḥng bằng xe hoả lên Hà Nội nên Đại đội trưởng không cho Tôi đi phép.

Đến đầu tháng 10-1950, khi Tiểu đoàn đang đóng quân tại vùng Bắc Ninh-Vĩnh Yên, th́ Thiếu Úy Bùi Đ́nh Đạm và Tôi được Bộ Quốc Pḥng tại Saigon gọi tŕnh diện làm thủ tục du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Cùng xuất ngoại kỳ này với chúng tôi có mấy bạn cùng Khoá 1 là Thiếu Úy Trần Ngọc Thức (miền Nam, sau này có thời gian làm Chỉ huy trưởng Binh chủng Công Binh), Thiếu Úy Nguyễn Khương (người Trung, sau này có thời gian làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông của Binh chủng Truyền Tin). Anh Thức học Sĩ quan Công Binh tại Angier, anh Đạm (vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà đă được chỉ định làm Tư Lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh tại Mỹ Tho, và sau cuộc đảo chính lật đổ Tổng Thống Diệm ngày 1-11-1963 đă được Hội đồng Tướng lănh đảo chính thăng lên cấp Tướng) học Sĩ quan Pháo Binh tại Idar thuộc Pháp ở bên Đức. Nhưng v́ vùng Idar lạnh quá chịu không nổi, nên anh Đạm đă xin chuyển trường về học khoá Sĩ quan Hành Chánh Quân Nhu tại Mont Pellier. C̣n anh Khương và Tôi theo học Sĩ quan Truyền Tin ở Trường Truyền Tin (École d’Application des Transmissions) tại Montargis, cách Thủ đô ánh sáng Paris khoảng hơn 1 giờ xe hoả về hướng Nam.

Chúng tôi học chung với các Thiếu Úy Pháp vừa tốt nghiệp Khoá Général Frère tại Trường Vơ bị Saint Cyr ra. Theo quy chế quân đội Pháp, các Thiếu Úy vừa tốt nghiệp Trường Vơ bị Saint Cyr ra đều phải theo học tiếp một khoá bổ túc chuyên nghiệp các Ngành Bộ binh, Truyền Tin, Công binh, Pháo binh, Thiết giáp, Hành Chánh, Quân nhu, Quân Cụ, Quân vận, Nhẩy Dù,… (École d’Application de l’Infantery, d’Application des Transmissions, d’Application du Génie,…) trước khi được chính thức bổ nhiệm vào các đơn vị trong quân đội để phục vụ. Đầu tháng 6-1951, đúng theo quy chế dành cho Sĩ quan Hiện dịch tốt nghiệp trường Vơ bị Quốc gia, Tôi và toàn khoá được Quốc Trưởng Bảo Đại kư Sắc lệnh thăng cấp Trung Úy đương nhiên sau 2 năm tốt nghiệp.

Cuối tháng 6-1951 măn khoá học hồi hương về Saigon vào đầu tháng 7, Trung Tá Nguyễn văn Vận (sau này là Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 tại Hà Nội) Đổng lư Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng đă tŕnh Thủ Tướng Chính phủ Trần văn Hữu kiêm Bộ trưởng Quốc pḥng kư lệnh bổ nhiệm Tôi vào phục vụ tại Nha Đổng Lư Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng tại Saigon.

Mốc thời gian đầu tháng 7 năm 1951 này được coi là mốc thời gian kỷ niệm thích thú nhất đối với Tôi. V́ vào đầu tháng 7 năm 1947 tức là 4 năm về trước, Tôi t́nh nguyện gia nhập Vệ binh Bắc Kỳ chỉ với mục đích sống đời lính tạm thời cho qua cơn biến loạn nhiễu nhương của xă hội lúc bấy giờ, nhưng không ngờ thời thế đă chuyển xoay biến đổi cuộc đời của Tôi thành hoàn toàn khác hẳn. Từ đăng vào lính tại miền Bắc, đi miền Trung học Sĩ quan, rồi du học bên Pháp, và trở về làm việc tại Saigon. Thế mới biết lời các Cụ xưa dạy “Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên” quả thật là đúng không sai.

Và cũng kể từ đầu tháng 7 năm 1951, đoạn đường Binh nghiệp kế theo của Tôi được ghi chép bằng những trang Hồi kư rất thân thương “DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN”, “HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI”, “HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM”, các tập hồi kư này hiện đang được lưu trữ trong trang Web riêng của Tôi <http://colhungnguyen.webs.com/  &  -Nguyễn Huy Hùng

" Tái bút: Vào những năm đầu Thập niên 1970, thời gian Tôi giữ chức vụ Phụ Tá Tổng Cục trưởng Chiến tranh Chính trị đặc trách Hướng Đạo Quân đội kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến, Tôi đă sưu tập tất cả các văn kiện và h́nh ảnh liên hệ tới sinh hoạt của Trường và Khoá 1 tại Huế để soạn và ấn hành cuốn Kỷ Yếu cho Khoá, và đă gửi đến tặng tất cả anh em đồng Khoá lưu giữ làm kỷ niệm. Nhờ có được Sắc lệnh thăng cấp cho toàn Khoá mới biết được là chỉ có 53 người trên tổng 63 người theo học được chấm đậu cho thăng cấp Thiếu Úy Hiện dịch, và anh bạn già Trần Thượng Phương là người thứ 53 trong Sắc lệnh."

NGUYỄN-HUY HÙNG (K1) Nam California, Hoa Kỳ, mùa Hè 2010,

 

 

Nguyễn-Huy Hùng (K1), ảnh chụp đầu tháng 4-2008.

Niềm vui của tuổi già trên 80 là hoạt động trên mạng Internet sát cánh cùng than hữu và các đoàn thể trên toàn thế giới, tiếp tục cuộc đấu tranh chính trị giải trừ bè lũ ác ôn bạo quyền Việt Cộng để cho đồng bào Việt Nam ở trong nước được sống ấm no hạnh phúc và Nhân quyền được tôn trọng bảo vệ b́nh đẳng. Gia đ́nh gồm 16 người vừa đáp xuống phi trường Cedar Rapids Tiểu Bang IOWA

 

Liên Bang Hoa Kỳ lúc 9 giờ tối ngày 7-9-1992 để định cư tỵ nạn Cộng sản vĩnh viễn theo diện H.O.10 ( Humanitarian Operation).

 ***

Di ảnh cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm

VIỆT NAM CỘNG HOÀ RA ĐỜI TRONG HOÀN CẢNH NÀO?

Nguyễn-Huy Hùng (K1)

Hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng 10 qua đầu tháng 11 Dương Lịch là một số người đă từng hưởng nhiều ân huệ của cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, lại vận động tổ chức ngày tưởng niệm để ghi nhớ công ơn ông đă thành lập nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ tại miền Nam Việt Nam sau khi hoàn tất việc thi hành Hiệp định đ́nh chiến do Pháp và Việt Minh kư tại Genève ngày 21-7-1954.

Nhiều Bạn Trẻ thắc mắc muốn biết hoàn cảnh nào đă đưa đẩy khiến cho ông Ngô Đ́nh Diệm có được cơ hội thành lập nước Việt Nam Cộng Hoà theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ và lên làm Tổng Thống tại miền Nam Việt Nam, nhưng lại không có th́ giờ ngồi sưu tập các tài liệu ghi chép các sự kiện lịch sử đă xẩy ra tại Việt Nam trong những năm thuộc Thế kỷ 20, nên trăn trở chẳng biết phải làm sao.

Do đó, Tôi xin ghi lại dưới đây một số những sự kiện trọng yếu đă xẩy ra tại Việt Nam trong những năm thuộc Thế kỷ 20, và hoàn cảnh nào đă giúp cho ông Ngô Đ́nh Diệm có thời cơ trở thành người Anh Hùng tạo dựng ra nước Việt Nam Cộng Hoà vào năm 1956 tại miền Nam Việt Nam.

Nhưng v́ tuổi tác đă cao trên 80, trí nhớ cũng suy giảm do ảnh hưởng sau 13 năm chịu cảnh đọa đầy trong các trại tập trung cải tạo lao động khổ sai của chính phủ nước Cộng Hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam sau ngày Quốc Hận 30-4-1975, toàn thể đất nước Việt Nam bị đặt dưới quyền thống trị độc tài chuyên chính độc đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên những ghi nhận và suy luận được tŕnh bầy có thể là Chủ quan theo hiểu biết nông cạn của Tôi, cũng có thể phiến diện hoặc thiếu xót, xin Quư Vị c̣n minh mẫn vui ḷng miễn chấp và bổ túc giúp cho, Tôi cám ơn vô cùng.

1.- CHIẾN CUỘC TẠI ĐÔNG DƯƠNG XOAY CHIỀU, CHÍNH PHỦ PHÁP PHẢI RÚT QUÂN RA KHỎI VIỆT NAM.

Giữa năm 1949, Trung Cộng thắng thế ở Trung Hoa Lục địa, do đó t́nh h́nh chiến trận tại Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, đặc biệt là tại Bắc Việt trở nên rất sôi động. Tháng 5 năm 1949, Chính phủ Pháp phải cử Tướng Revers sang thanh sát t́nh h́nh và nghiên cứu tŕnh Kế hoạch đối phó. Sau khi công cán về nước, Tướng Revers đề nghị rút bỏ Cao Bằng (biên giới Việt Nam-Trung Hoa) để:

1.- Gom quân giữ Quốc lộ 4 từ Lạng Sơn đến Tiên Yên;

2.- Củng cố b́nh định vùng đồng bằng Bắc Việt;

3.- Lấn chiếm cô lập khu Việt Bắc của Chủ lực Việt Minh gồm các tỉnh Thái Nguyên, Lào Kay, Tuyên Quang, và Yên Bái. Chủ định thâm sâu của Pháp là tái lập Thuộc địa Đông Dương dưới h́nh thức mới, nên không được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Do đó Pháp e ngại Trung Cộng (chủ nhân ông mới của Trung Hoa Lục địa) xua quân can thiệp hỗ trợ cho Việt Minh Cộng sản, nên phải thun về thủ vùng đồng bằng để bảo toàn lực lượng, và t́m phương kế mới.

Kế hoạch của Tướng Revers đề nghị, được Chính phủ Pháp chấp thuận cho thi hành vào cuối năm 1949. Nhưng v́ tại Đông Dương lúc đó, đang có sự bất đồng ư kiến giữa Tướng Carpentier (Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp) tại Saigon và Tướng Alexandri (Tư lệnh đoàn quân tại Bắc Việt), nên măi tới cuối tháng 8 năm 1950 mới thực hiện, mặc dù qua tin tức t́nh báo, Chính phủ Pháp, Cao ủy Đông Dương Pignon, và Tướng Carpentier, đều biết rằng Kế hoạch Revers đă bị tiết lộ.

Phiá Việt Minh, không biết bằng cách nào đă ḍ biết được Kế hoạch Revers, nên Tướng Vơ Nguyên Giáp với sự trợ giúp trang bị vũ khí đạn dược, huấn luyện quân sĩ, và cố vấn hành quân của Trung Cộng, đă ráo riết chuẩn bị mở màn thử thách khả năng chiến đấu của bộ đội Việt Minh.

Ngày 18-9-1950, các đơn vị Việt Minh được sự yểm trợ của Pháo binh và súng cao xạ bắn máy bay, đă khởi tấn công và chiếm được đồn Đông Khê, rồi bao vây cô lập Cao Bằng. Sau đó thừa thế tiếp tục khai triển mặt trận Cao Bằng-Lạng Sơn, kéo dài cho tới ngày 7-10-1950. Pháp thất bại nặng nề, phải rút bỏ Cao Bằng, Thất Khê, Na Chầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, và Lao Kay.

Trận đánh này đă làm tăng uy thế cho Việt Minh, rúng động tinh thần quân sĩ Pháp tại Đông Dương, cũng như các giới Chính trị Pháp và Hoa Kỳ. Dân chúng Pháp bắt đầu gọi cuộc chiến tại Đông Dương là “Chiến tranh sa lầy”, các Đảng phái chính trị Pháp cấu kết với nhau làm áp lực chính trị, khiến các Chính phủ Pháp thay phiên nhau xụp đổ liên tục, làm cho t́nh h́nh tại cả bên chính quốc lẫn tại Đông Dương ngày một rối rắm thêm. Để gỡ rối, Chính phủ Pháp cố gắng t́m một Tướng làm Tổng Tư lệnh mới thay thế Tướng Carpentier tại Đông Dương.

Các Tướng Juin và Tướng Koenig được tham khảo, nhưng 2 ông này từ khước v́ Chính phủ Pháp không thể thoả măn được những điều kiện các ông ấy đ̣i hỏi. Sau cùng, Tướng Jean Marie Gabriel De Lattre De Tassigny được lựa chọn. Ông này nhận lời ngay với một điều kiện duy nhất là phải cho ông ta rộng quyền chỉ huy.

Ngày 7-10-1950, Đại tướng De Lattre được đề cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Đúng 10 ngày sau, Tướng De Lattre lên đường nhậm chức, mang theo cả một Bộ Tham Mưu hùng hậu để làm trụ cột giúp ông ta hoàn thành sứ mạng lớn lao đă nhận lănh. Trong suốt 9 tháng trời ṛng ră tiếp theo, ông ta đă chứng tỏ tài lănh đạo chỉ huy và hành quân táo bạo của ḿnh, qua các trận Vĩnh Yên giữa tháng 1-1951 (chết mất người con trai duy nhất là Trung úy Bernard), trận Mạo Khê cuối tháng 3-1951, trận “Bờ Sông Đáy” cuối tháng 5-1951, và đặc biệt là kế hoạch xây dựng “Pḥng tuyến Bê tông De Lattre” để bảo vệ đồng bằng Bắc Việt trong Vùng Tam Giác: Moncay, Việt Tŕ, Ninh B́nh, và “Pḥng Lũy Hải Pḥng”. Tướng De Lattre đă làm cho tinh thần Quân Sĩ được phục hồi, đồng thời tạo được sự tin tưởng của Chính phủ Pháp và các Đồng minh Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi,…

Giữa tháng 9-1951, Tướng De Lattre được Chính phủ Pháp cho đi công cán sang Hoa Kỳ xin viện trợ. Có lẽ nhờ trận Việt Minh tấn công quân Pháp tại vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Việt Minh, y như trận Bắc Hàn tấn công Nam Hàn mà Mỹ và Đồng minh phải can thiệp cũng có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Bắc Hàn, nên Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Pháp. Nhờ thế, Tướng De Lattre đă xin được Mỹ viện trợ cho Pháp tiếp tục cuộc chiến tại Đông Dương, dưới nhiệm vụ mới là “Ngăn chặn sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản ở vùng Đông Nam Á Châu”, mà Việt Minh là tay sai tiền phương của Liên Sô và Trung Cộng. Viện trợ chỉ được chấp thuận với một điều kiện tiên quyết kèm theo là: “Pháp phải thành thực trao trả quyền Độc Lập, Tự do, cho các Chính phủ Quốc gia không Cộng sản tại Đông Dương, và xúc tiến nhanh chóng việc thành lập, huấn luyện, và trang bị quân sự cho các Quốc gia này có đủ khả năng tự vệ, tiêu diệt Cộng sản địa phương, bảo đảm an ninh cho dân chúng phát triển kinh tế. Đặc biệt phải để cho các Quốc gia này có quyền Tự do Giao thương trực tiếp với tất cả các nước Tư bản, ngoài khối Liên Hiệp Pháp, không phải qua trung gian của Pháp.”

Ngày 28-9-1951, hai ngày sau chuyến công du của Tướng De Lattre chấm dứt, chiếc tầu biển Eartham Bay của Hoa Kỳ đă từ Manilla chở tới Saigon, rất nhiều vũ khí nhẹ và đạn dược đủ loại. Đồng thời, một đoàn 30 Phóng pháo cơ B-26 do phi công Hoa Kỳ lái từ Phi Luật Tân qua, đáp xuống phi trường Cát Bi (Hải Pḥng), trao cho Pháp trong âm thầm không kèn không trống. Mười hai (12) chiếc trong số phi cơ này đă được Hoa Kỳ biến cải thành loại máy bay soi sáng (Luciole), dùng để thả hoả châu soi sáng chiến trường ban đêm, trong thời gian lien tục 1 tiếng đồng hồ cho mỗi phi cơ.

Cũng nhờ thế nên ngày 1 tháng 10 năm 1951, ông Trần văn Hữu Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Pḥng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam mới chính thức công bố việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) chống Cộng sản (gồm 8 Sư đoàn nhẹ trong 5 năm, riêng năm 1951 dự trù thành lập Sư đoàn 1 ở miền Nam, Sư Đoàn 2 ở miền Trung, Sư đoàn 3 ở miền Bắc, và Sư đoàn 4 ở vùng Cao Nguyên Trung phần Việt Nam). Ngày 16-10-1951 ban hành Lệnh Tổng Động Viên khoảng 15.000 thanh niên có bằng cấp từ Trung học trở lên vào học các khoá đào tạo Sĩ quan Trừ bị cấp tốc tại Thủ Đức và Nam Định. Rồi lần lần sau đó, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN, Trường Quân Y, và các Trường Vơ bị Địa phương (Ecole Militaire Régionale) đào tạo các Chuẩn úy Trung đội trưởng, ngoài số Thiếu úy Hiện dịch do Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt đă và đang đào tạo (Trường VBLQ ĐàLạt được thành lập từ năm 1948). Các Trung tâm Huấn luyện Tân binh và Hạ sĩ quan cũng lần lượt được thành lập, và hoạt động náo nhiệt để thành lập các đơn vị cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn Bộ Binh và các đơn vị Binh chủng, Nha, Sở chuyên môn.

(Thời gian này, Tôi là Trung Úy mới măn khóa Sĩ quan Truyền Tin tại Trường Truyền Tin Montargis bên Pháp về vào đầu tháng 7-1951, được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Mật Mă thuộc văn pḥng Đổng lư Bộ Quốc Pḥng do Thiếu Tá Nguyễn văn Vận làm Đổng Lư. Sau này Thiếu Tá Vận rời Bộ Quốc Pḥng ra Hà Nội được thăng cấp lần lần tới Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 vào năm 1954)

Được sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Quân đội Viễn chinh Pháp ồ ạt xây dựng các doanh trại và cơ sở rất lớn rộng cho các Cơ quan Chỉ huy và Đơn vị Hành chánh Tiếp vận Trung Ương tại các vùng Tân Sơn Nhứt, G̣ Vấp, B́nh Lợi, Cát Lái (Gia Định), Khánh Hội (Saigon), và Biên Hoà… Theo dự tính của Tướng De Lattre, các Cơ sở này phải đủ tầm vóc có thể biến thành các Cơ sở Chỉ huy và Tiếp vận cho các Lực lượng Liên Hiệp Quốc xử dụng khi cần phải đến Việt Nam để điều khiển chiến tranh ngăn cản Cộng sản Quốc tế xâm lăng các nước thuộc Đông Nam Á Châu, như họ đă đến tham gia cuộc chiến tại bán đảo Triều Tiên.

Vào tháng 12 năm 1951, Tướng De Lattre qua đời, Tướng Raoul Salan được cử thay thế làm Tổng Tư lệnh, để tiếp tục giải quyết cuộc “Chiến tranh sa lầy” không lối thoát của Pháp tại Đông Dương. Nội t́nh nước Pháp tiếp tục lục đục, chính phủ Queuille bị đổ vào tháng 2-1952. Tại Bắc Việt, Tướng Salan rút bỏ Hoà B́nh vào cuối tháng 3 1952. Thủ tướng mới của Chính phủ Pháp là Pinay vẫn giữ chính sách cũ đối với Đông Dương. Ông Letourneau được bổ nhiệm làm Bộ trưởng các Quốc gia Liên kết, kiêm nhiệm chức Cao Ủy Đông Dương kể từ tháng 4-1952, và Tướng Salan được chỉ định làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Bộ trưởng Letourneau phải thường xuyên hoạt động tại chính quốc, làm ǵ có thời giờ chạy qua chạy lại giữa Pháp và Đông Dương, nên Tướng Salan vô h́nh chung có được toàn quyền quyết định y như cố Đại tướng De Lattre thuở c̣n sinh thời.

Sở dĩ Tướng Salan được lựa trám chỗ trống của De Lattre, v́ ông ta đă từng ở Việt Nam lâu năm, tham dự nhiều trận chiến với Việt Minh từ hồi 1947, đă cộng tác mật thiết với Tướng De Lattre trước khi ông này qua đời, nên thông thạo lối đánh của Việt Minh. Ngoài ra, ông ta c̣n có được cái trí khôn của người Á Đông v́ lấy vợ người Việt Nam, hút thuốc phiện, theo vợ đi lễ các Đền, Chùa, am tường các phong tục tập quán của các Sắc dân Đông Dương. Chiến công của Tướng Salan từ sau ngày thay thế De Lattre, chỉ là cuộc hành quân rút lui khỏi Hoà B́nh trong an toàn không bị sứt mẻ, và xây dựng “Pháo lũy Na Sản” giữ được mặt trận vùng Bắc Thái (phiá Tây, Bắc Việt) vững vàng trong suốt 3 tháng (10, 11, và 12-1952). C̣n t́nh h́nh toàn diện Đông Dương chẳng có ǵ khả quan hơn. Qua tháng 5-1953, Tướng Navarre được cử thay thế Tướng Salan làm Tổng Tư lệnh Quân Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Ông này xào xáo lại các kế hoạch của các Tướng tiền nhiệm, rút tiả các kinh nghiệm, để hệ thống hoá thành kế hoạch chiến thuật mới của ḿnh là:

1.- Pḥng thủ miền Bắc;

2.- B́nh định miền Nam;

3.- Lập một Binh đoàn Chủ lực lưu động, để có thể đánh ở bất cứ nơi nào có sự tập trung quân của Địch (Việt Minh). Kế hoạch được mở màn bằng cuộc hành quân “Castor” vào cuối tháng 11- 1953, để hỗ trợ việc xây dựng “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” với mục đích:

a.- Buộc Việt Minh phải chấp nhận một trận công kiên chiến, mà Pháp tin rằng họ sẽ thắng v́ có ưu thế hơn về Không quân và Tiếp liệu.

b.- Cầm chân Chủ lực quân Việt Minh tại miền Bắc để chúng không thể tiếp sức cho miền Nam, nhờ thế Pháp sẽ b́nh định Liên Khu V gồm các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định và Phú Yên, tại miền trung tâm của Trung Việt Nam một cách dễ dàng.

c.- Dùng Điện Biên Phủ làm “Căn cứ Bàn đạp” đánh vào Hậu tuyến Việt Bắc, nếu Việt Minh di quân khỏi nơi này để tấn công vùng đồng bằng sông Hồng. Tiếc thay, Bộ tham mưu của Tướng Navarre ước tính sai lệch quá nhiều.

Việt Minh đă tập trung được quanh Điện Biên Phủ, một lực lượng nhiều tới 100,000 quân. Với sự yểm trợ của Trung Cộng, Việt Minh c̣n kéo được cả sung Đại pháo qua đỉnh núi, đào hầm bố trí ngay trên sườn núi nh́n thẳng xuống thung lũng Điện Biên Phủ. Thế mà Pháp cho rằng, Việt Minh chỉ có thể tập trung quanh Điện Biên Phủ khoảng 20,000 quân là tối đa, và ḷng chảo Điện Biên Phủ không thể bị uy hiếp bằng Pháo binh, v́ các Đại pháo chỉ có thể bố trí phiá bên kia các dẫy núi quanh ḷng chảo, xa quá tầm tác xạ của súng. Cuối tháng 11-1953, t́nh h́nh chiến sự bỗng chuyển biến đột ngột. Bốn (4) Sư đoàn Việt Minh kéo lên áp lực miền Bắc Thái (Tây Bắc, Bắc Việt). Qua tháng 12-1953, Tướng Navarre phải cho lệnh rút quân bỏ Lai Châu và toàn vùng Bắc Thái, để tập trung về Điện Biên Phủ, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân ở vùng thượng lưu sông MêKông để củng cố pḥng thủ miền Bắc Lào (nước Ai Lao). Đầu năm 1954, t́nh h́nh lắng dịu tại khắp các chiến trường phụ trên toàn cơi Đông Dương. Riêng tại Điện Biên Phủ t́nh h́nh coi như đang có nhiều điều thuận lợi cho quân Pháp. Nhưng, vào trung tuần tháng 2-1954, Hội nghị Bá Linh (Berlin, Đức) được mở ra để thảo luận về việc thành lập một Hội nghị chính thức tại Genève để t́m giải pháp cho vấn đề đ́nh chiến tại Đông Dương, đă khiến t́nh h́nh chiến sự trở nên bất lợi cho quân Pháp, và làm cho Tướng Navarre bị ngỡ ngàng.

Đầu tháng 3-1954, Việt Minh rút Sư đoàn 308 đang uy hiếp Luang-Prabang (Lào), đem về tăng cường bao vây Điện Biên Phủ. Đến ngày 13-3-1954, Việt Minh mở đầu các cuộc tấn công trên khắp các mặt trận Đông Dương (kể cả Điện Biên Phủ), nhằm mục đích phô trương khả năng quân sự mới để áp đảo tinh thần quân Liên Hiệp Pháp và các Quốc gia Liên kết Đông Dương, đồng thời tạo điều kiện thượng phong tại Hội nghị Genève. Quân Pháp bị cầm chân tại tất cả mọi nơi, nên không c̣n quân số tiếp ứng cho nhau, nhất là cho “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ”.

Đến cuối tháng 4-1954, Bộ Tư lệnh Pháp cho mở cuộc hành quân “Atlante” đánh vào Quân khu V của Việt Minh tại trung Việt, nhưng chẳng đem lại kết quả ǵ, nếu không muốn nói là uổng công vô ích.

Ngày 7 tháng 5-1954, sau 55 ngày đêm tự lực cầm cự, “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” đă phải xin đầu hàng vô điều kiện. Dư luận Pháp rất hoang mang, chia rẽ, tranh căi trầm trọng, khiến Chính phủ Pháp phải đưa Tướng Paul Ely Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Pháp sang Đông Dương thay thế Tướng Navarre, với quyền hạn rộng răi là Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh tại Đông Dương, như đă dành cho Tướng De Lattre hồi trước. Nhưng, Tướng Ely cũng chẳng làm được ǵ hơn, là tiếp tục nhận lănh những thất bại chua cay, trong âm mưu tái lập thuộc địa lỗi thời của Pháp tại Đông Dương sau Thế chiến II.

Mấy tuần lễ sau vụ Pháp thất trận Điện Biên Phủ, chiến cuộc Đông Dương được giải quyết ngă ngũ, chấm dứt bằng giải pháp chính trị tại Hội nghị Genève với một Hiệp Định đ́nh chiến, kư kết vào lúc 0100 giờ ngày 21 tháng 7 năm 1954 tại Genève giữa Pháp và Việt Minh. Đại diện Hoa Kỳ và Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam khước từ không kư vào bản Hiệp định. Theo Hiệp định này, nước Việt Nam bị phân làm 2 phần Nam, Bắc. Vĩ tuyến 17 và ḍng sông Bến Hải được dùng làm ranh giới giữa 2 miền. Từ giữa ḷng con sông trở lên phiá Bắc thuộc quyền kiểm soát cai trị của Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh cầm đầu. Phần từ giữa ḷng con sông trở xuống phiá Nam thuộc trách nhiệm của Chính quyền Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lănh đạo. Thi hành Hiệp định Genève, Bộ Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp của Tướng Ely phối hợp cùng Chính phủ Quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ tướng, tổ chức một cuộc di tản vĩ đại ngoạn mục trong ṿng 300 ngày, cho hơn một triệu Dân Quân Cán chính không thích sống dưới Chế độ Cộng sản rời miền Bắc vào Nam tái lập nghiệp, và hàng chục ngàn Cán Binh Cộng sản từ miền Nam buộc phải tập kết ra Bắc. Thời hạn triệt thoái quân Pháp và quân Quốc gia ra khỏi Bắc Việt theo lối cuốn chiếu quy định như sau: phải ra hết khỏi HàNội trong thời hạn 80 ngày kể từ ngày kư Hiệp Định Genève, do đó ngày chót được ấn định cho Hà Nội là ngày 11-10-1954; 100 ngày cho Hải Dương do đó ngày chót được ấn định là ngày 1-11-1954; và 300 ngày cho Hải Pḥng do đó ngày chót được ấn định là ngày 19-5-1955.

2.- THỜI CƠ GIÚP CHO QUỐC GIA VIỆT NAM CHÍNH THỨC CÓ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN ĐỘC LẬP TRONG MỌI LĂNH VỰC TỔ CHỨC QUẢN TRỊ HÀNH CHÁNH, CHÍNH TRỊ NGOẠI GIAO ĐỐI NỘI ĐỐI NGOẠI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ QUỐC PH̉NG TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM.

 

Di ảnh cố cựu Hoàng Bảo Đại

Từ ngày Cựu Hoàng Bảo Đại nhận lănh sự ủy nhiệm của các Đảng phái chính trị không theo Cộng sản tại Việt Nam, đứng ra thương thuyết và kư với Pháp Hiệp Ước sơ bộ tại Vịnh Hạ Long để giành lại quyền độc lập cho nước Việt Nam thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam vào ngày 5-6-1948, rồi đến trưa ngày 8 tháng 3 năm 1949 tại Paris có thêm THOẢ ƯỚC ÉLYSÉE giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại, Vào ngày này, hai người trao đổi văn thư, theo đó “Pháp long trọng công nhận” một nước Việt Nam độc lập và dân chúng có quyền tự do quyết định sự thống nhất lănh thổ của ḿnh, theo tinh thần Hiệp Ước Hạ Long, kèm theo một phụ bản các điều thoả thuận với PIGNON,.cho đến ngày kư Hiệp định Đ́nh chiến tại Genève 21- 7-1854, đă có tới

7 chính phủ thay nhau điều hành Quốc gia Việt Nam:

1.-Nguyễn văn Xuân, từ 2-6-1948 đến 30-6-1949.

2.-Bảo Đại, từ 1-7-1949 đến 20-1-1950,

3.-Nguyễn Phan Long, từ 21-1-1950 đến 5-5-1950,

4.-Trần văn Hữu, từ 6-5-1950 đến 25-5-1952,

5.-Nguyễn văn Tâm, từ 26-5-1952 đến 15-1-1954,

6.-Bửu Lộc, từ 16-1-1954 đến 6-7-1954,

7.-Ngô Đ́nh Diệm từ 7-7-1954 tới 23-10-1955.

Thư ngày 8-3-1949 của Auriol gửi Bảo Đại gồm 7 mục chính:

1. Việt Nam thống nhất (Unité du Vietnam)

2. Vấn đề Ngoại giao (Question diplomatique)

3. Vấn đề Quân sự (Question militaire) Việt Nam sẽ có một Quân đội riêng để duy tŕ trật tự, an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la defense de l’Empire). Trong trường hợp tự vệ, có thể được các lực lượng Liên Hiệp Pháp yểm trợ (appuyé par les forces de l’Union francaise). Quân đội VN cũng tham dự vào cuộc bảo vệ biên cương của toàn Khối Liên Hiệp Pháp.

4. Vấn đề chủ quyền trong nước (Souveraineté interne).

5. Vấn đề tư pháp

6. Vấn đề văn hoá

7. Vấn đề kinh tế và tài chánh.

(Ghi chú: Đoạn văn chữ nghiêng nét đậm trên đây là trích từ trang 119 trong cuốn VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939-1975 (Tập B :1947-1954) của Chính Đạo do nhà phát hành Văn Hoá in năm 1997 tại Hoa Kỳ. Đặc biệt Tôi có thay một chữ trong mục 3. ….., an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la defense de l’Empire).

. Thay cho chữ .. bảo vệ đế quốc (la defense de l’Empire)….. như trong nguyên bản, v́ Tôi nghĩ Việt Nam chưa bao giờ là Đế quốc, thời trước 1945, Pháp gọi là L’Empire d’Annam tức là Vương quốc Annam do Bảo Đại làm vua (Empereur.). C̣n trong hoàn cảnh mới này, tên nước là Quốc Gia Việt Nam và ông cựu hoàng Bảo Đại giữ chức vị Quốc Trưởng chứ không phải là Vua của Vương quốc Annam nữa.

Đến ngày 28-4-1956, Bộ Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương giải tán, tất cả các Cơ sở và Căn cứ trước đây do Pháp xây dựng chiếm đóng, đều trao hết cho Chính phủ và Quân đội Quốc gia Việt Nam thừa hưởng. Dinh Norodom tọa lạc tại trung tâm Thủ đô Saigon trước kia dành cho Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, nay là trụ sở của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Dinh Độc Lập. Camp Chanson to lớn bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất trước kia là nơi làm việc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh pháp tại Đông Dương, nay thuộc quyền xử dụng của Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) và đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo. Hospital Rocques rộng lớn của đoàn quân Viễn chinh Pháp xây dựng tại G̣ Vấp sát bên Bộ TTM và phi trường Tân Sơn Nhất, nay thuộc quyền QĐQGVN và đổi tên là Tổng Y Viện Cộng hoà. (Không biết cái tên Roques Tôi nhớ có đúng không, bạn nào biết là sai xin vui ḷng chỉnh giùm, Tôi vô cùng cám ơn). C̣n rất nhiều Doanh trại, Căn cứ, và Cơ sở khác tại Saigon và tại các Tỉnh trên toàn lănh thổ miền Nam Vĩ tuyến 17 được Pháp trao lại cho Chính quyền Quốc gia miền Nam Việt Nam, nhưng Tôi thấy không cần liệt kê hết ra đây.

Vào tháng 8-1956, Chính phủ Pháp loan báo việc đề cử ông Henri Hoppenot làm Cao Ủy Đông Dương. Nhưng, ông Ngô Đ́nh Diệm đang lănh đạo Chính quyền Quốc gia Việt Nam với chức vị tự phong là Tổng Thống từ ngày 26-10-1955 thay thế Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế từ ba ngày trước đó 23-10-1955, đă dựa theo các điều khoản của Hiệp định Genève không chấp nhận, nên Chính phủ Pháp phải đổi lại chức vụ là Đại sứ Pháp tại Việt Nam.

Đến ngày 26-10-1956, lễ ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà (theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ, do Quốc Hội Lập Hiến được bầu ra vào ngày 4 tháng 3 năm1956 biên soạn và biểu quyết chuẩp thuận) mới được tổ chức rất trang trọng tại Đại lộ Trần Hưng Đạo, Saigon. Buổi lễ này cũng đồng thời là Lễ Tuyên Thệ chính thức nhậm chức Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hoà đẩu tiên tại miền Nam Việt Nam của ông Ngô Đ́nh Diệm, trước toàn dân và Ngoại giao đoàn quốc tế đă có mặt tại Saigon từ thời Quốc gia Việt Nam c̣n thuộc quyền lănh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại. (Quốc Hội Lập Hiến gồm 123 Dân Biểu thuộc các thành phần sau: Phong trào Cách mạng Quốc gia 47 ghế, độc lập không đảng phái nào 39 ghế, Tập đoàn Công dân 18 ghế, Phong trào Tự do 11 ghế, và 5 đảng phái chia nhau 8 ghế.)

Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan biến dần để thay thế bởi ảnh hưởng Hoa Kỳ. Bởi v́, ngay từ khi mở Hội nghị Bá Linh bàn thảo việc thành lập Hội nghị Genève giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, Hoa Kỳ đă ngầm vận động thúc đẩy Quốc trưởng Bảo Đại mời ông Ngô Đ́nh Diệm (đang ở Mỹ) về làm Thủ Tướng, thay thế Thủ tướng Bửu Lộc được coi là thân Pháp.

3.- THỜI CUỘC BIẾN ĐỔI ĐĂ TẠO CƠ HỘI CHO THỦ TƯỚNG NGÔ Đ̀NH DIỆM GIÀNH ĐƯỢC QUYỀN LĂNH ĐẠO QUỐC GIA VIỆT NAM, THAY THẾ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI ĐĂ RỜI VIỆT NAM SANG PHÁP TỪ NGÀY 10-4-1954 SỐNG TẠI BIỆT THỰ RIÊNG Ở CANNES, ĐỂ CHỮA BỆNH SÁN GAN VÀ VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ GIÚP GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN CHỐNG CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM.

Tại Saigon trong khoảng những ngày cuối tháng 5 sang đầu tháng 6-1954, các hăng thông tấn quốc tế và quốc nội loan truyền tin đồn đoán là ông Ngô Đ́nh Diệm sẽ làm Thủ Tướng thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc. Nhưng măi đến ngày 16-6 1954, Quốc Trưởng Bảo Đại, từ tư dinh tại thành phố Cannes bên Pháp, mới chính thức công bố quyết định cử ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng với toàn quyền hành động (tức là mọi quyết định quan trọng liên quan đến quốc gia không cần phải thỉnh ư Quốc Trưởng trước như các Thủ Tướng tiền nhiệm).

Ngày 25-6-1954 ông Ngô Đ́nh Diệm từ Pháp về tới phi trường Tân Sơn Nhất Saigon, được sự tiếp đón theo nghi lễ ngoại giao tại pḥng Khách Danh Dự của phi trường, gồm một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính phủ Bửu Lộc, một số Sĩ quan cấp Tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc pḥng và Bộ TTM/QĐQGVN (trong đó có Tôi đang là Thiếu Tá Chánh Sự vụ Sở Mật Mă trực thuộc văn pḥng Tổng Tham Mưu Trưởng, lúc đó Thiếu Tướng Nguyễn văn Hinh làm Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tá Trần văn Minh làm Tham mưu trưởng), cùng một số thân quyến thuộc ḍng họ Ngô-Đ́nh và Nhân sĩ thân hữu của gia đ́nh ông Ngô trongnước.

Những ngày tiếp theo, ông Diệm tiếp xúc các nhân sĩ để thành lập chính phủ, măi tới ngày 7-7-1954 mới chính thức tŕnh diện chính phủ và bắt đầu tham chánh. Thành phần chính phủ gồm có:

-Ngô Đ́nh Diệm, Thủ Tướng kiêm Nội Vụ và Quốc Pḥng,

-Trần Văn Chương, Quốc Vụ Khanh,

-Trần Văn Đỗ, Tổng Trưởng Ngoại Giao,

-Trần Văn Của, Tổng Trưởng Tài Chánh và Kinh Tế,

-Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng Trưởng Lao Động và Thanh Niên,

-Trần văn Bạch, Tổng Trưởng Công Chính,

-Phạm Hữu Chương, Tổng Trưởng Y Tế và Xă Hội,

-Phan Khắc Sửu, Tổng Trưởng Canh Nông,

-Nguyễn Dương Đôn, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục,

-Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng,

-Lê Quang Luật, Thông Tin,

-Phạm Duy Khiêm, Công vụ Phủ Thủ Tướng,

-Nguyễn Ngọc Thơ, Nội Vụ,

-Lê Ngọc Chấn, Quốc Pḥng,

-Hồ Thông Minh, Thứ Trưởng Quốc Pḥng,

-Bùi Văn Thinh, Tư Pháp,

-Nguyễn Văn Thoại, Kinh Tế,

-Trần Hữu Phương, Tài Chánh.

Nhưng chỉ ít ngày sau, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu gặp nhiều khó khăn về mọi mặt đối nội cũng như đối ngoại. Chẳng hạn:

1.-Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam không kư trên Hiệp định Genève, nhưng vẫn phải chấp nhận và cộng tác với Bộ Tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương thi hành, đặc biệt phải chấp nhận cho các cơ sở kiểm soát đ́nh chiến do Ấn Độ (Trung Lập) làm Chủ tịch, với các thành viên Ba Lan (Cộng sản) và Canada (thuộc Thế giới Tự Do Tư Bản) đặt cơ sở hoạt động tại nhiều nơi trên lănh thổ miền Nam, ngay cả tại giữa Thủ Đô Saigon. Trong các cơ sở kiểm soát đ́nh chiến này có cả sự hiện diện của những người đại diện của Việt Cộng.

2.-Phải vận động nhờ Chính quyền Pháp tại Đông Dương và chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ phương tiện và ngân khoản để di tản cả triệu người (Dân, Quân, Cán chính) không thích sống dưới sự cai trị của Chính quyền Việt Cộng tại miền Bắc Vĩ tuyến 17, di cư vào miền Nam.

3.-Tổ chức tiếp đón cứu trợ ban đầu, tái định cư, và tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống cho những người này. V́ họ đă phải bỏ tất cả của cải đất đai hương hỏa của Tổ tiên Ông Cha tại miền Bắc, ra đi vào miền Nam với 2 bàn tay trắng.

4.-Hợp nhất các Lực lượng Vơ trang Giáo phái vào hàng ngũ Quân đội Quốc gia Việt Nam, để tiêu hủy nạn “phe phái hùng cứ địa phương” do Pháp tạo dựng lên trước đây, với mục đích Thực dân thâm độc “chia để trị”.

5.-Điều chỉnh cải tiến hệ thống hành chánh, để chấm dứt tệ nạn “Xứ Quân, Vua một cơi” thao túng áp bức quần chúng bằng quy luật “Phép Vua thua Lệ Làng”, hậu quả dư âm Quan lại của thời Pháp c̣n vương rớt lại, tại các tỉnh và ngay cả tại các Quận hành chánh giữa Saigon Chợ Lớn.

6.-Loại bỏ các tổ chức reo rắc tệ đoan xă hội (khu bài bạc, các ổ chứa gái măi dâm công khai hoạt động có nộp thuế) do các tay Chính trị hoạt đầu, Doanh gia bất chính, lợi dụng nước đục thả câu, với sự bảo trợ khích lệ của Thực dân Pháp đă tổ chức kinh doanh từ nhiều năm qua.

7.-Đặc biệt là phải đề ra phong trào chống Cộng, với một Chính sách dựa theo Chủ thuyết Nhân bản có thể bẻ gẫy được Chủ thuyết Cộng sản, để làm kim chỉ Nam hướng dẫn quần chúng hăng say tham gia công cuộc tố cáo và loại trừ các hoạt động của cán bộ Cộng sản nằm vùng tại miền Nam. Để dân được sống an toàn tại khắp mọi nơi, an tâm tham gia xây dựng phát triển Kinh tế phồn vinh, và hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc trong thanh b́nh.

V́ thế mới có Chủ thuyết NHÂN VỊ, Đảng Cần Lao, và PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA ra đời, hoạt động thường xuyên trong mọi tổ chức hành chánh, quân đội, và các cơ sở xă hội khác trên đất liền cũng như trên các hải đảo thuộc miền Nam Việt Nam từ Vĩ tuyến 17 trở xuống.

Mọi người sống tại miền Nam Việt Nam đều biết và cũng đă từng phải tham gia, tùy theo vị trí hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân và gia đ́nh. (Thời gian đó, Tôi là Thiếu Tá Trưởng Pḥng Mật Mă Trung Ương thuộc Bộ Chỉ huy Viễn Thông tại Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN, được tập thể chiến hữu thuộc các đơn vị Truyền Tin tại Saigon bầu làm Chủ tịch Phong trào Cách Mạng Quốc gia của Binh chủng Truyền Tin). Phong trào này nhằm mục đích đánh bóng lănh tụ Ngô Đ́nh Diệm, chỉ trích tinh thần bạc nhược của Quốc trưởng Bảo Đại trong việc điều hành Quốc gia, để tiến tới việc tổ chức cuộc “Trưng cầu Dân ư truất phế Bảo Đại” vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, và ủy nhiệm cho ông Ngô Đ́nh Diệm thành lập nước VIỆT NAM CỘNG HOÀ theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ vào ngày 26-10-1956.

Suốt trong thời gian vận động tổ chức cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ư vào ngày 23-10-1955, trên các phương tiện truyền thông của Chính phủ thường xuyên phổ biến bài hát thúc đẩy mọi người tích cực tham gia đi bầu rất hay. Nhưng rất tiếc Tôi chỉ c̣n nhớ một số câu tiêu biểu khó quên chứ không nhớ trọn bài:

Hai ba tháng mười là ngày trưng cầu dân ư,

Hai ba tháng mười là ngày phá tan ngai vàng,

Đứng lên toàn quốc, viết trang sử mới,

……..(không nhớ……”

Và kể từ sau ngày VIỆT NAM CỘNG HOÀ ra đời 26-10-1956, nghi thức chào cờ chính thức được quy định là sau khi hát bài Quốc Ca “Tiếng gọi công dân” th́ phải hát bài SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG. Bài hát này do nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bích sáng tác (ông đă qua đời vào năm 2001) và đă t́m thấy trong các Website sau đây:

http://vinhdanhquanlucvietnamconghoa.blogspot.com/2009/04/suy-ton-ngotong-thong.html

http://www.dutule.com/D_1-2_2-111_4-1912_5-4_6-6_17-34_14-2/

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%8Dc_B%C3%ADch_(nh%E1%BA%A1c_s%C4%A9)

Suy tôn Ngô Tổng Thống:

Ai bao năm từng lê gót nơi quê người
Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do
Người cương quyết chống cộng
Bài phong kiến bốc lột
Diệt thực dân đang giắt reo tàn phá
Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời
Gương hy sinh ngàn muôn tiếng không hề phai
Toàn dân quyết kết đoàn cùng chung sức với người
Thề đồng tâm say đắp cho ngày mai
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Xin thượng đế ban phước lành cho người
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng Thống
Chung đắp say nền thống nhất sơn hà

Dấu triện (seal) của Phủ Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hoà.

NGUYỄN-HUY HÙNG (K1)

Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà,

Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến,

Cựu tù nhân chính trị 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cải tạo của chính quyền Cộng hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam sau ngày Quốc hận 30-4-1975. Các tài liệu tham khảo:

1. -(Quân sử 4) QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRONG GIAI ĐOẠN H̀NH THÀNH 1946-1955. Do Pḥng 5 Bộ Tổng Tham Mưu biên soạn và phát hành, sách được in tại cơ sở xuất bản Đại Nam năm 1972 trụ sở Taiwan Republic of China, và được ông Đỗ Kinh Lâm tự Đỗ Ngọc Tùng (cựu sinh viên sĩ quan Khoá 4 Lư Thường Kiệt, Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam) Giám đốc nhà xuất bản Đại Nam sao in lại và phát hành vào năm 1983 tại thành phố Glendale California Hoa Kỳ.

2. -THÀNH TÍCH SÁU NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HOÀ ấn hành năm 1960 tại Saigon, và được ông Hồ Đắc Huân (cựu sinh viên sĩ quan Khoá 2 Hiện dịch Nha Trang) sao in lại tại Khu Little Saigon Nam California Hoa Kỳ vào tháng 7-2007 để gửi tặng riêng các thân hữu tùy nghi ủng hộ giải quyết tổn phí ấn loát chứ không in với mục đích thương mại. Ai muốn có sách có thể liên lạc với ông Huân qua điện thoại số (714) 725 5136 hoặc địa chỉ gửi thư:

HỒ ĐẮC HUÂN

P.O. BOX 1711

Westminster, CA 92684

3. -VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939-1975 (Tập B: 1947-1954) của Chánh Đạo do nhà xuất bản Văn Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ năm 1997.

4. VIỆT NAM NIÊN BIỂU Tập III NHÂN VẬT CHÍ (liệt kê gần 900 tác nhân lịch sử cận đại, từ 1848 tới 1975) của Chánh Đạo do nhà xuất bản Văn Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ vào năm 1997.

Ảnh chụp ngày 1-7-1961 tại Dinh Độc Lập, Saigon, Các Tướng Quân lực VNCH đọc thư chúc mừng ông Ngô Đ́nh Diệm nhân kỷ niệm năm thứ bẩy làm Tổng Thống nước Cộng Ḥa Việt Nam Đệ Nhất.

TỨ THÁNH BẤT TỬ VIỆT NAM

 

Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (K1)

Hồi c̣n nhỏ, Tôi thường được theo Bà Ngoại đi lễ Phật tại Chùa, và đến chiêm ngưỡng lạy các vị Thần Thánh tại các Đền do dân chúng lập lên để sùng bái. Ngoại của Tôi nói rằng : “Ḿnh là người trần mắt thịt, không thấy xa trông rộng để hiểu thấu được Thiên Cơ, nên không biết trước được sự ǵ sẽ xẩy đến cho ḿnh và Thế nhân trong những ngày tháng tới. Dù cho ḿnh có cố gắng ăn ở hiền lành, tu thân tích đức đến đâu cũng không tránh khỏi đôi trường hợp sơ xuất mà không hay. Những sai phạm này là những tội sẽ bị tích lũy, và một ngày nào đó ḿnh sẽ phải trả bằng một giá nào đó, như Phật tổ Như Lai đă giảng dạy cho loài người biết về luật “Nhân Quả, Luân hồi”. Do đó, ngoài sự cố gắng giữ ḿnh gương mẫu trong cuộc sống hàng ngày, ḿnh cần phải thường xuyên cầu xin Trời, Phật, và các vị Thánh, Thần, linh thiêng phù trợ cho được mọi sự an lành tai qua nạn khỏi.”

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống tin tưởng mănh liệt vào Thần Quyền, nên chúng ta không lấy làm lạ về số Đ́nh, Chùa, Lăng, Miếu, Đền Thờ các vị Thánh, Thần, được dựng lên khắp mọi nơi, và lúc nào người ta cũng lui tới cúng lạy cầu tài cầu phúc cầu an cho bản thân và gia quyến. Hàng năm c̣n tổ chức những ngày Hội lớn để bàn dân thiên hạ tới họp mặt tôn vinh công đức của Vị Thánh Linh, và hiệp tâm cầu xin Thần Thánh linh thiêng phù hộ cho Quốc thái Dân an, che chở cho mọi người thoát khỏi các tai ách do người hoặc thời khí thiên nhiên khắc nghiệt gây ra.

Khi bắt đầu vào tuổi Thiếu niên, Tôi may mắn được gia đ́nh cho gia nhập Đoàn Hướng Đạo Sinh, để ngoài những giờ mài đũng quần trong học đường có dịp tu luyện trau dồi Trí Đức Thể dục, chuẩn bị cho bản thân ḿnh nếp sống của một Công dân b́nh dị, mạnh cả tinh thần lẫn thể chất, tháo vát, biết yêu Thiên nhiên, yêu Tổ Quốc, yêu Đồng bào, yêu Nhân loại và yêu mọi sinh vật trên cơi Trần gian này. Nhờ thế, Tôi đă có dịp t́m hiểu về Địa lư, Văn học, Lịch sử dân tộc Việt Nam nhiều hơn những ǵ ghi trong các sách học của Nhà trường, nên biết được Dân tộc Việt Nam có TỨ THÁNH BẤT TỬ, đă thường xuyên phù hộ độ tŕ cho dân lành Việt tộc thoát qua nhiều cơn nguy biến tai ách hiểm nguy.

Hôm nay nhân dịp đầu năm, tuy sống xa quê hương mến yêu nhưng mọi người vẫn không quên vui hưởng Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, Tôi xin tóm lược để chư vị độc giả cùng nhớ về BỐN VỊ THÁNH BẤT TỬ của Dân tộc Việt Nam chúng ta. V́ tuổi già, trí nhớ bắt đầu suy yếu, nếu truyện kể có ǵ thiếu sót, kính mong quư độc giả c̣n minh mẫn tài cao học rộng hiểu biết nhiều bổ túc giùm, Tôi xin chân thành cám ơn trước.

Một là, THÁNH GIÓNG làng Phù Đổng.

Theo tục truyền, Thánh Gióng là Thiết Lũng Thiên Thần được Trời sai xuống giúp vua Hùng Vương thứ Sáu, dẹp giặc Ân từ phương Bắc tràn xuống đánh chiếm nước Văn Lang. Sau khi dẹp tan giặc, Thiết Lũng Thiên Thần lên đỉnh núi Sóc Sơn biến mất, nên Vua Hùng nhớ ơn cứu nước, đă cho xây dựng Đền thờ Ngài tại làng Phù Đổng, và sắc phong làm PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG, Thành Hoàng làng Phù Đổng. Hàng năm có tổ chức Lễ Hội gọi là Hội Gióng vào ngày 9 tháng 4 Âm lịch.

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có ghi một cách rất tổng lược, không đầy đủ chi tiết bằng những ǵ khắc ghi trên bia đá dựng tại Đền thờ nơi làng Phù Đổng, cộng với những chi tiết dân gian truyền khẩu trong Tổng Phù Đổng, do ông Nguyễn văn Huyên tóm tắt bằng Pháp ngữ trong tập “Les fêtes de Phù Đổng”, được Hội nghiên cứu Địa dư Hà Nội xuất bản vào năm 1938 tại Hà Nội, đầy đủ hơn như sau:

Dưới đời vua Hùng Vương thứ VI, nước Văn Lang thực là thái hoà, thịnh trị. Nhà vua bỏ tục cống lễ nhà Ân bên Tầu. Thấy vậy, Ân Chúa kiếm cớ tuần du phương Nam để có ư xâm chiếm nước Nam.Vua Hùng Vương lo ngại, họp triều đ́nh bàn kế giữ nước. Một vị Đại Thần qùy tâu :

 -Xin nhà vua cầu khẩn Long thần, thần sẽ chỉ bảo nhà vua.

Vua nghe lời tâu, lập đàn tràng cúng tế ba ngày liền.Chợt giông băo nổi lên với sấm sét.Tại ngă tư kinh thành hiện ra một ông già ḿnh cao chín thước, đầu râu tóc bạc, nhẩy nhót múa hát.Nhà vua triệu ông già tới đàn tràng dâng rượu thịt, ông già từ chối. Hỏi tới quốc sự, ông già đáp:

-Ba năm nữa giặc sẽ từ phương Bắc lại. Muốn diệt giặc, nhà vua phải t́m người tài trong nước và hứa ban thưởng trọng hậu.Sẽ có thần nhân xuất hiện dẹp giặc.Nói xong ông già biến mất.

Ba năm sau, giặc Ân do Thạch Lĩnh, thái tử nước Ân đem quân xâm chiếm nước Văn Lang. Đại tướng nước Văn Lang là Lư Công Dật xuất quân cự địch, nhưng trước thế giặc mạnh, quân Văn Lang bị thua và Lư tướng quân tự sát chết. Nhà vua chợt nhớ tới lời Long thần, sai Sứ đi khắp trong nước để t́m người tài giỏi ra giúp nước.

Bấy giờ tại làng Phù Đổng có một lăo trượng tuổi đă 60, cách đây ba năm, bà vợ có sinh ra một đứa con trai trong trường hợp rất kỳ lạ.Nguyên sau một đêm mưa gió, bà lăo ra vườn hái rau, để ư thấy một vết chân to lớn đă dẫm đám rau của bà.Vô t́nh bà đứng đè lên vét chân đó để hái những cây rau đă bị giày séo về ăn. Từ đó bà thụ thai, rồi sinh một con trai. Đứa con trai này, cho đến năm lên ba tuổi th́ vẫn nằm ngửa, không biết nói không biết ngồi. Khi nghe sứ giả nhà vua đi qua, bà mẹ nh́n con nói đùa:

-Nhà vua đang cần tướng tài đánh giặc mà con nay mới lên ba, chưa biết cười biết nói, bao giờ con khôn lớn mà giúp nước pḥ vua?

Bà mẹ vừa nói dứt lời, đứa bé bỗng bật ra lời nói, bảo mẹ mời sứ giả nhà vua tới. Thấy con tự nhiên biết nói lại đ̣i mời sứ giả nhà vua, bà mẹ lấy làm ngạc nhiên, nhưng cũng ra thuật rơ truyện cho sứ giả hay. Sứ giả theo bà ta vào. Đứa bé bảo sứ giả về tâu vua đánh cho một con ngựa sắt và một chiếc roi sắt. Sứ giả về tâu vua rơ mọi sự. Nhà vua mừng lắm cho đó là ứng lời Long thần dạy trước, liền sai đánh ngựa sắt, roi sắt cho đứa bé.

Trong khi sứ giả về tâu vua th́ ở làng Phù Đổng, đứa bé lớn phổng lên, ăn uống tốn kém rất nhiều cơm thịt. Sứ giả mang ngựa và roi tới. Đứa bé bảo mẹ thổi cho một nồi ba mươi cơm, vươn vai đứng lên, ăn hết nồi cơm, cầm roi nhẩy lên ngựa sắt, nhằm thẳng phiá giặc đóng phi ngựa tới. Lúc đó, giặc đang đóng ở núi Trâu Sơn huyện Tiên Du. Trước khi lên ngựa cậu bé nói:

-Ta là Thiết Lũng Thiên Thần, giáng trần đi dẹp giặc.

Thiết Lũng Thiên Thần ra roi, ngựa sắt hét ra lửa, tới núi Trâu Sơn phá tan quân giặc, giết được cả tướng giặc là Thạch Lĩnh và ba Đại tướng khác. Nội trong một ngày giặc tan.C̣n lại 24 tướng giặc phải xin hàng.

Trong lúc ra quân, ngựa sắt luôn luôn hét ra lửa để đốt giặc.Hiện nay di tích những ngọn lửa vẫn c̣n ở làng Cháy tức là làng Phù Chẩn, huyện Gia B́nh tỉnh Bắc Ninh.Nơi đây ngựa thần đă đốt giặc, những cây bén lửa cũng cháy sém. Giống tre này nay mọc ở mấy tỉnh Bắc Ninh, Phúc Yên, với những đốt trắng đen như vết cháy; đó là loại tre “đằng ngà” rất đẹp và bền, được dân quê kén dùng chế tạo các vật đựng trong nhà. Giết giặc nhiều, chiếc roi sắt gẫy, ngài phải nhổ tre dùng thay. Giặc tan, ngài trở về làng Xuân Tảo, tỉnh Hà Đông, nơi Hồ Tây lội xuống tắm; sau đó ngài lên ngựa đi về tới núi Sóc Sơn tỉnh Phúc Yên th́ biến mất.

Nhớ ơn ngài, vua Hùng Vương sai lập đền thờ tại làng Phù Đổng tức làng Gióng và sắc phong cho ngài là Phù Đổng Thiên Vương. Dân chúng gọi ngài là đức Thánh Gióng. Hàng năm để nhớ ơn ngài, dân chúng hàng tổng mở hội diễn lại sự tích ngài đánh giết giặc Ân.”

 

 

Tượng đài Thánh Gióng, do Binh chủng Thiêt Giáp Quân lực Việt Nam Cộng Hoà thành lập

vào năm 1955 vinh danh làm Thánh Tổ và xây dựng tại B́nh Bông ngă tư đường Lê Lợi

và Lư Thái Tổ thành phố Saigon vào năm 1968.

  

 

Hai là, CHỬ ĐỒNG TỬ vùng Chử xá.

  

Tượng hai vợ chồng Chữ Đồng Tử và Công Chúa Tiên Dung trước đền thờ trên

BĂI TỰ NHIÊN” trong “ĐẦM NHẤT DẠ” tại vùng Chử Xá Bắc Việt Nam.

Theo sự tích dân gian truyền tụng về Đầm Nhất Dạ và Băi Tự Nhiên, th́ hai vợ chồng CHỬ ĐỒNG TỬ-Công Chúa TIÊN DUNG con vua Hùng Vương thứ Ba, đă từng học đạo Tiên và từng cứu giúp dân nghèo trong vùng nên đă hiển thánh. Câu truyện được tóm lược như sau :

Trong số các con Vua Hùng Vương thứ ba, có một công chúa từ thuở lọt ḷng mẹ đă được các bà tiên tô điểm nên lúc lớn lên có được nhan sắc tuyệt trần, vua cha đặt tên là TIÊN DUNG, và rất cưng chiều. Sở thích của Tiên dung là đi chơi ngoạn cảnh khắp mọi nơi trong nước. Vua sắm cho một chiếc thuyền rất xinh, có đủ người hầu hạ và mọi thứ cần dùng. Hàng năm cứ vào khoảng cuối mùa Xuân, du thuyền của công chúa Tiên Dung lên đường, cho đến khi từng đàn chim “hậu điểu”bay từ phương Bắc sang th́ thuyền công nương mới trở về nơi cung cấm. Có một vài vị Hoàng tử các nước láng giềng ngỏ ư xin được kết duyên, nhưng công chúa Tiên Dung đều khước từ.Có lần trong một bữa tiệc đă thưa với Cha là nàng sẽ không lấy chồng.

Trong một dịp viễn du, thuyền Tiên Dung ghé đậu tại vùng Chử xá. Nàng sai gia nhân đun nước lá thơm, và lên bờ quây màn kế một bụi lau nơi vắng người bên bờ sông để lên tắm cho mát. Không dè trong khi xối nước tắm, cát dưới chân trôi đi ḷi ra một người ngồi nhỏm lên.Tiên Dung tưởng ma quái, tính la lên để người hầu vào cứu, nhưng nh́n kỹ thấy là một thanh niên trần truồng hiền lành, mới b́nh tĩnh hỏi căn nguyên v́ sao lại vùi thân dưới cát như vậy? Chử Đồng Tử kể lai lịch của ḿnh:

Cha là Chử Cù Vân chỉ có ḿnh là con trai duy nhất gọi là Chử Đồng Tử. Hai cha con chuyên sống nghề đánh cá trong vùng để sinh sống. Một hôm nhà bị cháy hết, chỉ c̣n chiếc khố cha mặc trên người. Cha con phải thay nhau dùng chiếc khố duy nhất đó để ra đường. Khi cha đi ra ngoài th́ mặc khố, con phải ở truồng nằm nhà, và ngược lại.

Sau vụ cháy nhà, cha con tiếp tục gặp nhiều tai ách khác dồn dập, làm không đủ ăn nên không mua được chiếc khố thứ hai. Bỗng một hôm cha bệnh nặng, trước khi chết trăn trối lại rằng khi cha chết hăy chôn xác trần, giữ chiếc khố lại mà dùng, nhưng v́ thương cha quá không đang tâm, nên đă lấy chiếc khố cuộn thân cha đem chôn. Từ đó không c̣n khố, phải đi lội sông bắt cá vào ban đêm. Đến sáng mới bơi quanh các thuyền để bán đổi gạo, rồi bơi về ở trong nhà suốt ngày chẳng dám đi đâu. Hôm nay, lúc đang bơi tới gần các thuyền để bán cá, thấy người ta xôn xao đi xem thuyền Công chúa sắp ghé bến, nên sợ quá phải bơi lẩn đến vùi thân bên bụi lau này để trốn. Chẳng may lại xẩy ra cớ sự.”

Nghe người trai lạ kể nông nỗi can trường chịu đựng khổ đau như vậy, Tiên Dung mủi ḷng rơm rớm nước mắt. Nàng không ngờ trong đất đai của cha nàng trị v́ lại có hạng người đói khổ đến nỗi không có lấy một mẩu vải che thân. Cảm ḷng chí hiếu của người trai đang ngồi trước mặt, Tiên Dung lẩm bẩm một ḿnh rằng:

Người như thế này chưa chắc bọn con trai trong thiên hạ đă có ai sánh kịp.”

Rồi Tiên Dung đưa gáo cho Chử Đồng Tử và nói:

Anh tắm rửa đi. Lạ thật! Chắc có Trời se duyên!”

Rồi Tiên dung sai người lấy một bộ vơ phục của một viên quan hầu cho Đồng Tử mặc, và hai người giắt nhau về thuyền.

Trước mặt mọi người, Tiên Dung kể lại cuộc gặp gỡ kỳ dị vừa qua và tuyên bố:

Người này sẽ là chồng tôi!”

Chữ Đồng Tử đỏ mặt nói:

Tôi không dám, không dám.”

Nhưng Tiên Dung bảo :

Tôi vốn không có ư định lấy chồng.Nay gặp gỡ như thế này chắc có Trời xui.”

Và hôn lễ được cử hành ngay trên sông, có một số đông bô lăo địa phương tới dự. Phần lớn quan hầu và thị t́ đều theo ư Tiên Dung, nhưng cũng có đôi người cho rằng việc gặp gỡ không tốt đẹp lắm, nhưng biết Tiên Dung được vua cha cưng chiều nên không dám cản.

Tin này đồn về tới hoàng cung, vua Hùng nổi giận phán bảo quần thần rằng:

Thà nó không có chồng c̣n hơn. Thật là đốn mạt! Tại sao nó không chịu hỏi Ta.Thôi từ nay nhất thiết cấm cửa.Hễ nó vác mặt về Phong Châu th́ cho phép Lạc tướng chém chết trước, tâu sau.”

Một công chúa em ở trong cung vội bí mật cho người thân tín đi báo tin cho chị biết.Tiên Dung biết rơ tính cha nên không dám trở về cung nữa. Vợ chồng ở lại mở cửa hàng buôn bán ngay tại địa phương, đồng thời cho quân hầu thị t́ được tự do lựa chọn, hoặc về cung hầu vua hoặc về quê quán sống cùng họ hàng thân thuộc tùy ư.

Vợ chồng Chử Đồng Tử ở lại sống cuộc đời mới, giao thiệp với các thuyền buôn nước ngoài tới lui mua bán hàng, rất phát đạt. Chẳng bao lâu chỗ bến sông trở thành cái chợ quyến rũ được nhiều người tụ về làm ăn xầm uất. Một hôm, Đồng Tử đem vàng đi theo một khách buôn lớn, định ra nước ngoài mua hàng tận gốc về bán tại ngọn để kiếm một số lăi to. Thuyền dong buồm đi về phương Nam, được 5 ngày gặp một ḥn đảo giữa biển có ngọn núi tên Quỳnh Viên, ghé vào lấy nước ngọt. Đồng Tử lên bờ, vui chân đi tuốt lên tận đỉnh núi. Đang say sưa ngắm cảnh, bỗng thấy ḿnh đứng trước một cái Am nhỏ, có một đạo sĩ ngồi định thần trên phiến đá. Vừa tính lên tiếng hỏi th́ người kia đă nói:

Thằng bé Chử sao lại muộn thế?”

Biết là bậc thần dị, Chử Đồng Tử qùy phục dưới chân người lạ xin làm đồ đệ. Vừa lúc bọn lái thuyền tới Am t́m, Chữ Đồng Tử liền trao hết vàng bạc cho họ và nói:

Các bác cứ giữ lấy mà buôn.Tôi sẽ ở đây cho đến khi thành đạo.”

Đồng Tử học hiểu thấu đạo rất nhanh.Sư phụ c̣n truyền dạy cho biết thêm nhiều phép mầu nhiệm. Thời gian sau, khi chiếc thuyền buôn trở lại đón, Đồng Tử được sư phụ trao cho một chiếc gậy, một cái nón, và bảo:

Con có thể hạ sơn được rồi. Ta giao cho con những vật này. Tất cả sự linh diệu đều ở đó cả.”

Bước xuống thuyền, Đồng Tử không ngờ số vốn của ḿnh đă được người ta làm nẩy nở gấp mười lần.Nhưng bây giờ thấy tiền của, chàng cảm thấy dửng dưng và cũng chẳng màng đến truyện bàn tán kế hoạch buôn kiếm lời nữa.Về đến nhà, Đồng Tử truyền đạo lại cho vợ.Tiên Dung học đạo cũng nhanh chóng như chồng.

Thế rồi một hôm, vợ chồng Chử Đồng Tử đem của cải phân phát hết cho những người nghèo trong vùng và ra đi. Mọi người ngạc nhiên, không biết lư do v́ sao đang làm ăn phát đạt thịnh vượng như vậy, mà vợ chồng Chử Đồng Tử lại bỏ công việc, cho hết của cải, ra đi đâu để làm ǵ? Nào ai hay, hai người quyết chí ra đi t́m thầy học đạo thêm nữa.Ngày đi đêm nghỉ, một hôm hai người mải miết đi tới tối vẫn chẳng gặp một bóng nhà quán xá nào cả.

Tứ bề vắng tanh, không nghe tiếng gà gáy hay chó sủa, hai vợ chồng đành nằm đại trên băi cỏ nghỉ chân.Đồng Tử cắm gậy xuống đất rồi úp nón lên che sương để hai vợ chồng ngủ qua đêm.

Đến canh ba, bỗng dưng có tiếng chuyển động dữ dội làm thức giấc, vợ chồng Đồng Tử mới thấy ḿnh đang nằm trên chiếc giường ngọc, chăn gối êm dịu như nhung, quần áo trên người là thứ mầu lấp lánh như vẩy bạc. Xuống giường đi ra hành lang có bao lơn trắng như tuyết, hai vợ chồng mới thấy căn nhà ḿnh đang đứng được vây bọc bởi rất nhiều nhà nhiều lâu đài khác nữa, ngoài xa lại có bức tường thành bao bọc khu vực.

Giắt nhau đi quan sát, thấy đâu đâu cũng có người hầu hạ và quân lính canh gác, mặc nhiều kiểu quần áo mầu sắc rất đẹp. Tiên Dung hỏi hai người t́ nữ đi theo:

-Đây là nơi nào?”

Họ đáp:

-Đây là giang sơn riêng của công chúa như lời ước muốn của người.”

Khi vợ chồng Đồng Tử trở lại cung riêng vừa bước tới chính đường, có một viên quan bước ra qùy tŕnh lên Tiên Dung một lô sổ sách và nói:

-Xin dâng lên công chúa tất cả mọi vật ở đây.”

Hai vợ chồng cùng dở ra xem, thấy liệt kê tất cả lầu đài nhà cửa,vật dụng, khí giới, cả chục kho tàng chứa trữ ngọc ngà châu báu, vàng bạc, lương thực, cùng danh sách tên tuổi các quan văn vơ, quân lính, nô t́… Chử Đồng Tử nói với vợ:

-Thế là từ nay chúng ta làm chủ cái giang sơn này đây!”

Từ đó hai vợ chồng ở lại vui hưởng cuộc sống khác trước. Dân chúng quanh vùng nghe đồn hai vợ chồng công chúa Tiên Dung có phép Tiên, xây dựng thành quách lâu đài trong một đêm, nên ai nấy rủ nhau đem hoa quả, nếp gạo, gà, lợn đến làm lễ chào mừng chủ mới để xin nhờ che chở. Tiếng đồn ngày một lan xa, quân dọ thám về Phong Châu tŕnh vua Hùng. Chúng đoan chắc rằng vợ chồng công chúa có ư chia đôi sơn hà với Thiên tử, v́ thành quách xây kiên cố lại có rất đông quân lính canh pḥng bảo vệ.

 Lâu ngày vua Hùng đă quên Tiên Dung, nay nghe tin ḷng giận bừng bừng nói:

-Nó từ lâu là giặc, hoàn toàn không phải con ta. Các ngươi cố gắng lấy đầu của hai tên giặc đó về đây, sẽ có trọng thưởng.”

Y lệnh, các quan Lạc tướng rèn luyện quân tinh nhuệ rồi xuất quân kéo đến hạ trại bên kia sông. Quân tướng trong thành đến tŕnh bầy với hai vợ chồng Tiên Dung:

-Nếu công chúa muốn, chúng tôi có thể tiêu diệt quân “địch” trong khoảnh khắc.”

 Tiên Dung lắc đầu bảo họ:

-Không được, Ta đâu dám cự mệnh vua cha.”

Tin quân canh dồn dập tŕnh báo t́nh h́nh biến chuyển bên trại đối phương, vợ chồng Tiên Dung vẫn tươi cười thản nhiên như chẳng có truyện ǵ xẩy ra.Đêm hôm đó, vợ chồng Tiên Dung vẫn lên giường ngọc thản nhiên ngủ như thường ngày. Tới canh ba, quân canh vào báo cầu phao vượt sông của bên “địch” đă bắc xong, và họ đang nấu ăn. Hai vợ chồng Tiên Dung ngồi dậy cùng hướng mặt lên trời, thế là một trận băo vụt nổi lên, mỗi lúc một dữ dội, đất chuyển động ầm ầm, gió xoáy một cách kinh khủng đến nỗi có thể bốc tất cả mọi thứ trên mặt đất ném đi nơi khác.

Sáng hôm sau, nhân dân quanh vùng và quân tướng vua Hùng ngạc nhiên thấy một sự lạ chưa từng có. Băo đă tan từ lâu, nhưng thành quách của công chúa và tất cả cung điện, nhà cửa, quân gia, súc vật, đồ dùng đều bay đi đâu mất cả không c̣n sót một tí ǵ.

Giữa đó là một cái đầm rộng mênh mông, đầy nước trắng xoá.Duy chỉ có cái nền xây cung của hai vợ chồng công chúa th́ vẫn c̣n.Người ta gọi cái đầm ấy là “Đầm Nhất Dạ” (nhất dạ nghiă là một đêm), và cái nền ấy là “Băi Tự Nhiên”.Về sau trên cái nền ấy, người ta lập Miếu thờ hai vợ chồng Chử Đồng Tử.

 

Ba là, TẢN VIÊN SƠN THẦN, làng VÀ, tỉnh Sơn Tây.

 

Núi Tản Viên” nằm trong địa phận làng VÀ, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Đây là ngọn núi

cao nhất tỉnh (1280 mét), có ba tầng cao chót vót nên c̣n được gọi là “Núi Ba V́”.

Đứng xa ngắm toàn cảnh núi thấy hai bên như có hai cánh chim phượng, nên có thêm tên

núi Cánh Phượng” hoặc “Phượng Hoàng Sơn”. Tại làng VÀ ngay chân núi Tản Viên có

đền thờ Tản Viên Sơn Thần, trên gần đỉnh núi cũng có một đền khác thờ Thần.

Hàng năm các làng quanh vùng họp nhau mở hội vào ngày Rằm tháng Giêng Âm lịch,

đặc biệt có rước kiệu Linh vị Thần từ đền làng VÀ lên đền Ngài gần đỉnh núi Tản Viên.

Đối với dân chúng tỉnh Sơn Tây, nhất là hai huyện Phúc Thọ và Bất Bạt rất sùng kính

Tản Viên Sơn Thần, v́ ngài là một vị thượng-đẳng-thần rất linh thiêng, có nhiều phép thuật,

luôn luôn phù hộ cho dân chúng trong vùng được “phong đăng hoà cốc” thịnh vượng an ninh.

Tản Viên Sơn Thần chính là Sơn Tinh (tên tục là Nguyễn Tuấn) con rể vua Hùng Vương thứ 18, mà dân gian Việt Nam lưu truyền trong truyện cổ tích “Sơn Tinh và Thủy Tinh”. Thời các chính quyền Quốc gia Nhân bản điều hành đất nước Việt Nam, truyện cổ tích “Sơn Tinh và Thủy Tinh” được ghi vào chương tŕnh giáo dục Tiểu học trong loại bài học thuộc ḷng, tóm lược như sau:

Tục truyền Sơn Tinh vốn là ḍng dơi vua Lạc Long, nhà nghèo nên thường phải vào rừng kiếm củi. Một ngày kia vào rừng, Ngài đốn một cây cổ thụ vừa xong, ra về th́ trời cũng chạng vạng tối. Sáng hôm sau trở ra, Ngài rất ngạc nhiên thấy cây đă mọc trở lại như chưa hề bị một nhát dao hay búa nào! Ngài lại h́ hục đốn cây cổ thụ đó, đến tận chiều tối cây ngă xong mới ra về, sáng hôm sau ra, lại thấy cây sống trở lại y như hôm trước. Lấy làm lạ, Ngài đă toan đi đốn một cây khác, nhưng sau một hồi ngẫm nghĩ, Ngài quyết định đốn cây cũ như hai ngày hôm trước.Lần này đốn xong trời cũng vừa tối, Ngài không ra về mà t́m một chỗ kín nấp ŕnh qua đêm xem sự thể ra sao.Một lát sau thấy có sao Thái Bạch ở trên Trời xa xuống cứu cây ấy sống lại. Ngài chạy ra phàn nàn t́nh trạng nghèo khổ của ḿnh, phải đốn củi kiếm ăn, mà Thái Bạch lại đi cứu cây khiến cho Ngài không biết lấy ǵ sinh sống.

Thái Bạch Kim Tinh bèn cho Ngài một cây gậy và dặn rằng:

-Gậy này có phép cứu được bách bệnh cho người ta, hễ ai ốm đau chỉ cầm gậy chỉ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu dân độ thế.”

Ngài nhận cái gậy và từ đó bỏ nghề đốn củi, làm nghề đi cứu người đau ốm. Một hôm, Ngài cứu sống được một con rắn bị lũ trẻ chăn trâu đánh chết. Con rắn trên đầu có chữ Vương, được cứu sống liền ḅ xuống sông đi mất. Vài ngày sau, bỗng có một chàng trai mang lễ vật tới biếu Ngài, và nói:

-Tôi là Tiểu Long Hầu, con vua Long Vương ở bể Nam. Hôm nọ đi chơi bị lũ trẻ chăn trâu đánh chết, may được ông cứu sống, hôm nay tôi đến trả ơn.

Ngài nhất định từ chối không nhận vàng ngọc châu báu của Tiểu Long Hầu.Nên Tiểu Long Hầu cố khẩn khoản mời Ngài xuống chơi dưới biển. Nể lời năn nỉ mời quá, Ngài phải nhận lời. Tiểu Long Hầu đưa ra một ống linh-tê để rẽ nước cho Ngài đi xuống biển.Long Vương thấy Ngài xuống chơi mừng lắm, mở tiệc thết đăi ba ngày, rồi đưa tặng những của quư lạ.Ngài một mực từ chối không nhận ǵ cả.Sau cùng, Long Vương tặng một quyển sách ước, muốn ước ǵ được nấy, Ngài nhận.

Chiếc gậy thần và quyển sách ước đă giúp Ngài cứu dân độ thế, đi đến đâu dân chúng cũng được nhờ. Ngài đi chu du khắp trong nước, chỗ nào dân thuần hậu th́ ở lại, chỗ nào nhân t́nh đơn bạc chuộng phù hoa th́ bỏ đi. Phép thuật Ngài cao cường, thần thông biến hoá, không thần thánh nào b́ kịp. Khi Ngài đi tới huyện Phúc Lộc (nay là huyện Phúc Thọ) và huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, thấy có núi Tản Viên, ba tầng núi xoè ra như h́nh chiếc tán, phong cảnh u nhă, lấy làm bằng ḷng lắm. Ngài liền hoá phép làm một con đường về phía Nam núi, khởi từ bến Phan Tân bên gịng sông Hắc giang, qua cánh đồng các làng Vệ Đỗng, Nham Toàn, Thạch Bàn, Vân Mộng và Hiệu Lực, đến tận chân núi. Ngài ở trên tầng núi cao nhất.Ngài thường ra sông Tiểu Hoàng xem cá, và luôn luôn cứu giúp dân chúng quanh vùng qua những cơn bệnh hoạn, và mùa màng hàng năm cũng được tốt đẹp.Nhớ ơn Ngài, nên nhiều làng quanh núi Tản Viên và những nơi Ngài đă đặt chân tới đều lập đền thờ Ngài.Đi đến đâu Ngài cũng hoá phép thành lâu đài tới đó, thấy lâu đài là dân chúng lại lập Đền hay Miếu để thờ.

Lúc đó vào thời vua Hùng Vương thứ 18, có công chúa tên Mị Nương rất xinh đẹp.Tản Viên Sơn Thần (tức là Sơn Tinh) và vua Thủy Cung (là Thủy Tinh) cùng hỏi xin lấy làm vợ. Vua phán rằng :

-Nếu ai đem lễ vật đến trước th́ Ta gả cho người đó.”

Sơn Tinh đem lễ vật tới trước nên được vua Hùng Vương gả Mị Nương cho. Thủy Tinh tức giận bèn dâng nước lên vây đánh Sơn Tinh, mưa gió sấm xét ầm ầm, trời đất mù mịt, nhưng phép thần thông của Sơn Tinh rất ghê gớm, Thủy Tinh không làm ǵ được phải rút quân về. Nhưng từ đó về sau, hàng năm nhớ thù cũ, Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh, gây cảnh lụt lội trong dân gian.

Dần dần về sau không c̣n ai gặp Tản Viên Sơn Thần nữa, nhưng người ta vẫn linh cảm rằng Ngài vẫn luôn luôn hiện diện giúp đỡ cho mọi người.Theo các cụ kể lại, những năm bị hạn hán, nhân dân lập đàn cầu đảo xin Ngài phù trợ lập tức có mưa ngay, hoặc ngược lại mưa nhiều quá cầu xin tạnh cũng được linh nghiệm. Cũng theo lời truyền lại, những khi trời tạnh, người ta thấy Ngài thường hay hiện h́nh đi chơi các khe suối, và luôn có đám mây phủ như h́nh cánh quạt. Do đó các Đền thờ Ngài luôn luôn có rất đông người lui tới lễ bái cầu xin phù hộ.”

 

Bốn là, LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA, đền Phủ Giày, tỉnh Nam Định.

 

Tại xă Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định có Đền Phủ Giày thờ Liễu Hạnh Công Chúa (tức là Tiên Chúa Quỳnh Nương tên tục là Giáng Tiên) với thánh hiệu “Thánh Mẫu Vân Hương”. Hàng năm đều có mở Hội rất linh đ́nh nhộn nhịp, từ mồng Một đến hết mồng Mười tháng Ba Âm lịch mới ră đám. Hội Phủ Giày được dân chúng Bắc Việt và miền Bắc Trung Việt tới dự rất đông, nhất là dân mấy tỉnh Nam Định, Ninh B́nh, Thái B́nh, và Thanh Hoá.

Tại Ṣng Sơn, Phố Cát, Đèo Ngang thuộc tỉnh Thanh Hoá, cũng có đền thờ Tiên Chúa với thánh hiệu “Mă-Vàng Công Chúa”, “Chế-Thắng Bảo-Hoà-Điệu Đại Vương” để dân chúng thờ phượng sùng bái

Đặc biệt tại phố Cửa Nam Thị xă Lạng Sơn cũng có đền thờ Tiên Chúa Quỳnh Nương, nhưng với thánh hiệu là “Thánh Mẫu Vân Hương”, hàng năm có tổ chức Lễ Hội từ ngày 20 tháng 3 Âm lịch (tức là 10 ngày sau Hội Phủ Giày ră đám) và kéo dài 5 ngày mới măn hội.

Tục truyền về sự tích Liễu Hạnh Công Chúa (*) được tóm lược như sau:

Liễu Hạnh công Chúa tên thật là Giáng Tiên, ái nữ của ông Lê Thái Công, ở thôn An Thái, xă Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Vân Cát là một làng văn học, dân cư sầm uất gần giáp núi Gôi, nơi có ga xe lửa trên đường Hà Nội đi Ninh B́nh.

Lê Thái Công vốn người nhân đức ưa làm điều thiện, nhưng số phận hiếm hoi, măi ngoài 40 tuổi mới sinh được một con trai. Cách năm sau, phu nhân lại có thai, đă quá tháng mà không sinh lại thường bị đau yếu, chỉ thích ngửi hương hoa. Người nhà nghi phu nhân bị tà ma ám ảnh, đón thầy pháp về yểm trừ nhưng bệnh không thay đổi, cả nhà đều lo sợ vô cùng. Cho đến một đêm vào Tiết Trung Thu, trong lúc mọi người thưởng nguyệt, bỗng có một người ăn mặc rách rưới, tự khoe có phép thuật xin vào trị bệnh. Người nhà không tin, riêng Thái Công vẫn ân cần đón mời vào nhà. Khi vào đến sân, người đó rút trong tay áo ra một cây búa ngọc, nhẩy lên đàn tràng đă dựng từ trước cho thầy pháp trừ tà, rồi ngửa mặt lên Trời lâm râm tụng niệm. Thái Công và gia nhân đứng bên dưới đàn tràng nh́n lên.

Bỗng nhiên đang tụng niệm, người kia hét lên một tiếng rất lớn và quăng cây búa ngọc xuống chỗ Thái Công đứng. Thái Công liền ngă nhào xuống đất mê man bất tỉnh.Người nhà thấy vậy biết là pháp thuật, cùng nhau líu ríu khấn vái. Một lát sau Thái Công tỉnh dậy, cùng lúc ấy trong pḥng phu nhân có ánh hào quang sáng rực và tiếng khóc oa oa. Phu nhân vừa hạ sanh một gái, hương thơm bay ngào ngạt khắp nhà. Mọi người vui mừng không quan tâm đến người lạ, khi nhớ ra nh́n lên đàn tràng th́ người ấy đă biến mất tự bao giờ.Ai cũng cho là lạ.

Thái Công tỉnh dậy kể cho mọi người nghe câu truyện xẩy đến với ông trong khi bất tỉnh:

Khi ngă xuống, có mấy lực sĩ dẫn ông đi thẳng đến một khu ánh sáng lờ mờ, qua mấy chặng đường đến trước một cửa ngọc lầu vàng. Lực sĩ thay quần áo cho ông rồi dẫn vào cửa cấm chờ lệnh. Không lâu, bỗng thấy mây vàng bao phủ, hai bên sân có hàng mấy trăm tiên nữ áo quần tha thướt, múa hát những khúc nghê thường vũ y. Cô dâng đào, cô chuốc rượu chúc thọ Vương Mẫu. Giữa lúc ấy, có một tiên nữ áo hồng, nâng chén ngọc lỡ tay đánh rơi chiếc chén vỡ tan, tức th́ bên phiá tả có một tiên ông đệ tŕnh một cuốn sổ vàng. Vương Mẫu quở mắng nàng tiên xong, có hai thị nữ áp dẫn nàng tiên áo hồng ra lối cửa Nam, một người cầm chiếc bảng vàng đề hai chữ SẮC GIÁNG đi trước (tờ sắc lệnh cho giáng xuống trần gian). Thái Công hỏi người Lực sĩ đứng bên, anh ta đáp:

-Đây là tiên chúa thứ hai tên gọi Quỳnh Nương, nay phạm lỗi bị giáng xuống trần.”

Lực sĩ nói xong, đẩy mạnh Thái Công làm cho ông sực tỉnh vừa đúng lúc nghe tiếng khóc oa oa trong pḥng phu nhân.Thật kỳ lạ, cả nhà ai cũng đoán cô gái mới sinh đúng là tiên nữ áo hồng giáng thế.V́ vậy, Thái Công đặt tên con là Giáng Tiên.

Khi Giáng Tiên lớn lên nhan sắc đẹp lạ thường, học hành thông minh lại có tài âm nhạc, nhất là xử dụng ống tiêu (flute).Cô đă soạn ra nhiều ca từ phổ vào đàn nhạc.

Dưới đây là bốn bài ca từ về bốn mùa, theo bản dịch của Phan Kế Bính trong Nam Hải dị nhân liệt truyện:

 

XUÂN TỪ (điệu Xuân-Quang-Hảo)

Cảnh như vẽ, khéo ai hay?
Hoa đào mỉm miệng liễu dương mày.
Bướm nhởn nhơ bay,
oanh vàng líu lo trong bụi,
én đỏ ríu rít trên cây.
Buồng xuân d́u dặt mối t́nh ngây,
đề thơ này!

 

HẠ TỪ (điệu Cách-Phố-Liên)

Trời đất nhiều phần nóng nẫu.
Đầu cành rúc giọng ve,
băi cỏ vắng tiếng chẫu;
ṿ vơ quốc kêu sầu,
eo éo oanh hót ngẫu.
Dường bảo nhau:
“Chúa Xuân về rồi, thôi cũng hảo!”
Cảnh sắc dường kia, ngao ngán cầm ḷng khôn đậu.
May đâu thần Chúc-dong gẩy một khúc Nam huân,
hương sen thoảng đáo, một trận gió bay, sạch ḷng phiền năo.

 

THU TỪ (điệu Bộ-Bộ-Thiềm)

Mặt nước trong veo non tựa ngọc,
gió vàng hây hẩy khua khóm trúc.
Hoa lau muôn dặm trắng phau phau,
cây cối vẻ hồng pha vẻ lục.
Cung Thiềm sáng quắc, ả
Hằng ngủ, dạo bước thềm giao t́nh rạo rạc.
Chi bằng đến thẳng dưới giậu hoa cúc thơm,
thảnh thơi dạo đàn gẩy một khúc.

 

ĐÔNG TỪ (điệu Nhất-Tiễn-Mai)

Khí đen mờ mịt toả non sông,
hồng về Nam xong!
Nhạn về Nam xong!
Gió bấc căm căm tuyết mịt mùng!
Tựa triện ngồi trông!
Tựa triện đứng trông!
Sưởi ḷ mặt vẫn giá như đồng,
ngồi chẳng yên ḷng,
Nằm chẳng yên ḷng!
Dậy xem phong cảnh lúc trời Đông,
hoa quên lạnh lùng,
người quên lạnh lùng!

 Giáng Tiên thường dạo bốn khúc ca thật là buồn này.Thái Công cũng cảm thấy ḷng buồn man mác, mỗi khi dạo chơi vườn sau nghe con gái khẩy mấy khúc nhạc buồn này. Thái Công có một ông bạn họ Trần ở cùng làng, bèn cho Giáng Tiên làm con nuôi Trần Công, và dựng riêng một căn nhà xinh trong vườn nhà Trần Công để nàng ở. Ít lâu sau, Giáng Tiên kết duyên cùng Đào Lang, con trai một hưu quan ở gần nhà Trần Công. Về làm dâu nhà họ Đào, Giáng Tiên một ḷng hiếu thuận, và năm sau sinh hạ một con trai.

Ba năm sau, một hôm nhằm ngày mồng Ba tháng Ba, Giáng Tiên tự nhiên không bệnh mà mất, năm ấy nàng mới 21 tuổi. Nàng chết đi, cả ba nhà họ Lê, họ Trần, và họ Đào đều thương tiếc, sầu thảm không nguôi, nhất là Lê Thái Bà đêm ngày khóc lóc đau xót vô cùng. Có lẽ cảm thương mẹ quá đau đớn, một hôm giữa lúc Thái Bà đang khóc, Giáng Tiên hiện về ôm lấy mẹ mà nói:

-Mẹ ơi! Con ở đây mẹ khóc ǵ thế!

Thái Bà ngửng nh́n con, và cả nhà xúm lại hỏi han, Giáng Tiên nói:

-Con là Đệ nhị Tiên cung phải đầy xuống trần, nay hết hạn phải về Thiên cung.Cha mẹ có âm công đă vào sổ tiên, mai sau cũng được đoàn tụ không can ǵ phải âu sầu.”

Nói xong nàng biến mất.Từ ngày nàng hiện về, người làng biết truyện, gọi nàng là Tiên Chúa.

Kể từ khi Tiên Chúa mất đi, Đào Lang cũng sầu thảm khôn khuây.Để giải phiền chàng thường ngâm thơ.Một đêm giữa lúc chàng đang ngâm thơ, Tiên Chúa hiện tới.Chàng vội vàng níu lấy kể lể sự đau khổ của ḿnh.Tiên Chúa khuyên giải rồi lại biến mất.

Từ đó Tiên Chúa thường hiện lên ở khắp nơi. Có lần ở Lạng Sơn, Tiên Chúa đă cùng Phùng Khắc Khoan đối đáp thơ văn. Lại có lần ở Hồ Tây, Tiên Chúa cùng Phùng Công làm thơ xướng họa liên ngâm.Về sau Tiên Chúa hiển Thánh ở Đèo Ngang, Phố Cát, tỉnh Thanh Hoá.Tiên Chúa hiện ra làm một cô gái nhan sắc mở quán bán nước, những đàn ông con trai đi qua đùa bỡn bị chết hại rất nhiều.Tin đồn về Triều đ́nh cho là yêu quái, sai phù thủy và quân tướng đi dẹp. Chẳng ngờ khi đến Đèo Ngang, khi phù thủy thi thố pháp thuật th́ tự nhiên bị ngă lăn ra đất mắt trợn trừng trừng, quân lính bèn dùng tên lửa bắn vào rừng cây cháy trụi tàn phá hết đền đài. Vài tháng sau, chứng dịch tễ phát sinh tại địa phương, dân chúng cùng nhau lập đàn cúng tế.Tiên Chúa ứng lên cho biết ḿnh hiển Thánh.Nhân dân thấy việc lạ, làm sớ tâu lên Triều đ́nh.

Được sớ tâu, Hoàng đế Lê Huyền Tôn hạ chiếu cho Công bộ đến tận nơi Phố Cát, dựng đền thờ và sắc phong làm Mă-Vàng Công Chúa.Về sau, vào đời vua Cảnh Hưng, giặc Mèo nổi loạn, triều đ́nh sai Quận Công Phan văn Phái đi dẹp. Khi kéo quân tới Đèo Ngang, Phan Quận Công vào đền Tiên Chúa cầu khẩn, và ngày hôm sau tiến quân đánh tan được giặc Mèo. Trước công trạng ấy, triều đ́nh sắc phong Mă-Vàng Công Chúa làm Chế-Thắng Bảo-Hoà-Điệu Đại Vương, và đồng thời sai dựng mấy toà Đền ở Ṣng Sơn, Phố Cát, Đèo Ngang để thờ. Đền Ṣng Sơn rất anh linh, cho đến trước thời tiền chiến (1945), hàng năm có rất đông người tới lễ bái.” 

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG biên khảo.(**)

(*) Trong tài liệu tham khảo không thấy giải thích v́ sao nàng Giáng Tiên, con gái hiền nhân Lê Thái Công (một dân giă ở xă Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định) lại được gọi là LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA

(**) Các tài liệu tham khảo gồm: Việt Nam Sử Lược của Trần trọng Kim,

Hội hè đ́nh đám (quyển thượng) của Toàn Ánh, và Lọ nước thần của Nguyễn Đổng Chi.

Quốc Ca - Quốc Kỳ - Quốc Hiệu VNCH (HD kinetic).wmv

Đặc san Hướng Đạo Quân Đội 1974

Nguyễn Huy Hùng

***

 -Nguyễn Huy Hùng

Phần II: Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa)  Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi  Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21 Tổng hợp tháng 4 năm 2016 -Phần II (1) Tâm  sự người con đầu ḷng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt

 

Phần I :Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa) Bút  Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thế Kỷ 20 và 21.Tổng hợp tháng 4 năm 2016.- Phần I (1) Sự thật lịch sử VN vào 1945 (2) Nh́n lại ḿnh 62 năm trước (3) VNCH ra đời trong hoàn cảnh nao (4) Tứ thánh bất tử Việt nam

 

Phần II: Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa)  Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi  Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21 Tổng hợp tháng 4 năm 2016 -Phần II (1) Tâm  sự người con đầu ḷng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt

Phần III Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam CộngḤa) Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thyế Kỷ 20 Và 21- Phần III (1)T́m hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6 (2)Câu truyện bán nước của bọn gian tặc Hồ chí Minh và bè đảng Việt cộng  (3) (4) Những cái Tết  khó quên của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20