báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

[Bài Viết - Article]                                                                   

BÚT KƯ
VIỆT NAM VÀ ĐỜI TÔI QUA HAI THẾ KỶ 20 VÀ 21.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
(Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa)
Tổng hợp tháng 4 năm 2016.
 


Nguyễn-Huy Hùng, ảnh chụp năm 1969.

ĐÔI LỜI TÂM SỰ


Tôi gia nhập Quân đội từ năm 1947 và tiếp tục cuộc đời binh nghiệp cho đến ngày Quốc Hận 30-4-1975 th́ bị bạo quyền Việt Cộng bắt đi tù tập trung cải tạo suốt 13 năm sau mới được tha về sống đoàn tụ với gia đ́nh tại Saigon. Tháng 8 năm 1992 được bạo quyền trục xuất ra khỏi nước cùng với vợ các con và các cháu nội cháu ngoại đi định cư tỵ nạn chính trị Cộng sản tại Hoa Kỳ theo diện H.O.10 (Humanitarian Operation).

Suốt từ ngày tới Hoa Kỳ đến nay, ngoài việc lo cho gia đ́nh Tôi vẫn hăng hái tham gia hoạt động chính trị chống Cộng cùng với các Hội đoàn cựu Chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa và các Tổ chức Cộng đồng người Việt Tỵ nạn Cộng sản trên toàn thế giới. Tôi cũng đă thường xuyên đóng góp rất nhiều bài tham luận đăng trên các Diễn đàn Intrenet, các báo Việt ngữ, đọc trên Đài phátthanh và Vô tuyến truyền h́nh của người Việt nơi hải ngoại. Lúc này các Cộng đồng người tỵ nạn cư trú trên toàn thế giới đang rầm rộ tổ chức tưởng niệm THÁNG TƯ ĐEN, nên Tôi thấy là cần gom một số bài quan trọng mà Tôi đă đóng góp từ trước đến nay vào Tập Bút Kư này, để các Bạn Trẻ đang hăng hái dấn thân tiếp nối công cuộc đấu tranh chống Cộng của Ông Cha ḿnh cho đến khi toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách thống trị độc tài tàn bạo của bè đảng Việt Cộng (chưa có dịp đọc trước đây) tùy nghi tham khảo./.

Chào kính mến, NGUYỄN-HUY HÙNG.

Nội dung:

Phần I :Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa) Bút  Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thế Kỷ 20 và 21.Tổng hợp tháng 4 năm 2016.- Phần I (1) Sự thật lịch sử VN vào 1945 (2) Nh́n lại ḿnh 62 năm trước (3) VNCH ra đời trong hoàn cảnh nao (4) Tứ thánh bất tử Việt nam

Phần II: Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa)  Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi  Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21 Tổng hợp tháng 4 năm 2016 -Phần II (1) Tâm  sự người con đầu ḷng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt

Phần III:Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam CộngḤa) Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21- Phần III  (1) T́m hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6 (2) Ngồi lại với nhau (3) Truyện bán nước của gian tặc Hồ Chí Minh và bè đảng Việt cộng (4) Ô nhục ải Nam Quan (5) Những cái Tết khó quên của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20 &more

 

TÂM SỰ NGƯỜI CON ĐẦU L̉NG

TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

 

Nguyễn Huy Hùng ngày 7 tháng 10 năm 2012, Hemet California

Web http://colhungnguyen.webs.com/

Mến chào Quư Đồng môn Trường Vơ bị Quốc gia  Việt Nam,

Tôi không phải là Đại diện Khóa 1 v́  không ai bầu cho. Tôi, và đặc biệt từ ngày sang định cư tỵ nạn Cộng sản tại  Hoa Kỳ vào đầu  tháng 8 năm 1992 cho đến nay. Tôi chẳng gặp ai trong  số các Bạn đồng  khoá, ngoại trừ 3 vị Tướng đang định cư  tại hải ngoại là Thiếu Tướng Bùi Đ́nh Đạm tại San Jose, Bắc California, Hoa Kỳ (mới qua đời ngày 30-5-2009), Trung Tướng Trần Văn Trung tại Paris Pháp  và Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng tại Montreal Canada.

Trong suốt 20 năm qua Tôi thường xuyên liên lạc với  Quư Vị này qua điện thoại và thư gửi qua Bưu điện.

Riêng đối với Tướng Trung và Tướng Xứng, chúng tôi  c̣n hân hạnh liên lạc và trao đổi với nhau các tin tức  bài tham luận chính trị và thơ chống Cộng qua mạng  Internet, nhưng từ khoảng một năm nay tinh trạng sức  khoẻ của các Tướng Trung và Tướng Xứng suy giảm nên quư vị này  không c̣n liên lạc  hàng ngày với Tôi qua Internet nữa.

Theo tin tức của thân hữu từ bên Pháp, Tôi được biết hiện có 1 bạn gốc người miền Trung Việt Nam  cùng Khoá 1 với Tôi đang định cư tại Montargis Pháp là anh Đại Tá Nguyễn Khương nguyên thuộc Binh chủng Truyền Tin nhưng sau lại di sang định cư tại Hoa Kỳ không biết ở đâu, và mới đọc được trong cuốn LƯỢC SỬ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ, do Đại Tá Trần Ngọc Thống, nguyên Trưởng Pḥng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu và 2 vị sĩ quan Hồ Đắc Huân, Lê Đ́nh Thụy phối hợp sưu tầm biên soạn và phát hành vào năm 2011 vừa qua tại khu Little Saigon Nam California, thấy tên 2 bạn cùng khoá thuộc trung đội 1 người miền Nam cũng đang định cư tại Tiểu bang Virginia Hoa Kỳ là các Đại Tá Nguyễn Quang Sanh, Nguyễn văn Y, nhưng v́ không biết địa chỉ nên chưa hề có cơ hội liên lạc với các anh ấy.

Cuối tháng 12-2012, Tôi nhận được điện thư của Niên Đệ VƠ NHẪN đương kim Tổng hội trưởng Tổng hội cựu Sinh viên Sĩ quan Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam yêu cầu Tôi viết bài giới thiệu về Khoá 1 để đóng góp vào cuốn Lịch sử Trường Vơ bị Quốc  gia Việt Nam dự trù sẽ phát hành vào năm 2014.  Do đó Tôi cố gắng tập trung trí nhớ đang trong tuổi già nua  trên 80 để viết về những ǵ mà mọi người muốn biết về Khoá 1, Khoá đầu tiên của Trường Vơ Bị Quốc gia Việt Nam được thành lập vào cuối năm 1948 tại Huế sau khi Quốc gia Việt Nam giành đuợc Độc Lập sau hơn 80 năm dưới sự đô hộ của Thực dân Pháp. Những điều Tôi tŕnh bầy nếu có Bạn nào thuộc Khoá 1 đọc được thấy có điều ǵ thiếu sót th́ xin vui ḷng bổ túc giúp, Tôi chân thành đa tạ.

 1.- NGUYÊN NHÂN TRƯỜNG SĨ QUANVIỆT NAM ĐƯỢC THÀNH LẬP.(tiền thân của Trường Vơ bị Quốc Gia Việt Nam)

         Sau khi quân Phiệt Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, Liên Hiệp Quốc cử các lực lượng quân sự của Trung Hoa Dân Quốc và Anh Quốc vào lănh thổ Đông Dương để giải giới quân Nhật và tiếp giúp cho các Dân tộc bản Xứ (Annam, Lào, Cao Miên) tái lập Quốc gia độc lập thoát khỏi ách đô hộ của Pháp. Trên lănh thổ Việt Nam, các Đoàn thể chính trị Quốc gia không theo Cộng sản ḥa hợp với nhóm Việt Minh Cộng sản của Hồ Chí Minh để thành lập chính phủ Liên Hiệp điều hành đất nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh với tư cách Chủ tịch  Chính phủ Liên Hiệp đại diện đứng ra tuyên bố NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG H̉A ĐỘC LẬP không c̣n lệ thuộc vào Pháp nữa.  Nhưng đến ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hồ Chí Minh lại lợi dụng danh nghĩa Chủ Tịch Chính phủLiên Hiệp phản bội Tổ Quốc Việt Nam bằng cách lén lút kư với Saintenay (Đại diện Pháp) đang sống tại  HàNội Bản Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946 chấp nhận cho Pháp đổ quân lên trấn đóng tại nhiều Thành phố lớn tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam kể cả Hà Nội, sau khi Pháp đă chiếm và đóng quân tại các tỉnh thuộc miền Nam Vĩ Tuyến 16 của Việt Nam vào cuối tháng 1 năm 1946.

Đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, Hồ Chí Minh và phe Việt Minh của hắn chính thức đón tiếp quân Pháp đổ bộ lên thành phố cảng Hải Pḥng và tiến lên Hà Nội bằng đuờng bộ. Sau hơn 7 tháng quân Pháp được công khai an toàn đóng quân và củng cố vị trí an ninh ngay giữa các thành phố lớn, nhiều điều xích mích đă xẩy ra về chia chác quyền hành cai trị giữa Việt Minh và Pháp ngay trong các thành phố đă không được giải quyết ổn thoả, nên tối ngày 19 tháng 12 năm 1946 Hồ Chí Minh và phe nhóm Việt Minh đă phát động cuộc “tổng tấn công” các điạ điểm trú quân của quân Pháp tại tất cả các thành phố đang có quân Pháp trú đóng. Nhưng rất tiếc v́ trang bị vũ khí thô sơ tổ chức quân chưa hoàn chỉnh nên Việt Minh đă bị thua phải bỏ các thành thị rút vào “bưng” để tiếp tục tiêu thổ kháng chiến. Quân Pháp toàn thắng, bắt đầu tái dụng các Quan lại thời đô hộ cũ và nhóm con lai Pháp lập hệ thống Hành chánh cai trị giúp dân chúng tái tạo cuộc sống b́nh thường tại các Đô thị. Chiến tranh tiếp tục lan tràn qua các tỉnh kế cận Hà Nội đến các vùng nông thôn, dân chúng phải sống giữa 2 gọng kềm VIỆT MINH và PHÁP vô cùng thảm thương bi đát.

          Trước hoàn cảnh đó, các Nhân sĩ Việt Nam thương nước yêu ṇi và thành viên các Đảng phái Quốc gia Không Cộng sản thoát chết sau vụ Việt Minh phản bội tàn sát hồi đầu năm 1946 đă ngồi lại với nhau t́m giải pháp ôn ḥa giành lại Độc lập cho đất nước mà không phải phung phí xương máu của Dân tộc v́ chiến tranh, đă đi đến kết luận vận động mời Cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong tại Hồng Kông đứng ra thương thuyết với Chính phủ Pháp để tái dựng QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT cả 3 miền trong KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP. Ngày 19 tháng 8 năm 1947, Cựu Hoàng Bảo Đại từ Hồng Kông tuyên bố bằng ḷng đứng ra tiếp xúc điều đ́nh với Chính phủ Pháp. Cuộc vận động kéo dài măi tới ngày 5 tháng 6 năm 1948, trên chiếc tầu biển DUGUAY TROUIN neo tại Vịnh HẠ LONG Cựu Hoàng Bảo Đại mới tới để chứng kiến Thiếu Tướng NGUYỄN VĂN XUÂN Thủ Tướng và mấy vị ĐẠI DIỆN CẢ 3 MIỀN BẮC TRUNG NAM thuộc Chính phủ Trung Ương Lâm thời Việt Nam Thống Nhất, cùng Ông BOLLAERT (đại diện Chính phủ Pháp) kư bản HIỆP ƯỚC HẠ LONG công nhận QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT CẢ 3 MIỀN BẮC-TRUNG-NAM trong KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP.

 Kể từ ngày giờ đó, Cờ Quốc gia Việt Nam mới là Nền Vàng với Ba Sọc Đỏ nằm dài chính giữa (theo h́nh Quẻ Càn của Bát quái trận đồ), và Quốc Ca là bài “Tiếng gọi công dân” nhạc của Lưu Hữu Phước (nguyên là đoạn 1 của bài “Sinh viên hành khúc” nhưng lời ca được sửa đôi chỗ. Bài “Sinh viên hành khúc” nguyên thủy gồm 3 đoạn đă được các Sinh viên Viện Đại học Hà Nội tŕnh bầy hợp ca lần đầu tiên trong buổi tŕnh diễn văn nghệ ngày 15-3-1942 tại hội trường Viện Đại học để gây quỹ giúp các bệnh nhân nghèo trong các Bệnh viện nơi Sinh viên Y khoa thực tập.)

Một ngày sau khi kư Hiêp Ước Hạ Long tức là ngày 6 tháng 6 năm 1948, Quốc Trưởng BẢO ĐẠI chỉ thị Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân Thủ Tướng Chính phủ Trung Ương của nước Việt Nam Thống Nhất cả 3 Miền xúc tiến việc thành lập QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM (QĐQGVN), khởi sự bằng việc tổ chức TRƯỜNG SĨ QUAN VIỆT NAM HIỆN DỊCH tại Huế (tiền thân của Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà tại miền Nam do ông Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng Thống lại cải danh thành TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, có giá trị tương đương với các trường Vơ bị Lục quân Saint Cyr của Pháp và West Point của Hoa Kỳ) để đào tạo cấp Chỉ huy trước khi thành lập các ĐƠN VỊ TÁC CHIẾN và CƠ SỞ QUẢN TRỊ YỂM TRỢ TIẾP VẬN HÀNH CHÁNH QUÂN ĐỘI.

            Ngày 1 tháng 6 năm 1949, Khóa Sĩ Quan Hiện dịch đầu tiên tốt nghiệp tại Huế được đặt tên là Khoá BẢO ĐẠI cung cấp cho Bộ Quốc Pḥng chính phủ Việt Nam 53 THIẾU ÚY hiện dịch.Đồng thời 4 TIỂU ĐOÀN VIỆT NAM đầu tiên cũng được khởi sự thành lập tại 2 miền Nam và Bắc Việt Nam: -Tiểu đoàn 1 Việt Nam (Bạc Liêu), - Tiểu đoàn 2 Việt Nam (Thái B́nh), - Tiểu đoàn 3 Việt Nam (Rạch Giá), - Tiểu đoàn 4 Việt Nam (Hưng Yên). (Bản thân người viết được cái vinh dự là một trong số 53 Sĩ quan Hiện dịch tốt nghiệp Khoá đầu tiên nêu trên, và được bổ nhiệm về Tiểu đoàn 2 Việt Nam tuyển mộ thành lập tại Hà-Nội và Hải pḥng từ  ngày 1-6-1949, việc tổ chức đơn vị và huấn luyện binh sĩ hoàn tất vào khoảng tháng 10-1949 th́ toàn thể Tiểu đoàn được tập trung tất cả về Hà-Nội và khởi sự xuất phát đi hành quân tiêu diệt Việt Minh tại các vùng Bắc Ninh, Hoà B́nh, Đông Triều, Hưng yên, rồi tiến sang tỉnh Thái B́nh trụ quân tại đó ít lâu sau lại di chuyển về Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh, Vĩnh Yên).

2.-ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG TRƯỜNG SĨ QUAN VIỆTNAM.

Cố Đô Huế tại miền Trung Việt Nam là nơi được lựa chọn để xây dựng cơ sở Trường. Trách nhiệm thực hiện được giao cho Toà Đại Biểu chính phủ tại miền Trung do Ông Phan văn Giáo lănh đạo phối hợp với Bộ Chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn do Đại Úy Nguyễn Ngọc Lễ đang làm Chỉ huy trưởng thực hiện, bằng cách chỉnh trang lại một ngôi biệt thự rộng răi nằm bên tả ngạn sông Hương của Thị xă Huế, cách cầu Tràng Tiền chừng mấy trăm thước và gần bên Đập Đá trên đường Lê Lợi hướng đi Phú Vang. Người Huế quen gọi tên địa điểm này là Saint Benois.

Khu biệt thự biến thành Trường Sĩ Quan Việt Nam này khá rộng, bề ngang 400 mét và sâu khoảng 200 mét, nằm bên phiá trái đường Lê Lợi sát bên bờ sông Hương đối diện với chợ Đông Ba phía bên kia sông. Suốt mặt tiền sát ngay bên lề phố là một dẫy tường gạch cao 2 mét, ở khoảng giữa có một cổng rộng chừng 8 mét phía trên gắn bảng hiệu h́nh ṿng cung sơn mầu xanh lá cây trên kẻ chữ “ECOLE DES OFFICIERS VIETNAMIENS” mầu vàng. Hông bên trái Trường hướng Tây sát với các nhà dân, được ngăn bằng một hàng rào kẽm gai cao 2 mét đan ô vuông dầy 20 phân từ lề đường phố thẳng tuốt xuống tận bờ sông Hương, và có một cổng phụ cho xe hơi tiếp vận ra vào Trường. Hông bên phải hướng Đông có một dẫy tường đá dầy 40 phân cao hơn 1 mét để ngăn cách với khu biệt thự kế bên cũng rất rộng đang bỏ trống không người ở.

Sau này vào năm 1951, khi đào tạo 2 khoá đầu tiên là Khoá 1 (Bảo Đại) và Khoá 2 (Quang Trung) xong, th́ do quyết định của Quốc trưởng Bảo Đại Trường được di chuyển vào Đà Lạt bên cạnh hồ Saint Bennois và cải danh thành Trường Vơ Vị Liên Quân Đà Lạt (EMIAD=École Militaire Inter Armes DaLat). Đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lại quyết định cho xây cất cơ sở Trường mới thật lớn gần Hồ Than Thở và cải danh thành Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Sau khi Trường Sĩ Quan Việt Nam bên bờ sông Hương rời về Đà lạt, cơ sở cũ này được phá đi cùng với biệt thự bên cạnh để xây cất Trường Vơ bị Địa Phương (École Militaire Régionale) thuộc Quân Khu 2, làm nơi đào tạo các Chuẩn Úy (Aspirant) đáp ứng cho nhu cầu bành trường của Quân đội. Mấy năm sau, Trường Vơ bị Địa phương giải tán th́ cơ sở này được giao cho Quân Vụ Thị Trấn Huế quản trị dùng làm Câu Lạc Bộ và nhà văng lai cho Sĩ quan độc thân. Sau trận Việt Cộng tấn công chiếm Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, Tôi được Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu chỉ thị dẫn đoàn Tổng thanh tra Quân đội hỗn hợp Việt-Mỹ ra quan sát duyệt xét t́nh trạng Quân Y Viện nằm trong thành Mang Cá kế bên Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (lúc đó do Đại Tá Ngô Quang Trưởng làm Tư Lệnh) nên đă có dịp cư trú trong Câu lạc bộ Sĩ quan này bên cạnh bờ sông Hương.

Địa điểm tọa lạc của Trường rất an ninh v́ nằm ngay trong giữa thành phố Huế, và cũng rất thuận lợi v́ từ các nơi người ta có thể đến Trường bằng cả 3 loại phương tiện:

a) - ĐƯỜNG BỘ, dùng xe hơi theo Quốc lộ 1 xuyên Việt Nam, hoặc dùng xe hoả theo tuyến thiết lộ xuyên Việt chạy song song với Quốc lộ 1 nối liền Saigon và Hà Nội;

b) - ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG, dùng máy bay đáp xuống phi trường Phú Bài cách thành phố Huế khoảng vài chục cây số;

c) - ĐƯỜNG THỦY, dùng tầu thủy cặp bến cảng Đà Nẵng rồi dùng xe hơi chạy theo Quốc lộ 1 băng qua Đèo Hải Vân lên phía Bắc để tới Huế.

3.-HIỆNTRẠNGCÁCCƠSỞTRƯỜNGTẠIHUẾ.

Bước qua ngưỡng cổng chính của Trường vào trong, ngay bên phía trái là một sân tập họp thật rộng có dựng một cột cao treo cờ Quốc gia Việt Nam (nền vàng 3 sọc đỏ).Tiếp đến ở phần đất bên trái phía sau sân tập họp và cột cờ là một ngôi nhà ngói khoảng 400 mét vuông dùng làm trụ sở của Ban Giám Đốc Trường gồm văn pḥng Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng, văn pḥng Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện, các văn pḥng của các sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khóa sinh, và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur).

Phía bên phải sân tập họp và cột cờ, ngay từ sau cổng vào là Trạm kiểm soát gồm văn pḥng Sĩ quan trực nhật, Pḥng Y tế, và nơi ngủ của các lính thuộc Lực lượng Việt Binh Đoàn canh pḥng bảo vệ doanh trại.

            Kế đến là một dẫy nhà dài khoảng 50 mét rộng 8 mét dùng làm pḥng ăn tập thể cho khoá sinh, đồng thời cũng dùng làm Giảng Đường lớn khi phải tập trung toàn Khóa. Bên trong Nhà ăn, ngoài lối đi rộng hơn 1 mét ở chính giữa, suốt chiều dài của nhà có kê 2 dẫy bàn dài bề ngang 1 mét với những dẫy ghế dài không lưng tựa dọc 2 bên để làm bàn ăn, và bàn viết khi cả khoá tập trung nghe thuyết tŕnh hoặc làm bài thi.

Ngay sau lưng Trạm kiểm soát và Nhà ăn tập thể, có 3 dẫy nhà khác nhỏ và ngắn hơn dùng làm pḥng học và sinh hoạt riêng cho từng Trung đội Khoá sinh.Bên trong Nhà Học riêng của từng Trung đội Khoá sinh được trang trí y như trong một lớp dành cho các học tṛ Trung học vậy. Suốt bề dài căn nhà, kê 2 dẫy bàn học tṛ loại bàn liền ghế cho 2 người ngồi chung. Nơi đầu pḥng có một bảng đen lớn và một bàn viết và ghế dành riêng cho Huấn luyện viên đến sinh hoạt với khóa sinh.

           Tất cả các dẫy nhà đều lợp mái bằng gốc dạ rất dầy, tường chung quanh là những phên liếp bằng nứa đan. Mỗi nhà chỉ có 2 cửa ra vào tại 2 đầu nhà, dọc hai bên nhà là 2 dẫy cửa sổ rộng có cánh liếp nâng lên hạ xuống được để thông thoáng gió và cho ánh sáng lọt vào nhà những khi không bật đèn.

          Phía trong cùng của khu đất, dọc theo bờ sông Hương có 2 dẫy nhà dài nối tiếp nhau dùng làm Nhà Ngủ cho Khoá sinh. Nhà xây tường gạch mái lợp ngói, bề cao từ nền đến nóc khoảng 5 mét không có lớp trần che cản sức nóng từ nóc nhà phà xuống, nên mùa Hè rất nóng và ngược lại mùa Đông rất lạnh. Dẫy phía bên trái được ngăn đôi, một nửa dùng làm kho và pḥng ngủ của Thượng Sĩ Nhất Lục Sĩ Mẫn, Hạ sĩ quan phụ trách Thường Vụ (service général) của Trường, c̣n nửa kia dành làm pḥng ngủ chung cho Khoá sinh thuộc Trung đội 1 (người từ miền Nam ra). Dẫy bên phải, nửa bên trái dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 2 (người miền Trung) và nửa bên phải dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 3 là chúng tôi từ miền Bắc vào.

        Dọc theo chiều dài Nhà Ngủ, kê 2 dẫy giường cá nhân bằng gỗ có cọc khung gỗ để giăng mùng chống muỗi riêng cho mỗi giường. Giường được kê từng cặp sát bên nhau và một đầu sát tường. Giữa mỗi cặp giường để chừa một khoảng cách 1 mét để hai người ngồi đối diện không dụng đầu gối chân của nhau. Mỗi giường có một chiếu bằng cói, và một nệm nằm nhồi cỏ khô và bông g̣n có thể gập đôi lại được.

             Tại một góc tường bên gần cửa ra vào nơi đầu nhà, có một giá gỗ để gác súng của Trung đội Khoá sinh. Mỗi Khoá sinh được cấp một khầu súng trường Garant M-1 riêng, để ǵn giữ lau chùi và xử dụng trong việc tập luyện thao tác cơ bản, duyệt binh, tác chiến, và tập bắn. Loại súng này hơi dài và nặng đối với những người có h́nh vóc nhỏ thấp, nhưng bắn lại đầm không giật hậu mạnh như các loại Mousqueton và Mas-36 nên trong các kỳ thi bắn dễ đạt được điểm trúng bia rất cao.

            Từ đầu Nhà Ngủ của chúng tôi ra đến bờ sông Hương có một con đường đất rộng khoảng 5 mét.Cuối đường là một sàn gỗ dài rộng khoảng 25 mét vuông, cao hơn mặt nước sông chừng 30 phân, dùng làm Cầu Bến Tắm Giặt cho khoá sinh. Đặc biệt nước sông Hương trong vắt có thể nh́n suốt tận đáy, ban đêm nhiều thuyển nhỏ đốt đuốc soi sáng nơi đầu thuyền bơi dọc ven sông để người ngồi trên dùng cây chĩa đôi bằng sắt đâm xuống nước để bắt cá.Bên phải con đường xuống Cầu Bến Tắm là Nhà Bếp và phía bên trái con đường nơi sát bên hàng rào gần bờ sông là nhà vệ sinh công cộng đủ rộng cho cả trăm nguời giải quyết việc tiểu và đại tiện suốt ngày đêm.

4.-PHƯƠNGTHỨCTUYỂNLỰAKHOÁSINH.

          Tôi không biết phương thức tuyển lựa khoá sinh tại các miền Nam (Vệ binh Nam Việt) và Trung (Việt binh Đoàn) đươc quy định như thế nào, nhưng tại miền Bắc th́ là do đề nghị của các Đơn vị trưởng các Đại đội Vệ Binh Bắc Kỳ đề nghị tập trung về Bộ Tư lệnh Vệ binh Bắc kỳ tổng kết cứu xét tuyển chọn, rồi gửi danh sách đến Bộ Quốc Pḥng Chính phủ Quốc gia Việt Nam quyết định tối hậu.Điều kiện văn hoá tối thiểu khoá sinh phải có bằng Trung học Pháp hoặc có tŕnh độ học vấn các lớp Trung học và đang phục vụ trong quân đội với cấp bậc Hạ sĩ quan tốt nghiệp từ các Khóa đào tạo Peleton I, Peleton II của quân đội Pháp, nếu ai đang là Binh Nh́ th́ phải có bằng Tú Tài.

          Nhóm anh em chúng tôi từ ngoài Bắc vào cùng một chuyến máy bay gồm cả thẩy 14 người: 4 Trung sĩ, 2 Hạ sĩ Nhất, 6 Hạ sĩ, và 2 Binh Nh́, cũng trạc tuổi hoặc hơn Tôi vài ba tuổi. Chỉ có 5 người Tôi quen thân là Trung sĩ (TS) Nguyễn Khắc Thăng, TS Đàm Quang Yêu, TS Nguyễn Bá Liêm và TS Lê văn Nhật, hồi Tôi là Binh Nhất học Peleton-1 để ra Hạ sĩ th́ các anh ấy đă là Hạ sĩ vừa tốt nghiệp Peleton-1 được lưu giữ ở lại học tiếp Peleton-2 để ra Trung sĩ. C̣n những người kia biết được tên là nhờ xem tờ Sự Vụ Lệnh do anh Thăng làm trưởng toán cầm giữ, đó là Binh Nh́ (B2) Bùi Đ́nh Đạm, B2 Nguyễn văn Thản, Hạ sĩ (HS) Đàm Quang Quảng, HS Đàm Quang Đột, HS Phạm văn Khái, HS Đỗ văn Tâm, HS Phan Huy Chương, HS Phạm Ngần, và Nguyễn văn Thành mang cấp bậc Hạ sĩ Nhất như Tôi nhưng lớn hơn chúng tôi cả chục tuổi (sau này đang học mới được hơn tháng th́ anh Thành rời trường không học tiếp không biết v́ lư do ǵ).

5.-TẬPTỤCSINHHOẠTHÀNGNGÀYCỦAKHOÁSINH.

A.-GIỜGIẤCSINHHOẠT.

Kèn lệnh được dùng để báo hiệu giờ giấc sinh hoạt hàng ngày.

- 6 giờ sáng thức dậy, làm vệ sinh cá nhân, tập thể dục tập thể tại sân cờ.

- 7 giờ ăn sáng,

- 8 giờ Tập họp tại sân tập trung tŕnh diện Sĩ quan Huấn luyện viên Trực trong ngày, thực hiện Lễ Chào Cờ, sau đó xuất trại ra hiện trường thao luyện tác chiến, hoặc đi thăm viếng học thực tập tại các đơn vị chuyên môn, kỹ thuật …

- 11 giờ nghỉ trưa, ăn bữa trưa, chuẩn bị cho sinh hoạt buổi chiều.

- 13 ǵờ thức dậy.

- 14 giờ tập họp trong nhà ăn tập thể để tham dự các môn học lư thuyết căn bản về quân sử, tham mưu, quản trị, điều hành, chiến lược, chiến thuật, tổ chức đơn vị tác chiến… do Huấn luyện viên thuộc trường giảng dậy, hoặc nghe các giảng viên ngoài trường đến thuyết tŕnh các đề tài tổng quát thuộc các lănh vực liên quân chủng trong quân đội.

- 18 giờ nghỉ, dùng bữa tối.

- 21 giờ điểm danh tối và tắt đèn ngủ.

B.- NHỮNG QUY LUẬT BẮT BUỘC KHOÁ SINH PHẢI THEO.

- Ban ngày trong giờ sinh hoạt, pḥng ngủ của Khóa sinh phải thường xuyên sắp xếp thật ngăn nắp theo cùng một khuôn mẫu như nhau:

Mùng phải tháo ra khỏi khung gập lại xếp ngăn nắp cùng với gối và mền để phía đầu giường sát tường, rồi gập đôi nệm đè lên sao cho thật vuông vắn đẹp mắt.

Vali và túi đựng quần áo và tư trang riêng phải để gọn gàng dưới gầm giường phía sát tường.

- Quần áo cá nhân cần giặt ủi, phải tập trung đưa nhà thầu nhận giao hàng ngày hoặc tự mang ra các tiểm giặt ủi tư nhân ngay 2 bên đường phố cạnh Trường.

- Đến giờ ăn các Trung đội tập họp ngoài sân rồi lần lượt theo nhau vào kiếm chỗ ngồi ăn 4 người một mâm. Cơm và thức ăn đă được nhân viên nhà bếp (do nhà thầu tư nhân đảm trách) bầy sẵn từng mâm có lồng bàn đậy cản ruồi trên các bàn. Thức ăn hàng bữa gồm 3 món (xào, mặn, và canh) nấu theo khẩu vị người Trung và thường là hơi ít không đủ no. Bữa điểm tâm nào cũng là xôi đậu (ăn xường xượng như có lẫn gạo tẻ) chấm muối mè có bỏ thêm chút đường cát trắng. Đa số anh em thường phải ăn quà thêm, bún ḅ, cháo huyết, bánh ḿ cặp thịt, mua của các gia đ́nh tư nhân ở sát hàng rào bên hông Trường, hoặc bánh xèo “Mụ Béo” ngay bên kia đường trước cổng Trường bán cho ăn chịu ghi sổ cuối tháng lănh lương mới trả.

6- NHỮNG KỶ NIỆM CHÍNH KHÓ QUÊN VỀ KHOÁ 1.

A.- NGÀY NHẬP TRƯỜNG.

Chúng tôi được xe của Đơn vị đưa đến tŕnh diện tập trung tại Trung tâm huấn luyện Hạ sĩ quan Vệ binh Bắc Kỳ tại Trại Ngọc Hà Hà-Nội trước 8 giờ sáng ngày Thứ Bẩy khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10-1948 (Tôi không nhớ ngày chính xác). Đợi đến khoảng 9 giờ th́ được một Thượng sĩ Pháp đến mời lên xe để di chuyển qua cầu Long Biên sang phi trường Gia Lâm làm thủ tục ghi danh cân hành lư đi máy bay của hăng Hàng Không Dân Sự Pháp SITA. Máy bay đưa chúng tôi đi là loại hai động cơ, cửa cho hành khách lên xuống được mở ra ở phía đầu phi cơ ngay phía bên dưới pḥng lái của phi hành đoàn. Đi chung phi cơ với chúng tôi là khoảng 20 hành khách dân sự.

Làm xong thủ tục chúng tôi được dẫn vào pḥng VIP đợi giờ lên phi cơ, th́ Đại Tá Tư Lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ và Đại úy Fauvel Liên Đoàn Trưởng Vệ Binh Biên pḥng miền Đông Bắc Kỳ bước vào thăm hỏi bắt tay chúng tôi. Họ chúc chúng tôi đi đường b́nh an giữ ǵn sức khoẻ cho tốt, và nhất là chăm chỉ học hành đạt kết quả tốt để sau này về chỉ huy các đơn vịVệ Binh.

Sau khoảng hơn một giờ bay cao tít trên các tầng mây, máy bay bắt đầu hạ cao độ lượn ṿng đáp xuống phi trường Phú Bài gần Huế. Đây là một phi trường dùng chung cho cả máy bay quân sự và dân sự, nằm dài trên dải đất giữa Biển Đông và dẫy Trường Sơn trùng điệp cao vút rậm rạp cây rừng. Trung úy Trần Nguyên An thuộc Bộ chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn (do Đại úy Nguyễn Ngọc Lễ chỉ huy, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà ông Lễ được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cất nhắc thăng cho lên đến cấp Trung Tướng, về sau các đơn vị Việt Binh Đoàn được cải biến thành các Tiều đoàn Bộ binh Quân đội Quốc gia Việt Nam) đợi đón chúng tôi và hướng dẫn về Trường. Trung Úy An là Tham Mưu Trưởng của Lực Lượng Việt Binh Đoàn.

Xe chở chúng tôi rời phi trường chạy trên Quốc lộ 1 song hành với đường xe lửa xuyên Việt, được khoảng mấy chục cây số th́ tới vùng An Cựu đồi Tam Thai (nơi có Trường huấn luyện Hạ sĩ quan cho Lực lượng Việt Binh Đoàn, có ga xe lửa An Cựu, có doanh trại của đơn vị Thiết giáp Pháp), qua chợ An Cựu, qua thêm một quăng đồng trống th́ bắt đầu vào Khu Pháp (quartier francais) bên tả ngạn sông Hương của Thị xă Huế. Xe đến đầu cầu Tràng Tiền rẽ phải theo con đường Lê Lợi đi vềphía Đập Đá trên đường đi Phú Vang chớ không qua cầu, được chừng mấy trăm thước th́ đến Trường.

Chúng tôi đến Trường đúng vào trưa ngày Thứ Bẩy nghỉ, tất cả Khoá sinh nhập Trường trước chúng tôi đều đi dạo phố hoặc về thăm gia đ́nh nên Trường vắng tanh. Tuy nhiên nhà thầu đă được thông báo trước nên đă chuẩn bị sẵn sàng cơm bữa cho chúng tôi dùng không phải ra phố.

Vừa ổn định chỗ nằm xong, anh Tôn Thất Tương (khoá sinh người miền Trung) đang thi hành trách vụ Sĩ quan Trực Nhật ghé vào thăm làm quen với chúng tôi. Anh Tương tự giới thiệu ḿnh là người thuộc Hoàng Tộc, nên có nhà ở ngay trong Thành Nội có 3 cơ sở nổi tiếng của Triều đ́nh Huế là Điện Cần Chánh, Điện Kiến Chung và Điện Thái Hoà. Anh rủ chúng tôi muốn đi xem, sáng sớm hôm sau là Chủ Nhật anh ấy sẽ đến đón và dẫn đi coi. Các anh Liêm, Yêu, Nhật, Thản, Đột, Tâm và Tôi nhận lời nhờ anh Tương hướng dẫn.

Sáng hôm sau, anh Tương đến dẫn chúng tôi ra khỏi Trường, qua cầu Tràng Tiền rẽ trái đi theo đường Trần Hưng Đạo đến Cửa Thượng Tứ để vào Thành Nội. Trước nhất, anh Tương dẫn chúng tôi vào giới thiệu với bà xă, sau đó đi thăm Điện Cần Chánh (nơi lưu giữ chiếc ngai vàng để Vua ngồi, áo Cẩm Bào, Vương miện, và nhiều đồ quư khác bằng ngọc thạch hoặc vàng). Tiếp đó là Điện Kiến Chung gần cửa Hoà B́nh (nơi Vua ngồi kư các Chiếu Chỉ, Sắc lệnh), rồi đến Điện Thái Hoà (nơi họp Đại Triều), sân trưng bầy Cửu Đỉnh (chín chiếc lư hương thật to cao hơn đầu người đúc bằng đồng), các Khẩu Thần Công, Kỳ Đài, Ngọ Môn Quan (chỉ mở để đón tiếp Sứ Thần các nước tới yết kiến Vua), Hồ Tĩnh Tâm gần thành Măng Cá. Thăm Thành Nội xong, chúng tôi trở ra phía Cửa Thượng Tứ rẽ phải đi dọc theo con đường Nguyễn Hoàng, đến khoảng trước Ngọ Môn Quan băng qua đường để xem Bến Trương Bạc ngay tại bờ sông Hương. Tít xa nơi tận cùng đường Nguyễn Hoàng là cầu Bạch Hổ bằng sắt bắc ngang sông Hương cho xe lửa chạy qua, và Tháp Chùa Thiên Mụ phía bên này bờ sông.

Quay trở lại đầu cầu Tràng Tiền đi hết con đường Trần Hưng Đạo là Chợ Đông Ba và Cầu Gia Hội (bên kia cầu có một nhà hàng cơm Tầu rất được khách sành ăn hâm mộ). Phía sau và bên hông Chợ Đông Ba là bờ sông dầy đặc thuyền làm nhà ở, nhiều chiếctrong số này cho thuê để khách làng chơi ngày đêm xuống ăn nhậu mua vui nghe các ca nhạc sĩ cổ nhạc Ḥ Huế... Nh́n qua bên kia bờ sông, thấy 2 dẫy Nhà Ngủ của Khoá sinh chúng tôi và Nhà Bếp nằm dài tiếp nối nhau suốt bề ngang khu đất Trường và chiếc Cầu Bến Tắm. Nh́n xuôi sang phía trái thêm khoảng nữa là Đập Đá, và ngoài xa xa thấy Cồn Hến nổi lên bập bềnh cản ḍng chẩy của sông Hương.

B.- NGÀY KHAI GIẢNG KHOÁ HỌC.

      Có lẽ chúng tôi từ ngoài Bắc vào là nhóm khóa sinh tŕnh diện Trường trễ nhất, v́ chúng tôi tới Trường vào trưa Thứ Bẩy cuối tuần th́ ngay sáng Thứ Hai đầu tuần tất cả mọi người tập họp ngồi trong Nhà ăn để làm thủ tục Khai giảng Khóa học. Lúc đó được coi là giây phút đầu tiên anh em toàn khóa thấy mặt nhau đầy đủ.

Anh em Trung đội 3 chúng tôi có sĩ số ít nhất (chỉ có 14 người so với 2 Trung đội kia là 21 hoặc 22), số tuổi trung b́nh cũng trẻ nhất, và cấp bậc cũng nhỏ hơn các anh trong các Trung đội 1 và 2 toàn là Trung sĩ Nhất, Thượng sĩ và Thượng sĩ Nhất thâm niên. Có điều đặc biệt đáng chú ư là quân phục của anh em không đồng nhất, v́ được tập trung từ nhiều loại đơn vị có nguồn gốc khác nhau trên toàn quốc. Trước khi buổi lễ chính thức bắt đầu, Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện giới thiệu các Sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khóa sinh, và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur) của từng Trung đội.

- Trung Úy Petdedieu và HSQ moniteur (không nhớ tên) phụ trách Trung đội 1 gồm toàn người từmiền Nam ra.

- Trung Úy Scuarnec và Adjudant Chef DO phụtrách Trung đội 2 gồm anh em thuộc miền Trung.

- Và người phụ trách Trung đội 3 chúng tôi là Trung Úy Besson và Sergent Kervenic (cả Trung Úy Besson và Trung sĩ Kervenic đều c̣n rất trẻ, tính t́nh rất hiền lành và tốt bạn, không như Thượng sĩ Nhất DO lúc nào cũng tỏ ra quan trọng và nghiêm khắc).

Buổi lễ khai mạc khóa rất đơn giản, không có khách bên ngoài tham dự, chỉ có một ḿnh Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng vào ra mắt chào mừng chúng tôi và nhắn nhủ mấy điểm chính yếu sau:

 (1 ) - V́ phần lớn đă là Hạ Sĩ Quan thâm niên có nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động quân đội, nên một phần Chương tŕnh của Khóa học được cắt bỏ bớt, do đó thời gian Khóa học sẽ ngắn hơn dự liệu nên chỉ c̣n khoảng 8 tháng.

(2) - Kể từ ngày nhập Trường, ai chưa là Hạ sĩ Quan sẽ được thăng cấp Trung sĩ và lănh lương hàng tháng theo cấp bậc này, những người khác có cấp bậccao hơn tiếp tục lănh lương theo cấp bậc hiện tại của ḿnh.

 (3) - Mọi người phải cố gắng học hành để đạt kết quả tốt, nhằm cung ứng nhu cầu Sĩ quan cho các đơn vị thuộc Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ bắt đầu thành lập vào năm 1949. Các Sĩ quan Huấn luyện viên toàn là những người tốt nghiệp từ Trường Vơ Bị Saint Cyr của Lục quân Pháp, sẽ giúp đỡ hướng dẫn các bạn học hành được dễ dàng, nếu có điều ǵ cảm thấy chưa thông hiểu rơ ràng cặn kẽ th́ đừng ngại ngùng tham vấn quư vị ấy giúp đỡ bổ túc cho.

 (4) - Nhà trường sẽ cung cấp ngay cho mọi người có đồng phục mới để cho được đồng nhất, và cũng kể từ hôm nay không ai mang cấp bậc cũ của ḿnh nữa. Mọi người sẽ mang trên cầu vai áo huy hiệu Sinh Viên Sĩ Quan (kư hiệu Alpha bằng đồng mầu vàng gắn trên coulissant dạ (nỉ) mầu đen), đội calot nỉ đen trên đỉnh mầu vàng và 2 bên cạnh viền chỉ kim tuyến. Như vậy mọi người sẽ nhận biết rơ ràng các bạn đanglà Sinh viên của Trường đào tạo Sĩ quan Việt Nam,do đó các bạn phải giữ ǵn phong thái tư cách cho thật đàng hoàng, đừng làm ǵ tổn hại đến thanh danh cá nhân và Nhà Trường.

C.- ĐỒNG PHỤC KHOÁ SINH.

Đồng phục làm việc thường của chúng tôi là đồ short vải kaki vàng. Quần ống ngắn tới đầu gối, áo sơmi ngắn tay cổ bẻ, giầy da thấp cồ mầu nâu xậm, và tất (vớ) len dài tới dưới đầu gối cùng mầu với quần áo. Đồng phục dạo phố cũng bằng kaki, quần dài, áo sơmi dài tay với 2 túi ngực có nắp, cổ thắt cà vạt nỉ mỏng mầu ô-liu. Vào mùa Đông dùng quần áo dạmầu ô-liu xậm (áo blouson). Mũ calô nỉ đen đỉnh vàng 2 bên viền kim tuyến, được dùng chung cho tất cả các loại đồng phục. Quần áo lănh về có người mặc không vừa phải thuê sửa lại. Những bạn dư giả tiền thích mặc quần áo đẹp, th́ đến các tiệm may ngoài phố đặt cắt may bằng những hàng vải kaki đẹp đắt tiền để trưng diện lúc ra đường cho được vừa ư.

Có điều làm chúng tôi rất hănh diện là từ ngày chúng tôi mặc đồng phục mang cầu vai Alpha ra đường, mọi Hạ sĩ quan và Binh sĩ gặp chúng tôi, họ đều chào kính chúng tôi đúng theo cung cách chào kính Sĩ quan vậy.

D.- SĨ SỐ KHOÁ SINH TOÀN KHOÁ.

              Một tuần lễ sau ngày khai giảng khóa học, có thêm 6 khoá sinh đến tŕnh diện. Ban Giám đốc bổ sung vào Trung đội 3 chúng tôi. Các bạn ấy là Nguyễn Hữu Có, Cao Hoàng Phiên (người miền Nam), Tôn Thất Đính, Lê Huy Luyện (người miền Trung), và Trần Thượng Phương, Trần văn Khoái (người miền Bắc). Anh Phương nguyên là Thượng sĩ Lính Khố Xanh (Garde Indigène) thời Pháp thuộc, tuổi đời cao hơn chúng tôi khoảng hai chục, là thân phụ của Trần Đ́nh Thọ sau này cũng theo học Trường Vơ bị Đà Lạt và trước 30-4-1975 Trần Đ́nh Thọ đă được thăng lên đến Chuẩn Tướng làm Trưởng Pḥng 3 Bộ Tổng Tham Mưu.

Thế là tổng số Khoá sinh tăng lên 64 người. Nhưng ngày măn khoá chỉ có 63 người, v́ anh Thành già thuộc Trung đội chúng tôi bỏ học nửa chừng.

E.- CHƯƠNG TR̀NH VÀ THỜI BIỂU HỌC.

              Chương tŕnh học của chúng tôi gồm toàn các môn thuộc lănh vực quân sự, không có chút nào thuộc lănh vực bổ túc văn hoá tổng quát.Các môn học về tổ chức quân đội, lịch sử quân đội, lănh đạo chỉ huy, kỹ thuật tác chiến, lệnh hành quân, chức năng tổng quát quân vụ, xử dụng Liên binh, thể dục quân sự (EPM=Éducation Phisique Militaire), quân sử các trận Đại chiến Thế giới... đều do các Huấn luyện viên cơ hữu của Trường đảm trách giảng dạy. C̣n các môn chuyên nghiệp khác như trách vụ các Pḥng tham mưu, Hành chánh Tài chánh,Quân Nhu, Quân Cụ, Truyền Tin, Pháo binh, Công binh, Thông vận binh, Thiết giáp, Quân cảnh, Quân bưu, Hải quân, Không quân... đều do các Sĩ quan chỉ huy thuộc các ngành liên hệ được Ban Giám đốc trường mời đến thuyết giảng và khảo hạch.

         Thời biểu học hàng ngày thường là buổi sáng học ngoài đồng, buổi chiều trong chu vi Nhà Trường. Băi tập thường xuyên hàng ngày là sân vận động Huế và các vùng phụ cận như: Xóm Mới, khu quán Cơm Âm Phủ, Chợ Cống. Thời gian học thực hành tác chiến trong thành phố th́ vào Thành Nội, tại vùng quanh sân bay, Hồ Tĩnh Tâm và khu thành Mang Cá. Khi học các chương tŕnh hành quân băng đồng, lục soát làng xóm, bảo vệ xa lộ và thiết lộ, th́ xuống vùng quanh chân núi Ngự B́nh từ Ga An Cựu xuống tới phi trường Phú Bài. Băi tập luyện bắn và thi bắn các loại súng nằm sát ngay bên Trung tâm huấn luyện Hạ sĩ quan Việt Binh Đoàn tại chân núi Ngự B́nh.

MỘT KỶ NIỆM KHÓ QUÊN CỦA RIÊNG TÔI.

      Ngày 21-1-1949 là Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu, Trường đóng cửa 1 tuần lễ, các bạn người miền Trung về nhà xum họp ăn Tết với gia đ́nh, các bạn người Nam và chúng tôi ở lại Trường ăn Tết với nhau. Trong thời gian rảnh rỗi này, mỗi người tùy theo túí tiền và sở thích, đi xem Chiếu bóng, Hát Bộ miền Trung, thưởng thức các món ăn tại các nhà hàng cơm Tây, cơm Tầu, cơm miền Trung, thuê thuyền thả trôi giữa ḍng Hương giang ăn nhậu nghe ca hát, hoặc đi các Chùa, Nhà Thờ cầu nguyện và ngắm người ta ăn diện quần áo mới, chứ không dạo phố v́ các tiệm buôn bán và Chợ đều đóng cửa ăn Tết.

       Nhân dịp đầu Xuân, Tôi đă cảm hứng mấy vần thơ kỷ niệm sau đây:

      XUÂN NHẬP CUỘCMưa Xuân bàng bạc phủ ḍng Hương,

Gió thoảng êm êm vuốt mái trường.
 Vạn xác pháo tan hoà tiếng chúc,
 Sáu ba (63) hiền họp kết t́nh thương.
 Bên nhau thề quyết nung rèn chí,
 Tốt nghiệp chung lo giữ mối giềng.
 Học hiệu Liên quân mừng đón Tết,
 Tương lai hứa hẹn rạng như gương./.

F.- THỬ LỬA BỔ TÚC CHO CÁC BÀI THI MĂN KHOÁ.

          Vào giai đoạn chót của Khoá học trước khi măn khoá, chúng tôi được đem đi “Thử Lửa” (Baptême du feu) bằng 2 đợt. Vào cuối tháng 4-1949, cả khoá tập thiết kế và thực hiện cuộc hành quân cấp Đại đội đánh chiếm “làng cùi” (không người ở) trong vùng núi Bạch Mă, có Thiết vận xa trang bị Đại Liên 50 Súng Cối 81 ly tháp tùng, Pháo binh 105 tại Phi trường Phú Bài và phi cơ khu trục từ Đà Nẵng ra bắn đạn thật yểm trợ tại chiến trường theo yêu cầu.

Qua đầu tháng 5-1949, cả khóa lại được đưa đi quan sát mặt trận do Bộ Chỉ Huy Khu Quân Sự Pháp tại Huế khai triển cuộc hành quân đánh chiếm Chiến khu Lương Miêu của Việt Cộng. Chúng tôi được chia ra thành nhiều toán, ngồi trên các xe lội nước (amphibie) xuất phát từ cầu Bạch Hổ lội ngược ḍng sông Hương lên phía thượng nguồn đến tận khu vực xa hơn Lăng Gia Long. Đến khu vực hành quân, chúng tôi rời xe lội nước lên bờ thăm Bộ chỉ huy Hành quân đóng trong các lều vải trên sườn đồi kếcận bờ sông để nghe thuyết tŕnh về t́nh h́nh diễn tiến của mặt trận. Sau đó băng rừng đi thăm các đơn vị đang giáp chiến, đến chiều tối mới lên tầu chuyển vận trên sông trở về Trường.

G.- LỄ MĂN KHOÁ.

        Để chuẩn bị cho lễ măn khoá, Ban Giám đốc trường đưa nhà thầu may quân phục vào đo cắt may cho chúng tôi mỗi người một bộ Đại Lễ bằng kaki (quần dài, áo bốn túi), một cặp cầu vai nỉ đen trên có gắn kư hiệu Alpha vàng phía đầu vai với cờ Việt Nam ở chính giữa và nút mạ vàng khắc con rồng nổi ở đầu cầu vai nơi sát cổ áo. Một nhà mát mái lợp dạ, ba bềvách lửng bằng cót cao hơn 1 mét, được dựng lên sát tường chiếm hết phần ba sân tập họp bên cột cờ, để làm khán đài kê ghế dành cho quan khách đến dự lễ.

       Một sự kiện đặc biệt không ai ngờ là Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường đă nhận được lệnh dẫn một phái đoàn Khoá sinh đại diện Khóa đáp máy bay đi Đà-Lạt tŕnh diện Quốc trưởng Bảo Đại. Tôi không nhớ rơ số người đi là bao nhiêu và cũng không biết tên những anh em trong các Trung đội 1 (người Nam)và Trung đội 2 (người Trung), nhưng chắc chắn toàn là những người xếp hạng đỗ cao, riêng Trung đội 3 chúng tôi th́ có 2 người là các anh Nguyễn Hữu Có và Nguyễn Khắc Thăng.Giữa tháng 5-1949, Lễ Măn Khoá được tổ chức đưới sự chủ tọa của ông Phan Văn Giáo Thủ Hiến Trung phần V́ệt Nam đại diện Quốc Trưởng Bảo Đại, với khoảng 100 quan khách Việt Pháp tham dự (trong đó có một số thân nhân của các bạn người miền Trung). Chương tŕnh diễn tiến như sau:

          Nghi thức quân cách đón chào Chủ toạ,Lễ thượng Quốc Kỳ Việt Nam (không có cờ Pháp), Khóa sinh đồng ca bản Quốc Ca Việt Nam (Tiếng gọi Công dân),Nhạc Tưởng niệm Tử Sĩ (ban quân nhạc Việt Binh Đoàn hoà tấu),Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường đọc Diễn văn phúc tŕnh tổng lược kết quả diễn tiến chưong tŕnh huấn luyện và trỉnh diện Khóa sinh,

Thủ Khoa là anh Nguyễn Hữu Có bước ra đứng  trước toàn khóa đang xếp 2 hàng ngang trước khán đài, hô to: “A genoux les hommes!” (Quỳ xuống các người!). Mọi người cùng quỳ đầu gối phải xuống đất, chắp 2 tay lên đầu gối trái chờ lệnh, và anh Có cũng quỳ xuống tại chỗ.Trung Tá Chaix đến gần ghế ngồi của Chủ tọa (nói ǵ và Chủ tọa nói ǵ, ở xa không nghe được) sau đó quay ra nói lớn đại ư: “Hoàng Thượng chiếu chỉ đặt tên cho khoá là KHÓA BẢO ĐẠI”, rồi hướng dẫn Chủ tọa ra sân gắn cầu vai Alpha lên 2 bên vai áo cho Thủ Khoa Có. Trong khi đó th́ 2 hàng Khoá sinh quay mặt đối diện nhau và người nọ gắn cầu vai Alpha lên vai áo cho người kia.Thủ tục gắn cầu vai Alpha xong th́ Chủ tọa trở về đứng trước ghế Danh dự của ḿnh, Thủ Khoa Có đọc lời “tuyên thệ”, đại ư: “Chúng tôi xin tuyên thệ, Trung thành với Tổ quốc Việt Nam, Quyết hy sinh để bảo vệ nền Độc lập Thống nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam trường tồn cường thịnh, Luôn luôn nêu gương bảo vệ Danh dự của một cấp chỉ huy”. Toàn thể Khoá sinh cùng đưa thẳng tay phải ra trước mặt và đồng thanh đáp lời: “Je le jure!” (Tôi xin thề!). Chủ tọa lên tiếng chấp nhận lời thề và đưa tay ra dấu cho mọi người đứng lên. Thủ Khoa Có đứng lên hô lớn:“Debout les Officiers!” (Đứng lên các Sĩ quan!). Mọi người đứng thẳng lên giữa những tràng pháo tay mừng vang dạy ṛn ră của toàn thể Quan Khách.

Tiếp ngay lúc đó, Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường lại mời Chủ tọa ra trao cho Thủ Khoa Có cây kiếm và chiếc cung cùng với bao mang 4 mũi tên, rồi hướng dẫn Chủ tọa trở về ghế ngồi.Thủ Khoa Có đứng nghiêm rút kiếm ra khỏi vỏ làm động tác chào kính xong tra kiếm trở lại vỏ, rồi cầm cây cung lần lượt quay sang bốn hướng bắn 4 mũi tên đi, để biểu tượng cho ư chí “tang bồng hồthỉ” của người Chiến sĩ quyết tâm đi khắp bốn phương trời để thi hành nhiệm vụ của ḿnh.

Buổi lễ Măn Khoá được kết thúc bằng 2 nhạc khúc “Chiến sĩ anh hùng” và “Bạch Đằng Giang” do anh em Trung đội 3 chúng tôi hợp ca 3 giọng với sự đệm đàn của anh Tôn Thất Đính, và 3 hoạt cảnh diễn tả câu truyện lịch sử “Trận Đống Đa” do quân Quang Trung chiến thắng quân Tầu vào dịp Tết Nguyên Đán tại Thành Thăng Long, do anh em các Trung đội 1 và 2 phối hợp thực hiện.

MĂN KHÓA NHƯNG NIỀM VUI CHƯA TRỌN VẸN.

          Lễ măn khoá có thể coi là trang đầu tiên của cuốn nhật kư đời binh nghiệp SĨ QUAN QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM được mở ra cho toàn thể Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 (Bảo Đại) Trường Sĩ quan Việt Nam chúng tôi.

         Nhưng có một điều thắc mắc lớn khiến mọi người phải suy nghĩ mừng lo lẫn lộn ngay sau khi dự Lễ Măn Khoá là, ai được chấm đậu lên Thiếu Úy, ai không? ngoại trừ anh Nguyễn Hữu Có Thủ Khoa, v́ Nhà Trường không tuyên bố kết quả xếp hạng ra Trường. Mọi người rời Trường với kư hiệu Alpha không phải là cấp bậc được quy định trong quân đội lúc bấy giờ, tiếp tục lănh lương theo cấp bậc cũ của ḿnh, và Sự vụ lệnh rời Trường trở về đơn vị cũ ghi là Élève Officier X... Phải đợi đến 2 tuần lễ sau hết phép măn khóa tŕnh diện đơn vị mới có thể biết ḿnh được thăng cấp Thiếu Úy hay không.

Cá nhân Tôi, sáng 1-6-1949 đến tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ tại Hà Nội, th́ nhận được Sự vụ lệnh đến tŕnh diện Tiểu đoàn 2 Việt Nam mới thành lập doanh trại đóng tại Thành Lính Khố Xanh (Garde Indigène) của Pháp cũ trên đường Đồng Khánh (sau này Nhà nước Việt Cộng đổi là đường Hàng Bài) đối diện với rạp chiếu bóng Majestic. Đến nơi Tôi gặp các anh Nguyễn Khắc Thăng, Bùi Đ́nh Đạm, Lê Văn Nhật, Đàm Quang Yêu, và Trần Thượng Phương cũng được bổ nhiệm về Tiểu đoàn này.

Thiếu Tá Vũ Văn Thụ Tiểu Đoàn Trưởng (về sau có thời gian được thăng đến cấp Đại Tá Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Miền Bắc của Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội, État Major Nord Vietnam)tiếp chúng tôi trong văn pḥng, với sự hiện diện của các Đại đội trưởng: Đại Uư Phạm Văn Cảm (ĐĐ1), Đại Úy Nguyễn Văn Yến (ĐĐ3), và Trung Uư Phạm Ngọc Thuyên (ĐĐ Chỉ Huy). Các Vị này đều lớn tuổi cỡ trên 40, nguyên gốc thuộc các đơn vị trong Binh đoàn thuộc địa của Pháp tại Đông Dương từ trước 1945, khi chuyển sang phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam được đương nhiên thăng lên một cấp bậc cao hơn cũ.

Thiếu Tá Thụ cho người trịnh trọng đọc Sắc lệnh do Quốc Trưởng Bảo Đại kư, thăng cấp Thiếu Úy cho chúng tôi kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1949, rồi ông đích thân gắn cấp hiệu mới (một vạch vàng như của quân đội Pháp) lên cầu vai áo cho chúng tôi. Sau tiệc rượu champagne khao lon rất đơn giản nhưng ấm cúng thích thú được tố chức ngay trong văn pḥng Tiểu đoàn trưởng, mỗi người chúng tôi nhận một Sự vụlệnh đi đáo nhậm đơn vị mới của ḿnh. Thiếu Úy Bùi Đ́nh Đạm về ĐĐ1, Thiếu Úy Đàm Quang Yêu về ĐĐ3, các Thiếu Úy Trần Thượng Phương và Lê Văn Nhật về ĐĐ Chỉ huy, cả 3 Đại đội này đều đồn trú ngay trong doanh trại Tiểu đoàn. C̣n Thiếu Úy Nguyễn Khắc Thăng và Tôi (Thiếu Úy Nguyễn-Huy Hùng) về ĐĐ2 đang đồn trú tại Trại Lạch Tray (trại lính Khố Xanh của Pháp cũ) trong thành phố cảng Hải Pḥng, do Đại Úy Nguyễn Văn Vĩnh (cũng thuộc gốc Binh đoàn thuộc địa Pháp trước 1945) chỉ huy. Do đó, ngày hôm sau, anh Thăng và Tôi phải đáp xe hỏa rời Hà Nội xuống Hải Pḥng đáo nhậm đơn vị.

H.- MỘT PHẦN THƯỞNG BẤT NGỜ, CHÍNH PHỦ QUỐC GIA DÀNH CHO 20 NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU DANH SÁCH TRÚNG TUYỂN SĨ QUAN KHOÁ 1 (BẢO ĐẠI).

Đến đầu tháng 10-1949, anh Nguyễn Khắc Thăng người đậu Thứ Hai của toàn khóa đang ở cùng Đại đội với Tôi tại Hải Pḥng được lệnh tŕnh diện BộQuốc Pḥng tại Saigon để làm thủ tục xuất ngoại du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Thế là Đại đội chỉ c̣n 2 Sĩ quan, Đại Úy Vĩnh Đại Đội Trưởng và Tôi Trung đội Trưởng Súng Nặng kiêm Đại Đội Phó.

     Sau khi tới Pháp, anh Thăng biên thơ về thông báo cho Tôi biết là anh đang theo học Khoá Bổ túc Thực hành Bộ Binh (École d’Application de l’Infantery)cùng với các Thiếu Úy Pháp tốt nghiệp Trường Vơ bịSaint Cyr và bạn cùng tốt nghiệp Khoá 1 của chúng tôi là: các Thiếu Úy Nguyễn Văn Thiệu (sau này là Tổng Thống nền Đệ Nhị Cộng ḥa tại miền Nam Việt Nam), Đặng Văn Quang, Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Chuân, Trần Văn Hổ. Cũng trong thời gian đó th́ anh Tôn Thất Xứng học tại trường Thiết Giáp Binh Saumur (về sau các anh Thiệu, Quang, Trung, Chuân và Đính đă được thăng lên cấp Tướng), và người sau cùng là anh Nguyễn Quang Sanh học Trường Hiến Binh tại Melon. Vào năm 1953, anh Nguyễn Khắc Thăng bị thương cụt một chân tại miền Bắc được du học Pháp lần thứ 2, và sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ Huy Tham Mưu (École Supérieure de Guerre) tại Paris về anh Thăng được bổ nhiệm làm Huấn luyện viên tại Trường Vơ bị Liên quân Đà Lạt, ít lâu sau qua đời v́ tai nạn xe hơi.Riêng phần cá nhân Tôi, sau mấy tháng tổ chức huấn luyện đơn vị hoàn tất, Đại đội 2 của chúng tôi nhận được lệnh rời Hải Pḥng di chuyển về Hà Nội vào ngày 18-10-1949 để nhập cùng Tiểu đoàn khởi sựđi hành quân liên tiếp tại các vùng Phù Lưu Đ́nh Bảng tỉnh Bắc Ninh, Hoà B́nh, Đông Triều Phả Lại, Kẻ Sặt Hải Dương, Hưng Yên, Thái B́nh, Vân Đ́nh Sơn Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Yên... Tôi nhớ kỹ ngày 18-10-1949 v́ đó là ngày tổ chức đám cưới của vợ chồng Tôi, nhưng v́ Tôi phải lănh nhiệm vụ chỉ huy Đại đội di chuyển rời Hải Pḥng bằng xe hỏa lên Hà Nội nên Đại đội trưởng không cho Tôi đi phép.

Một năm sau vào đầu tháng 10-1950, khi Tiểu đoàn đang đóng quân tại vùng Bắc Ninh-Vĩnh Yên, th́ Thiếu Úy Bùi Đ́nh Đạm và Tôi được Bộ Quốc Pḥng tại Saigon gọi tŕnh diện làm thủ tục du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Cùng xuất ngoạikỳ này với chúng tôi có mấy bạn cùng Khoá 1 là Thiếu Úy Trần Ngọc Thức (miền Nam, sau này có thời gian làm Chỉ huy trưởng Binh chủng Công Binh), Thiếu Úy Lê văn Sài (cũng người miền Nam sau này làm việc bên Không quân), Thiếu Úy Nguyễn Khương (người Trung, sau này có thời gian làm Chỉ Huy Trưởng Viễn Thông của Binh chủng Truyền Tin). Anh Thức học Sĩ quan Công Binh tại Angier, anh Sài học Hành chánh Tài chánh tại Mont Pellier, anh Đạm (vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà đă được chỉ định làm Tư Lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh tại Mỹ Tho, và sau cuộc đảo chính lật đổ Tổng Thống Diệm ngày 1-11-1963 đă được Hội đồng Tướng lănh đảo chính thăng lên cấp Tướng) học Sĩ quan Pháo Binh tại Idar thuộc Pháp ởbên Đức. Nhưng v́ vùng Idar lạnh quá chịu không nổi nên anh Đạm đă xin chuyển trường về học khoá Sĩ quan Hành Chánh Quân Nhu tại Mont Pellier. C̣n anh Khương và Tôi theo học Sĩ quan Truyền Tin ở Trường Truyền Tin (École d’Application des Transmissions) tại Montargis cách Thủ đô ánh sáng Paris khoảng hơn 1 giờ xe hỏa về hướng Nam. Chúng tôi học chung với các Thiếu Úy Pháp vừa tốt nghiệp Khoá Général Frère tại Trường Vơ bị Saint Cyr ra. Theo quy chế quân đội Pháp, các Thiếu Úy vừa tốt nghiệp Trường Vơ bị Saint Cyr ra đều phải theo học tiếp một khoá bổ túc chuyên nghiệp các Ngành Bộ binh, Truyền Tin, Công binh, Pháo binh, Thiết giáp, Hành Chánh, Quân nhu, Quân Cụ, Quân vận, Nhẩy Dù,... (École d’Application de l’Infantery, d’Application des Transmissions, d’Application du Génie,...) trước khi được chính thức bổ nhiệm vào các đơn vị trong quân đội để phục vụ.

      Đầu tháng 6-1951, đúng theo quy chế dành cho Sĩ quan Hiện dịch tốt nghiệp trường Sĩ quan Việt Nam, Tôi và toàn khóa được Quốc Trưởng Bảo Đại kư Sắc lệnh thăng cấp Trung Úy đương nhiên sau 2 năm tốt nghiệp.Cuối tháng 6-1951 măn khoá học hồi hương vềSaigon vào đầu tháng 7, Trung Tá Nguyễn Văn Vận (sau này là Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 tại Hà Nội) Đổng lư Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng đă tŕnh Thủ Tướng Chính phủ Trần Văn Hữu kiêm Bộ trưởng Quốc pḥng kư lệnh bổ nhiệm Tôi vào phục vụ tại Nha Đổng Lư Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng tại Saigon.

Mốc thời gian đầu tháng 7 năm 1951 này được coi là mốc thời gian kỷ niệm thích thú nhất đối với Tôi. V́ vào đầu tháng 7 năm 1947 tức là 4 năm về trước, Tôi t́nh nguyện gia nhập Vệ binh Bắc Kỳ chỉ với mục đích sống đời lính tạm thời cho qua cơn biến loạn nhiễu nhương của xă hội lúc bấy giờ, nhưng không ngờ thời thế đă chuyển xoay biến đổi cuộc đời của Tôi thành hoàn toàn khác hẳn. Từ đăng vào lính tại miền Bắc, đi miền Trung học Sĩ quan, rồi du học bên Pháp, và trở về làm việc tại Saigon.Thế mới biết lời các Cụ xưa dạy “Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên” quả thật là đúng không sai. Và cũng kể từ đầu tháng 7 năm 1951, đoạn đường Binh nghiệp kế theo của Tôi được ghi chép bằng những trang Hồi kư rất thân thương “DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN”, “HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI”, “HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM”, các tập hồi kư này hiện đang được lưu trữ trong trang Web riêng của Tôi tại dịa chỉ http://colhungnguyen.webs.com/

7.- ĐÔI LỜI KẾT LUẬN

         Khoá 1 được coi như là người con đầu ḷng của một gia đ́nh nghèo với 2 bàn tay trắng bắt đầu lập nghiệp, nên chịu đủ thứ thiếu thốn không như các khóa đàn em sau này, do đó cũng có nhiều kỷ niệm không giống ai như không có ban đại diện khóa, không có họp mặt toàn khoá hàng năm, anh em cùng khóa mà không biết hết tên nhau ngoại trừ những người cùng trung đội khoá sinh trong thời gian thụhuấn tại trường...Riêng cá nhân Tôi có may mắn được làm việc tại các Cơ quan Trung ương trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu (Bộ chỉ huy Viễn Thông, Bộ Tư lệnh Điạ phương quân và Nghiă quân, Nha Tổng Thanh Tra Quân lực, Tổng cục Chiến tranh Chính trị) nên có nhiều dịp đi công tác tại các đơn vị Hải Lục Không quân trên toàn miền Nam nên có dịp gặp lại một số anh em cùng khoá nên nhớ được tên sau đây:

- Người miền Nam, các anh Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Hữu Có, Lê Quang Hiền, Nguyễn Văn Nhỏ (con rể Tướng Bẩy Viễn), Trần Thanh Phú (bào đệ Tướng Trần Thanh Phong), Trần Ngọc Thức, Nguyễn Quang Sanh, Trần Văn Hổ, Nguyễn Văn Luông, Nguyễn văn Y, Dương Văn Vinh, Nguyễn Văn Thẳng, và 3 anh Bốn, Thể, Hưng (không nhớ Họ ǵ).

- Người miền Trung, các anh Trần Văn Trung, Tôn Thất Đính, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Văn Chuân, Phan Xuân Nhuận, Nguyễn Khương, Lê Huy Luyện, Hoàng Văn Luyện, Tôn Thất Tương, Phan Văn Cách, Nguyễn Xuân Tửu, Trần Mô, Nguyễn Mại, Nguyễn Lương, Lê Quang Biên, Nguyễn Hữu Dụng, Lê Văn Thông, Phạm Hiển, Đỗ Hữu Lư, và Tuyên (không nhớHọ ǵ).

- Người miền Bắc, các anh Nguyễn Khắc Thăng, Bùi Đ́nh Đạm, Lê Văn Nhật, Đàm Quang Yêu, Trần Thượng Phương, Đỗ Văn Tâm, Pham Văn Khái, Đàm Quang Đột. Vào những năm đầu Thập niên 1970, thời gian Tôi giữ chức vụ Phụ Tá Tổng Cục trưởng Chiến tranh Chính trị đặc trách Hướng Đạo Quân đội kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến, Tôi đă phối hợp với anh bạn cùng khoá là Thiếu Tướng Bùi Đ́nh Đạm đang giữ chức vụ Giám đốc Nha Nhân viên Bộ Quốc Pḥng để sưu tập tất cả các văn kiện và h́nh ảnh liên hệ tới sinh hoạt của Trường và Khoá 1 tại Huế, Tôi phụ trách tŕnh bầy ấn hành cuốn Kỷ Yếu cho Khoá rồi trao lại cho anh Đạm gửi đến tặng tất cả anh em đồng Khoá lưu giữ làm kỷ niệm. Chẳng biết bây giờcó ai c̣n giữ đưọc bản nào không?

Nhờ có được Sắc lệnh thăng cấp cho toàn Khoá mới biết được là chỉ có 53 người trên tổng số 63 người theo học được chấm đậu cho thăng cấp Thiếu Úy Hiện dịch, và anh bạn già Trần Thượng Phương là người thứ 53 trong Sắc lệnh. Thủ Khoa là anh Nguyễn-Hữu Có, Hạng Nh́ là anh Nguyễn Khắc Thăng, và Hạng Ba là anh Trần Văn Trung.

      Việc riêng của Khoá th́ như vậy, nhưng việc chung phục vụ Quốc gia Dân tộc Việt Nam th́ khoá 1 đă góp phần rất đắc lực, cho đến ngày đứt phim Việt Nam Cộng Hoà vào 30-4-1975, Khoá 1 đă cung cấp cho Quân lực Việt Nam Cộng Hỏa tới 9 VỊ TƯỚNGtrong đó một Vị làm Tổng Thống Nền Đệ Nhị Cộng Hoà là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Sau đây là danh sách các Tướng xuất thân Khoá 1:

       - 5 Trung Tướng: Nguyễn-Hữu Có, Tôn Thất Đính, Đặng Văn Quang, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Trung,

       - 3 Thiếu Tướng: Nguyễn Văn Chuân, Bùi Đ́nh Đạm, Tôn Thất Xứng, và

       - 1 Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận.

         Ngoài ra, một số anh em Khoá 1 trong khi thi hành chức vụ được giao phó đă nh́n thấy một số nhu cầu hữu ích cần phải thực hiện để yểm trợ tinh thần cho toàn quân toàn dân luôn vững mạnh hăng say kiên tŕ tham gia chống lại cuộc chiến xâm lăng của Thế giới Cộng sản vào Việt Nam, nên đă đề nghị và đă được các cấp thẩm quyền chấp thuận cho thực hiện. Đó là:

A.- TẬP SAN EMIAD CỦA TRƯỜNG VƠ BỊLIÊN QUÂN ĐÀLẠT.

        Tập san này được Trường Vơ Bị Đà Lạt thực hiện định kỳ và phổ biến rộng răi cả trong Quân đội lẫn ngoài xă hội để giới thiệu các sinh hoạt của Trường về mục đích và chương tŕnh đào tạo Sĩ quan Hiện dịch cho Quân Đội Quốc gia. Tập san viết bằng Pháp ngữ v́ trong thời gian đó Pháp ngữ là văn tự căn bản chính thức dùng trong các tổ chức cơ quan thuộc Chính quyền và Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Anh Nguyễn Khắc Thăng là người đề xướng và được giao trách nhiệm phụ trách công việc này. Vào năm 1952, sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Trường Cao Đẳng Chiến Tranh (Ecole supérieure de Guerre) của Quân đội Pháp tại Paris về, anh Thăng được Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam bổ nhiệm về Trường làm Huấn luyện viên, nhưng v́ anh ấy bị ḿn Việt Cộng làm cụt mất một chân trái trong thời gian theo học Khoá ChiếnThuật (Cour Tactiques) tại Phà Đen vùng Hà Nội nên việc di chuyển theo Khoá sinh ra băi tập chiến thuật rất khó khăn, nên Thiếu Tá Leford Chỉ Huy Trưởng Trường đă bổ nhiệm anh vào Ban 5 của Bộ Chỉ huy để lo về phần vụ Tác Động Tinh Thần khoá sinh, y như tại Bộ Tổng Tham Mưu ngoài các Pḥng tham mưu chính (P1,P2,P3,P4) c̣n có Ban Tác Động Tinh Thần (5ème Section, Moral Action) sau cải đổi thành Pḥng 5 tiền thân của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị sau này.

Tôi biết là v́ anh Thăng là bạn rất thân của Tôi, mỗi lần về công tác tại Saigon anh ấy đều ởtại nhà riêng của vợ chồng chúng tôi. Lúc đó Tôi làm Trưởng Pḥng Mật Mă (Bureau du Chiffre) trực thuộc văn pḥng Trung Tá Trần Văn Minh Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam trụ sở đặt tại đường Trần Hưng Đạo gần bên Chợ Lớn (sau này Trung Tá Minh được thăng lên đến cấp Trung Tướng làm Tư Lệnh Đệ Nhất Quân Khu một thời gian rồi đi làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa bên Phi Châu).

        Trường Vơ bị Saint Cyr của Lục quân Pháp cũng phát hành định kỳ một tập san với tên SAINT CYR Magazine để làm mối giây liên lạc giữa nhà trường và các cựu sinh viên trong toàn Quân đội. Nhưng họ bán lấy tiền để trang trải chi phí điều hành chứ không tặng không như chúng ta, v́ chúng ta dùng ngân quỹ của Đơn vị dự trù dành cho các dịch vụ thực hiện trách vụtâm lư chiến TÁC ĐỘNG TINH THẦN.

 

B .- HỘI HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI.

Đặc san Hướng Đạo Quân Đội 1974

        Vào những năm từ giữa Thập niên 1960 trở đi, hoàn cảnh kinh tế và xă hội tại miền Nam Việt Nam bị xáo trộn v́ chiến tranh xâm lăng phá hoại do Việt Cộng Bắc Việt thực hiện dưới sự chỉ đạo và yểm trợcủa Liên Xô Nga và Trung Cộng ngày một khốc liệt hơn. V́ thế quân sĩ phải có mặt liên miên nơi tiền tuyến, vợ ở nhà cũng tối ngày bận bịu với việc làm ăn buôn bán kiếm thêm tiền để lo cho cuộc sống của gia đ́nh, nên hầu như không ai có đủ th́ giờ lo lắng rèn cặp con trẻngoài những giờchúng theo học tại các trường Văn Hoá Quân đội. Do đó e sợrằng chúng sẽ lang bang đàn đúm rồi bị lôi cuốn xa lầy vào các tệ đoan xă hội, nên Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị lúc đó đang do Tướng Trần Văn Trung trách nhiệm đă đề nghị và đă được Bộ Quốc Pḥng chấp thuận cho thành lập các ĐOÀN THIẾU NHI QUÂN ĐỘI tại các Trường Văn Hoá Quân Đội và Trại Gia Binh. Mục đích chính yếu nhằm hướng dẫn giáo dục trẻ tu thân tích đức theo phương thức của Hướng đạo Sinh Quốc tế về cả 3 phương diện TRÍ, ĐỨC, THỂ LỰC, để chúng tập quen và ham thích tự nguyện tham gia các công tác GIÚP ÍCH GIA Đ̀NH VÀ MỌI NGƯỜI NGOÀI XĂ HỘI trong những giờ rảnh rỗi ngoài học đường.

Vào tháng 10 năm 1970, Tôi tốt nhiệp Khoá 3 Cao Đẳng Quốc Pḥng Việt Nam tại Saigon với luận án tựa đề VAI TR̉ SĨ QUAN CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ TRONG THỜI HẬU CHIẾN nên đă được Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH bổ nhiểm về Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, và Tướng Trung Tổng Cục Trưởng đă chỉ định Tôi vào trách vụ Phụ Tá Tổng Cục Trưởng Chiến tranh Chính trị đặc trách công tác Thiếu Nhi Quân đội kiêm Chủ Nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến

Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đến Lễ Bế Giảng Khóa Căn Bản Huynh Trưởng Hướng Đạo, Sài G̣n tháng 11 năm 1970 Trại huấn luyện Khóa Căn Bản Huynh Trưởng Hướng Đạo 11-1970 tại sân vận động Trần Hưng Đạo bên Bộ Tổng Tham Mưu ân Sơn Nhất Saigon.

Đến tháng 11-1970 một Trại Huấn luyện 400 Huynh trưởng Hướng đạo cấp Căn Bản đầu tiên được tổ chức tại Vận động Trường Trần Hưng Đạo bên cạnh trụ sở của Bộ Tổng Tham Mưu do Tôi làm Trại Trưởng, và Tướng Trung Tổng Cục Trưởng đă đến chủ tọa Lễ Bế Mạc trao khăn quàng Huynh Trưởng Hướng Đạo cho Trại sinh gồm các quân nhân do các đơn vị gửi theo học để về tổ chức hướng dẫn các Đoàn Thiếu nhi Quân đội con em quân sĩ theo từng lớp tuổi Ấu, Thiếu, Kha, Tráng thuộc đơn vị của ḿnh.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến khai mạc trại họp bạn Đội Trưởng Thiếu Nhi Quân Đội ====>

Đến mùa Giáng sinh 1970, một Trại Họp Bạn 2,000 Đội trưởng Thiếu Nhi Quân Đội được tổ chức tại rừng Chí Linh bên bờ biển Vũng Tầu trong lănh thổ của Trung tâm huấn luyện Cán bộ Xây Dựng Nông thôn, đă được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến chủ tọa Lễ Khai Mạc Trại với sự hiện diện của một số quan khách Bộ trưởng trong chính phủ và Tướng lănh tại cấpNhân dịp này với tư cách Trại Trưởng TrạiHọp Bạn, Tôi đă đề nghị và đă được Tổng Thống Thiệu chấp thuận cho làm thủ tục xin phép thành lập HỘI HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI theo quy chế sinh hoạt của các Hội đoàn thanh niên tư nhân như Hội Hướng Đạo Việt Nam, Hội

 

                                                                             

<<===Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu kư lưu niệm

Mọi thủ tục được tiến hành ngay sau khi Trại Họp Bạn bế mạc. Chỉ một tháng sau giấy phép đă được Bộ Giáo Dục và Thanh Niên cấp và HỘI HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI ra đời với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu Hội Trưởng Danh Dự, Trung Tướng Trại Trưởng Voi Hoạt Bát Trần Văn Trung Nguyễn Huy Hùng Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Hội Trưởng, Tôi Đại Tá Nguyễn-Huy Hùng Phó Hội Trưởng kiêm     

 

            Trại Trưởng Voi Hoạt Bát Nguyễn Huy Hùng ====>

Trại Trưởng, và Trung Úy Nguyễn Văn Liễu (họa sĩ Trịnh Cung) Trưởng Pḥng Hướng Đạo Quân Đội thuộc Khối Tổ chức của Tổng cục CTCT làm Tổng Ủy Viên. Một cuốn HUẤN THI ĐIỀU HÀNH CĂN BẢN HỘI HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI gồm đầy đủ các mục hướng dẫn về Mục đích, Nhiệm vụ, Tổ chức, Huấn luyện, Sinh hoạt, Đồng phục, Thâu nhận đoàn sinh… đă được tŕnh lên Bộ Tổng Tham Mưu ban hành để các cấp trong toàn quân đội thi hành.Tính đến ngày Quốc hận 30-4-1975, tổng số Huynh Trưởng HĐQĐ có khoảng 4.000 người, và đoàn sinh cả Nam lẫn Nữ có khoảng 120.000 em.Trung Ương.Vào đầu năm 1974, Cục Tâm Lư Chiến Tổng cục CTCT đă phát hành một ĐẶC SAN HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI ghi nhận tất các h́nh ảnh bài viết liên quan tới việc h́nh thành và kết quả của tổ chức Thiếu Nhi Quân đội sau đổi thành Hướng Đạo Quân Đội từgiai đoạn h́nh thành cho đến cuối năm 1973.                               

 Vào đầu năm 2008 Mậu Tư, Tôi đă được một thân hữu cư ngụ bên Tokyo Nhật Bản mua đấu giá giúp (với $200.US Đôla) được cuốn ĐẶC SAN HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI 1974 duy nhất t́m được sau mấy chục năm lưu vong nơi xứ người, Tôi đă copy làm thành một slide show đang lưu trữ trên trang Web của Hội Ái hữu Truyền Tin QLVNCH tại Hoa Kỳ ở địa chỉhttp://truyentinqlvnch.webs.comvà trang Web riêng của Tôi tại địa chỉ http://colhungnguyen.webs.com và sau cùng Tôi đă gửi tặng cuốn Đặc san HĐQĐ duy nhất t́m được sau 34 năm lưu vong này cho VIỆN BẢO TÀNG THUYỀN NHÂN VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ (Việt Museum) tại San Jose đang do Đại Tá Vũ văn Lộc làm Giám đốc để khách thập phương có thể chiêm ngưỡng, thay v́ giữ làm bảo vật riêng cho gia đ́nh chúng tôi. C̣n vấn đề tổng kết xem đến nay ai c̣n ai mất th́ cũng là một vấn đề nan giải, với khả năng riêng của Tôi tự sưu tập và nhớ được như sau:

         Trong ṿng một năm sau ngày măn khoá th́: Tại miền Bắc có 2 bạn hy sinh là, Nguyễn Văn Thản tử thương trong đồn tại vùng tỉnh Hưng Yên v́ Việt Cộng pháo kích tấn công đồn vào khoảng cuối năm 1949, và Nguyễn Bá Liêm tử thương trong trận giao tranh với quân phục kích Việt Cộng trên đuờng đi từ tỉnh lỵ Thái B́nh đến bến đ̣ Tân Đệ vào sáng sớm ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1950.

         Tại miền Trung có bạn Phạm Hiển bị Việt Cộng bắt làm tù binh trong một cuộc hành quân và đem đi giam tại đâu không ai biết sống chết ra sao, măi 24 năm sau được tha trong dịp trao đổi tù binh theo quy định của Hiệp định đ́nh chiến, tái lập hoà b́nh do 4 phe Việt Cộng Bắc Việt, Chính phủ lâm thời miền Nam do Việt Cộng đẻ ra và Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà kư tại Paris vào ngày 27-1-1973.

          Tại miền Nam th́ bạn Cao Hoàng Phiên bị Việt Cộng bắt trong một cuộc giao tranh và đem đi đâu mất tích không ai biết sống chết ra sao. Và sau đây là số các bạn đă qua đời v́ tuổi già hoặc bệnh hoạn mà Tôi ghi nhận được: Nguyễn Khắc Thăng, Đỗ Văn Tâm, Trần Thượng Phương, Dương Văn Vinh, Lê văn Thông, Phạm Hiển, Đỗ Hưu Lư, Đàm Quang Yêu, Phan Xuân Nhuận, Nguyễn Văn Chuân, Nguyễn Văn Thiệu, Bùi Đ́nh Đạm, và Đặng Văn Quang.

            Một điều khó quên chót về Khoá 1 là, vào ngày 23-10-1955 Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă tổ chức cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ư tại miền Nam Việt Nam để truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại, rồi sau đó đổi tên nước thành VIỆT NAM CỘNG HOÀ thay cho QUỐC GIA VIỆT NAM để đích thân lên làm Tổng Thống điều hành đất nước thay thế cựu Hoàng Bảo Đại, do đó sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hoà chính thức ra đời vào ngày 26-10-1956, một số anh em thuộc Khoá 1 Bảo Đại đang làm việc tại Saigon và vùng phụ cận đă được anh Bùi Đ́nh Đạm đang làm Thiếu Tá Tham Mưu Trưởng Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức mời họp bàn thảo việc xin đổi tên Khoá, mọi người có mặt đă đồng ư lựa tên PHAN BỘI CHÂU thay cho BẢO ĐẠI, và đă làm tờ ĐỀ NGHỊ tŕnh lên Tổng Thống Diệm cứu xét và Tổng Thống Diệm đă chấp thuận nên kể từ đó Khoá 1 mang tên mới là Khoá PHAN BỘI CHÂU.

I. CÁC VỊ TƯỚNG XUẤT THÂN KHÓA 1 TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

                          

              
Tr Tướng Nguyễn Văn Thiệu    Tr Tướng Trần Văn Trung    Tr Tướng Đặng Văn Quang

 

              

Trung Tướng Nguyễn Hữu Có   Trung Tướng Tôn Thất Đinh    Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân

      
Thiếu Tướng Bùi Đ́nh Đạm    Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận

 


Đại Tướng Westmoreland  và Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng

K. LIỆT KÊ 35 KHÓA VƠ BỊ TỪ HUẾ ĐẾN ĐÀ LẠT (1947-1975)

            

sỐ  Tên Khóa Từ ... Đến Học Vao ..Ra Chỉ Huy Trưởng Thủ khoa
1 Thủ khoa 1948/1949 6 Th 63/56 Trung Tá Chaix Nguyễn Hữu Có
2 Quang Trung 1949/1950 6 Th 109/103 Trung Tá Chaix Hồ Văn Tố
3 Trần Hưng Đạo 1950/1951 8 Th 145/10 Trung Tá Gribius  
4 Lư Thường Kiệt 1951/1951 8 Th 120/90 Đại Tá Gribius Ng Cao Albert
5 Hoang Diệu 1951/1952 8 Th 250/246 Thiếu Tá LeFort Dương H. Nghĩa
6 Đinh Bộ Lĩnh 1951/195 10 Th 200/181 Thiếu Tá LeFort Lư Ṭng Bá
7 Ngô Quyền 1952/1953 8 Th 130/123 Thiếu Tá LeFort Trương Quang Ân
8 Hoaàng Thụy Đông 1952/1953 8 Th 250/183 Thiếu Tá LeFort Nguyễn Bá Th́n
9 Huỳnh Văn Louis 1953/1954 11 Th 180/150 Thiếu Tá Cheviotte Nguyễn Th Thoại
9B Đống Đa (Trừ bị 1953/1954 6 Th 120/114 Thiếu Tá Cheviotte Nguyễn X Diệu
10 Trần B́nh Trọng 1954/1954 8 Th 525/430 Thiếu Tá Cheviotte Nguyễn Tấn Đạt
10B Cương Quyết 2 (TB) 1954/1954 6 th 300/247 Tr Tá Cheviotte, N.V.Chuân Ngô Văn Lợi
11 Phạm Công Quân 154/1955 8 Th 188/16 N.V.Chuân; N.V.Thiệu Ngô Văn Phát
11B Vương Xuân Sỹ (TB) 1954/1955 6 Th 210/200 N.V.Chuân; N.V.Thiệu Nguyễn Văn Ngà
12 Cộng Ḥa 1955/1956 14 Th 150/147 N.V.Chuân; N.V.Thiệu Phạm Phùng
13 Thống Nhất 1956/1958 2 Năm 210/200 N.V.Thiệu; Hồ Văn Tố Nguyễn Văn Bá
14 Nhân Vị  1957/1960 3 Năm 137/126 N.V.Thiệu; H.V.Tố; Lê Văn Kim Nguyễn Cao Đàm
             
15 Lê Lợi 1959/1961 3 Năm 64/60 N.V.Thiệu;H.VTố; L.V Kim; Vơ Trung Thứ
          Trần Ngọc Huyến  
16 Ấp Chiến Lược 1959/196 3 Năm 400/231 Lê. V. Kim; Trần Ngọc Huyến Bùi Quyền
17 Lê Lai 1960/1963 30 Th 200/180 Trần Ngọc Huyến Vĩnh Nhi
18 Bùi Ngươn Ngăi 1961/1963 2 Năm 201/189 Trần Ngọc Huyến Nguyễn Anh Vũ
             
19 Nguyễn Trăi 1962/1964 2 Năm 201/189 T.N.Huyến; Trần Tử Oai,  
          Trần.V.Trung; Nguyễn.V.Kiểm Vơ Th Kháng
20 Nguyễn Công Trứ 1963/1965 2 Năm 425/412 T.N.Huyến; T.T.Oai;T.V.Trung Quách Tinh Cầu
          Kiểm, Lâm Quang Thơ  
             
21 Chiến Thắng Nông Thôn 1964/1966 2 Năm   Nguyễn Văn Kiểm, T.V.Trung, Mai Văn Hóa
          L.Q Thơ, Đỗ Ngọc Nhận  
22A Huỳnh Văn Thảo 1965/1967 4 Năm 165/163 Lâm Quang Thơ; Đỗ Ngọc Nhận Nguyễn Văn An
22B Trương Quang Ân 1965/1969 4 Năm 100/96 Lâm Quang Thi  
23 Nguyễn Đức Phống 1966/1970 4 Năm 282/241 Đỗ Ngọc Nhận; Lâm Quang Thi Tr Vĩnh Thuần
24 Đỗ Cao Trí 1967/1971 4 Năm 317/245 Đỗ Ngọc Nhận; Lâm Quang Thi Vũ Xuân Đức
25 Quyết Chiến 1968/1972 4 Năm 300/258 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ Ng Anh Dũng
26 Nguyễn Viết Thanh 1969/1974 4 Năm 196/175 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ Ng Anh Dũng
27 Trương Hữu Đức 1970/1974 4 Năm 192/182 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ H.V. Nhuận
28 Nguyễn Đ́nh Bảo 1971/1975 3 Năm 330/250 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ Hồ Thanh Sơn
29 Hoàng Lê Cường 1972/1975 3 Năm 315/300 Lâm Quang Thơ Đào C. Hương
30 Không tên 1974/1975 16 Th 223/? Lâm Quang Thơ Đăng thụ Huấn
31 Không tên 1975 16 Th 243? Lâm Quang Thơ  

CÁC VỊ CHỈ HUY TRƯỞNG TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA

        
                       
Nguyễn văn Chuân          Nguyễn văn Thiệu                      Hồ văn Tố

 


                 
Lê Văn Kim                             Trần Ngọc Huyến                  Trần Tử Oai

 

          

                  
Trần Văn Trung                     Nguyễn Văn Kiểm           Lâm Quang Thơ

 

              
                
   Đỗ Ngọc Nhận                         Lâm Quang Thi

L. CÁC TƯỚNG LĂNH TỐT NGHIỆP TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA

Khóa 1 Bảo Đại (Sau đổi tên thành Phan Bội Châu), 56 Sĩ Quan Tốt nghiệp có :

- Trung Tướng Nguyên Văn Thiệu

- Trung Tướng Trần Văn Trung

- Trung Tướng Đặng Văn Quang

- Trung Tướng Nguyễn HữuCó

- Trung Tướng Tôn Thất Đính

- Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng

- Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân

-Thiếu Tướng Bùi Đ́nh Đạm

- Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận

Khóa 2 Quang Trung, 103 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Trung Tướng Ngô Du

- Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh

- Trung Tướng Trần Thanh Phong

- Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao

- Thiếu Tướng Hoàng Văn Lạc

- Thiếu Tướng Nguyễn Thanh Sằng

- Thiếu Tướng Hồ Văn Tố

- Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển

- Chuẩn Tướng Nguyễn Thanh Hoàng

- Chuẩn Tướng Le Trung Tường

Khóa 3 Trần Hưng Đạo, 107 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm

- Trung Tướng Lữ Lan

- Trung Tướng Lâm Quang Thi

- Trung Tướng Nguyễn Xuân Thịnh

- Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn

- Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu

- Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ

- Chuẩn Tướng Vơ Dzinh

- Chuẩn Tướng Lư Bá Hỷ

- Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Óanh

- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Phước (Truy thăng)

Khóa 4 Lư Thường Kiệt, 90 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Trung Tướng Nguyễn Văn Minh

- Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh

- Thiếu Tướng Đào Duy Ân

- Thiếu Tướng Nguyễn Cao

- Thiếu Tướng Phan Đ́nh Niệm

- Chuẩn Tướng Đỗ Kiến Nhiễu

Khóa 5 Hoàng Diệu, 246 Sĩ Quan, Tốt nghiệp có:

- Trung Tướng Phan Trọng Chinh

- Trung Tướng Dư Quốc Đống

- Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi

- Trung Tướng Phạm Quốc Thuần

- Thiếu Tướng Trần Bá Di

- Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai

- Thiếu Tướng Lư Ṭng Bá

- Thiếu Tướng Chương Dzềnh Quay

- Chuẩn Tướng Lê Văn Tư

- Chuẩn Tướng Lê Đức Đạt (Truy thăng)

Khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh, 181 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi

- Chuẩn Tướng Trần Đ́nh Thọ

- Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy

Khóa 7 Ngô Quyền, 123 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Thiếu Tướng Trương Quang Ân

- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai

- Chuẩn Tướng Lê Văn Thân

Khóa 8 Hoàng Thụy Đông, 183 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

- Chuẩn Tướng Lư Đức Quân (Truy thăng)

- Chuẩn Tướng Cảnh Sát Huỳnh Thới Tây

Khóa 10 Trần B́nh Trọng, 430 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Thiếu Tướng Lê Minh Đảo

- Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai

- Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt

- Chuẩn Tướng Trương Hữu Đức (Truy thăng)

Khóa 12 Cộng Ḥa, 147 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:

- Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường

       

         
K-1: Tướng Nguyễn Văn Thiệu  k-1: Tướng Trần Văn Trung  K-1: Tướng Đặng Văn Quang

              
      
K-1: Tướng Nguyễn Hữu Có 
K-1: Tướng Tôn Thất Đính   K-1: Tướng Tôn Thất Xứng                  

              
       
K-1: Tướng Nguyễn Văn Chuân  K-1: Tướng Bùi Đ́nh Đạm
K-1: Tướng Phan Xuân Nhuận

             
     
K-2: Tướng Ngô Dzu  K-2: Tướng Nguyễn Văn Mạnh    K-2: Tướng Trần Thanh Phong

          
       
K-2: Tướng Huỳnh Văn Cao  K-2: Tướng Hoàng Văn Lạc  K-2: Tướng Nguyễn Thanh Sằng

 

     
K2: Tướng Hồ Văn Tố   K-2: Tướng Lê Ngọc Triển         K-2: Tướng Lê Trung Tường           

        
      
K-3: Tướng Hoàng Xuân Lăm   K-3: Tướng Lữ Lan        
K-3: Tướng Lâm Quang Thi         

          
         
K-3: Tướng Nguyễn XuânThịnh 
K-3: Tướng Nguyễn Văn Toàn K-3: Tướng Nguyễn Văn Hiếu

     
       
K-3: Tướng Lâm Quang Thơ   K-3: Tướng Vơ Dinh     K-3: Tướng Lư Bá Hỷ

       
K-3: Tướng Nguyễn Ngọc Óa    K-3: Tướng Nguyễn Văn Phước

       
K-4: Tướng Nguyễn Viết Thanh  K4: Tướng Nguyễn Văn Minh K-4: Tướng Đào Duy Ân

       
K-4; Tướng Nguyễn Cao K-4: Tướng Phan Đ́nh Niệm   K-4: Tướng Đỗ Kiến Nhiễu

    
K-5 Phan Trọng Chinh  K-5: Tướng Dư Quốc Đống K-5: Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi

         
K-5: Tướng Phạm Quốc Thuần K-5: Tướng Trần Bá Di        K-5: Tướng Đỗ Kế Gia

      
 K-5: Tướng Lư Ṭng Bá  K-5: Tướng Chương Quay    K-5: Tướng Lê Văn Tư

      

 K-5: Tướng Lê Đức Đạt

       
K-6: Tướng Trần Quang Khôi   K-6: Tướng Trần Đ́nh Thọ K-6: Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy

       
K-7: Tướng Trương Quang Ân K-7: Tướng Trần Văn Hai  K-7: Tướng Lê Văn Thân

        
K-8: Tướng Phạm Văn Phú  K-8: Tướng Lư Đức Quân K-8: Tướng Huỳnh Thới Tây

      
K-10: Tướng Lê Minh Đảo K-10: Tướng Vũ Văn Giai Và TT Thiệu

     
K-10: TướngTrần văn Nhật   K-10: Tướng Trương Hữu Đức K-12: Tướng Mạch Văn Trường

Hy vọng những điều kể lể dài ḍng chân thật trên đây của Tôi giải toả được tất cả những ǵ mọi người muốn biết về Khoá 1 đứa conđầu ḷng của Trường Mẹ Vơ bị Quốc gia Việt Nam. Chào thân mến, Chúc Quư Đồng Môn cùng Bảo quyến luôn dồi dào sức khoẻ và hàng ngày gặp mọi điều may mắn an lành hạnh phúc như ư.


KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG (K1) Nam California, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ

tem tŕnh bầy bởi Gia Đ́nh Vơ Bị - Lâm Viên Mutual Fund và do công ty ZAZZLE.COM thực hiện.

    

***

Phần III:Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam CộngḤa) Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21- Phần III  (1) T́m hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6 (2) Ngồi lại với nhau (3) Truyện bán nước của gian tặc Hồ Chí Minh và bè đảng Việt cộng (4) Ô nhục ải Nam Quan (5) Những cái Tết khó quên của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20 &more

-Nguyễn Huy Hùng

 

 

 

Phần I :Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa) Bút  Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thế Kỷ 20 và 21.Tổng hợp tháng 4 năm 2016.- Phần I (1) Sự thật lịch sử VN vào 1945 (2) Nh́n lại ḿnh 62 năm trước (3) VNCH ra đời trong hoàn cảnh nao (4) Tứ thánh bất tử Việt nam

 

Phần II: Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa)  Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi  Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21 Tổng hợp tháng 4 năm 2016 -Phần II (1) Tâm  sự người con đầu ḷng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt

Phần III Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam CộngḤa) Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thyế Kỷ 20 Và 21- Phần III (1)T́m hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6 (2)Câu truyện bán nước của bọn gian tặc Hồ chí Minh và bè đảng Việt cộng  (3) (4) Những cái Tết  khó quên của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20