báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

[Bài Viết - Article]                                                                   

 

BÚT KƯ
VIỆT NAM VÀ ĐỜI TÔI QUA HAI THẾ KỶ 20 VÀ 21.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
(Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa)
Tổng hợp tháng 4 năm 2016.
 


Nguyễn-Huy Hùng, ảnh chụp năm 1969.

ĐÔI LỜI TÂM SỰ


Tôi gia nhập Quân đội từ năm 1947 và tiếp tục cuộc đời binh nghiệp cho đến ngày Quốc Hận 30-4-1975 th́ bị bạo quyền Việt Cộng bắt đi tù tập trung cải tạo suốt 13 năm sau mới được tha về sống đoàn tụ với gia đ́nh tại Saigon. Tháng 8 năm 1992 được bạo quyền trục xuất ra khỏi nước cùng với vợ các con và các cháu nội cháu ngoại đi định cư tỵ nạn chính trị Cộng sản tại Hoa Kỳ theo diện H.O.10 (Humanitarian Operation).

Suốt từ ngày tới Hoa Kỳ đến nay, ngoài việc lo cho gia đ́nh Tôi vẫn hăng hái tham gia hoạt động chính trị chống Cộng cùng với các Hội đoàn cựu Chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa và các Tổ chức Cộng đồng người Việt Tỵ nạn Cộng sản trên toàn thế giới. Tôi cũng đă thường xuyên đóng góp rất nhiều bài tham luận đăng trên các Diễn đàn Intrenet, các báo Việt ngữ, đọc trên Đài phátthanh và Vô tuyến truyền h́nh của người Việt nơi hải ngoại. Lúc này các Cộng đồng người tỵ nạn cư trú trên toàn thế giới đang rầm rộ tổ chức tưởng niệm THÁNG TƯ ĐEN, nên Tôi thấy là cần gom một số bài quan trọng mà Tôi đă đóng góp từ trước đến nay vào Tập Bút Kư này, để các Bạn Trẻ đang hăng hái dấn thân tiếp nối công cuộc đấu tranh chống Cộng của Ông Cha ḿnh cho đến khi toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách thống trị độc tài tàn bạo của bè đảng Việt Cộng (chưa có dịp đọc trước đây) tùy nghi tham khảo./.

Chào kính mến, NGUYỄN-HUY HÙNG.

Nội dung:

Phần I :Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa) Bút  Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thế Kỷ 20 và 21.Tổng hợp tháng 4 năm 2016.- Phần I (1) Sự thật lịch sử VN vào 1945 (2) Nh́n lại ḿnh 62 năm trước (3) VNCH ra đời trong hoàn cảnh nao (4) Tứ thánh bất tử Việt nam

 

Phần II: Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa)  Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi  Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21 Tổng hợp tháng 4 năm 2016 -Phần II (1) Tâm  sự người con đầu ḷng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt

Phần III Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam CộngḤa) Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thyế Kỷ 20 Và 21- Phần III (1)T́m hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6 (2)Câu truyện bán nước của bọn gian tặc Hồ chí Minh và bè đảng Việt cộng  (3) (4) Những cái Tết  khó quên của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20

 

T̀M HIỂU VỀ NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6

Nguyễn-Huy Hùng(K1 Trường VBQGVN)

Cả gia đ́nh Tôi tới định cư tỵ nạn cộng sản Việt Nam tại Hoa Kỳ, vào đầu tháng 8 năm 1992 theo diện H.10, đến nay 2015 tính ra cũng được hai mươi hai năm rồi.

Các cháu nội, cháu ngoại của Tôi đă tiếp theo nhau vào Đại học. Có người đă tốt nghiệp và đă đi làm, có người c̣n đang tiếp tục học nửa chừng, có người sắp sửa hết chương tŕnh Trung học, có người mới vào Tiểu học. Bạn bè của các cháu, có người là Hoa Kỳ chính gốc da trắng, cũng có người là Mỹ gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ hay gốc các sắc tộc khác, đến nhà chơi trong những dịp Lễ hoặc kỷ niệm sinh nhật, biết Tôi là cựu Sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa, nên thường đưa ra những câu hỏi rất đơn giản và thành thật, yêu cầu Tôi giải thích cho họ rơ về 2 điểm mà họ thường thắc mắc sau đây:

1.- Ngày Quân Lực 19 tháng 6 là ngày kỷ niệm của Quân đội nước nào vậy?

2.- Việt Nam Cộng hoà đă tan ră không c̣n, tại sao các Ông vẫn hàng năm tổ chức ngày kỷ niệm Quân lực làm chi vậy?

Tôi đă trả lời cho những người bạn của các cháu, một cách tổng quát đơn giản cho qua truyện. Nhưng họ không chịu, nhất định yêu cầu Tôi phải soạn ra những câu tŕnh bầy chi tiết hơn, để họ có thể dựa vào đó giải thích cho các bạn khác cũng thường thắc mắc muốn t́m hiểu như họ. V́ thế, Tôi đă phải cố gắng vận dụng trí nhớ, cũng như tham khảo các ngày tháng năm chính xác trong 3 cuốn sách dưới đây, để soạn thành một tài liệu hướng dẫn đơn giản, nhưng tạm đầy đủ để làm vui ḷng họ. Các sách ấy là:

1.- Bộ Quân sử Quân đội Việt Nam, Quyển IV, nói về Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa giai đoạn h́nh thành 1946 -1955, do Pḥng 5 Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH sưu khảo, biên soạn và phổ biến ngày 6 tháng 8 năm 1972 tại Saigon.

2.- Việt Nam Niên biểu 1939-1975, Tập A và Tập B, của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1996 tại Hoa Kỳ.

3.- Việt Nam Niên biểu Nhân vật chí, có ghi gần 900 tác nhân lịch sử cận đại từ 1848 tới 1975, cũng của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1997 tại Hoa Kỳ.

Những điều Tôi tŕnh bầy được gói ghém trong 3 mục chính sau đây:

I-V́ sao có ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa?

II.- V́ sao chọn ngày 19 Tháng 6 làm NGÀY QUÂN LỰC ?

III.- Những kỷ niệm khó quên củả riêng Tôi về ngày Quân Lực VNCH

Nay thấy nhiều Hội đoàn đă tổ chức các Đoàn Hậu Duệ, để hướng dẫn các thế hệ trẻ nhập cuộc hoạt động thay thế các Thế hệ Cha Ông tiếp tục công cuộc đấu tranh hỗ trợ cho đồng bào Việt Nam ở trong nước vùng lên lật đổ bạo quyền Việt cộng, giành lại Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, B́nh đẳng cho mọi người. Do đó, Tôi thấy cũng là một việc làm rất hữu ích là nhờ các cơ quan truyền thông tiếp tay phổ biến rộng răi tài liệu này, để bất cứ ai muốn t́m hiểu về NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ 19 THÁNG 6, đều có sẵn tài liệu xử dụng mỗi khi cần đến, đỡ tốn công mất th́ giờ t́m ṭi sưu tập.

Với tuổi già, bệnh hoạn, trí nhớ bị suy yếu v́ 13 năm chịu cảnh tù đầy lao động khổ sai trong các trại cải tạo của Việt cộng sau 30-4-1975, nếu có điều nào ghi lại bị thiếu sót th́ mong quư vị độc giả c̣n minh mẫn bổ túc giùm, Tôi chân thành cảm tạ.

I.-V̀ SAO CÓ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A?

11.- Quan niệm chung về nhu cầu cần có Quân Lực.

Khi có một tập thể đông đảo người cùng chung nguồn gốc, hoặc nhiều Sắc tộc khác nhau nhưng sống bên nhau hoà thuận, theo cùng một chí hướng ước vọng giống nhau, đồng tâm hiệp lực sản xuất phát triển, để cùng có một cuộc sống ấm no hạnh phúc ngày một tân tiến hơn, th́ nhóm người đó đương nhiên trở thành một DÂN TỘC và gọi nhau là ĐỒNG BÀO. Khoảng KHÔNG GIAN trên Trái Đất mà Dân Tộc đó chiếm giữ và làm chủ, cũng đương nhiên được coi là LĂNH THỔ QUỐC GIA riêng của họ, không một Dân tộc nào khác được quyền xâm phạm, giành giật.

Trong cuộc sống tập thể đông đảo như vậy, nhu cầu duy tŕ trật tự bảo vệ an toàn cá nhân cho mọi người trong nội bộ Quốc gia, cũng như chống lại các THẾ LỰC NGOÀI DÂN TỘC muốn xâm lấn, uy hiếp, trấn lột cuộc sống b́nh an của Dân Tộc ḿnh là cần thiết, nên đương nhiên cần phải có một lực lượng chuyên nghiệp vơ trang hùng mạnh gọi là QUÂN ĐỘI hay QUÂN LỰC để chuyên lo.

V́ khoảng Không gian 3 chiều của mỗi Quốc gia gồm có: phần ĐẤT, phần RỜI, và phần BIỂN, do đó muốn bảo vệ được hữu hiệu th́ Tổ chức Quân đội cũng phải có đủ 3 loại Quân Chủng chuyên biệt khác nhau là: LỤC QUÂN, KHÔNG QUÂN, và HẢI QUÂN, để có thể hỗ tương nhau điều hành cuộc chiến tùy theo nhu cầu của mỗi hoàn cảnh t́nh huống khác nhau.

12.-Bối cảnh nào Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà được thành lập?

Suốt 61 năm, nước An-Nam bị Thực dân Pháp đô hộ (sau 1945 khi giành lại được Độc lập tên nước mới gọi là Việt Nam), các Triều đ́nh nhà NGUYỄN kế tiếp nhau không được phép có Quân đội riêng, chỉ có Lực lượng Cảnh vệ trang bị vũ khí thô sơ gọi là LÍNH LỆ, LÍNH DƠNG, chuyên canh gác các Dinh thự, bảo vệ an ninh, hầu hạ Vua và các Quan chức trong Triều đ́nh.

Tại các Phủ, Huyện hành chánh thống thuộc Hoàng Triều có LÍNH CƠ. Trực thuộc các phủ Thống Sứ (Bắc Kỳ), Khâm Sứ (Trung Kỳ) và Thống Đốc (Nam Kỳ) có lực lượng địa phương mà tại Bắc Kỳ là các đơn vị Lính Khố Xanh. Lực lượng chính quy của Phủ Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương là các Trung Đoàn Bộ Binh hoặc Pháo Binh Thuộc Địa (Regiment d’Infanterie ou Artillerie Coloniale) thường được gọi là Lính Khố Đỏ.

Sau khi Thế giới Đại Chiến II chấm dứt, Việt Nam giành lại được Độc lập cho Quốc gia th́ Quân đội Quốc gia Việt Nam mới được thành lập.

Trên lănh thổ Việt Nam, vào ngày Chủ Nhật 11 tháng 3 năm 1945 (hai ngày sau khi quân Nhật lật đổ Pháp nắm toàn quyền cai trị Đông Dương), Vua Bảo Đại được Vua Nhật giúp tái lập Quốc Gia Việt Nam Độc Lập (thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam) trong Khối Đại Đông Á do Nhật chủ xướng. Ông Trần Trọng Kim đă được Vua Bảo Đại cử làm Thủ Tướng thành lập chính phủ điều hành Quốc gia, và ban bố chương tŕnh hưng quốc vào ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó quy định Quốc Kỳ là cờ Quẻ Ly, nền vàng giữa biểu tượng Quẻ Ly mầu đỏ nằm dọc theo bề dài nền cờ (2 vạch dài liền, nằm song song 2 bên 1 vạch đứt quăng chính giữa, trông như chữ CÔNG của Hán tự). Quốc ca là bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông  của nhạc sĩ Hùng Lân.

 

Việt Nam minh châu trời Đông!
Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái B́nh Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi,
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai c̣n vương cỏ hoa,
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết, Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết, Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam
.

Khoảng 5 tháng sau, quân Phiệt Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, Liên Hiệp Quốc cử các lực lượng quân sự của Trung Hoa Dân Quốc và Anh Quốc vào lănh thổ Đông Dương để giải giới quân Nhật, và tiếp giúp cho các Dân tộc bản Xứ(Annam, Lào, Cao Miên) tái lập Quốc gia độc lập thoát khỏi ách đô hộ của Pháp.

Rồi vào ngày 17 tháng 8 năm 1945 ( 2 ngày sau khi vua Nhật tuyên bố đầu hàng quuan Đồng Minh do Hoa Kỳ lănh đạo ), các đoàn thể Công chức và quần chúng Việt Nam họp mít tinh trước Nhà Hát Lớn tại Hà nội, để ủng hộ ông Trần Trọng Kim tiếp tục làm Thủ Tướng, nhưng đă bị nhóm Việt Minh của Hồ Chí Minh trà trộn vào lèo lái biến thành cuộc xuống đường đ̣i Chính phủ Trần trọng Kim từ chức. Đồng thời, nhóm Hồ Chí Minh và Việt Minh cũng đưa người vào Huế làm áp lực buộc Vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường quyền cho nhóm Việt Minh thành lập các Ủy ban Nhân dân Cách mạng thay thế các tổ chức hành chánh của Chính phủ Trần trọng Kim.

Sau đó phe Việt Minh cộng sản của Hồ Chí Minh vận động các Đoàn thể chính trị Quốc gia không theo cộng sản hoà hợp với chúng để thành lập chính phủ Liên Hiệp điều hành đất nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh với tư cách Chủ tịch Chính phủ Liên Hiệp đại diện đứng ra tuyên bố NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ ĐỘC LẬP, không c̣n lệ thuộc vào Pháp nữa.

Nhưng đến ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hồ Chí Minh lại lợi dụng danh nghiả Chủ Tịch Chính phủ Liên Hiệp, phản bội Tổ Quốc Việt Nam bằng cách ám muội kư với Saintenay (Đại diện Pháp) đang sống tại HàNội, Bản Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946, chấp nhận cho Pháp đổ quân lên trấn đóng tại nhiều Thành phố lớn tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam kể cả HàNội, sau khi Pháp đă chiếm và đóng quân tại các tỉnh thuộc miền Nam Vĩ Tuyến 16 của Việt Nam vào cuối tháng 1 năm 1946.

Đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, Hồ Chí Minh và phe Việt Minh của hắn chính thức đón tiếp quân Pháp đổ bộ lên thành phố cảng Hải Pḥng và tiến lên HàNội, bằng cách cho quân Việt Minh hộ tống bảo vệ an ninh lộ tŕnh và treo cờ Đỏ sao vàng khắp ngang cùng ngơ hẻm để gọi là phô trương thanh thế giả để cho quân Pháp tưởng rằng Hồ Chí Minh và Việt Minh đang được toàn dân Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ. Việc làm này bị các đảng và Đoàn thể chính trị Quốc gia không cộng sản trong Chính phủ Liên Hiệpphản đối, nên phe Việt Minh trong chính phủ Liên Hiệp phải gian xảo ra quyết định chỉ thị toàn dân treo cờ là để MỪNG SINH NHẬT CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH.

Các tài liệu tham khảo của các nhà nghiên cứu trên toàn Thế giới, nhất là các tang chứng hồ sơ hành chánh của chính quyền Pháp về Hồ Chí Minh và Cha của hắn ta (một cựu quan lại bị cách chức v́ tội tham nhủng say rượu đánh chết dân lành) đều cho người ta biết rơ rằng ngày 19 tháng 5 không phải là ngày sinh của Hồ Chí Minh. Cái mưu xảo quyệt này của bọn Việt cộng chẳng làm hại ǵ cho tinh thần quân lính của Pháp, nên Chính quyền Pháp đă lặng thinh không thèm có ư kiến ǵ cả. Chỉ có người dân chân chất Việt Nam bị mắc lừa mà thôi.

Sau hơn 7 tháng quân Pháp được công khai an toàn đóng quân và củng cố vị trí an ninh ngay giữa các thành phố lớn, nhiều điều xích mích đă xẩy ra về chia chác quyền hành cai trị giữa Việt Minh và Pháp, ngay trong các thành phố đă không được giải quyết ổn thoả. Nên tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh và phe nhóm Việt Minh đă phát động cuộc tấn công các điạ điểm trú quân của quân Pháp tại tất cả các thành phố đang có quân Pháp trú đóng. Nhưng rất tiếc v́ trang bị vũ khí thô sơ, tổ chức quân chưa hoàn chỉnh nên Việt Minh đă bị thua phải bỏ các thành thị rút vào “bưng” để tiếp tục tiêu thổ kháng chiến. Quân Pháp toàn thắng, bắt đầu tái dụng các Quan lại thời đô hộ cũ, và nhóm con lai Pháp, lập hệ thống Hành chánh cai trị, giúp dân chúng tái tạo cuộc sống b́nh thường tại các Đô thị.

Chiến tranh tiếp tục lan tràn qua các tỉnh kế cận Hà Nội, đến các vùng nông thôn, dân chúng phải sống giữa 2 gọng kềm VIỆT MINH và PHÁP, vô cùng thảm thương bi đát.

Trước hoàn cảnh đó, các Nhân sĩ Việt Nam thương nước yêu ṇi và thành viên các Đảng phái Quốc gia Không cộng sản, thoát chết sau vụ Việt Minh tàn sát hồi đầu năm 1946, ngồi lại với nhau t́m giải pháp ôn hoà giành lại Độc lập cho đất nước mà không phải phung phí xương máu của Dân tộc v́ chiến tranh, đă đi đến kết luận vận động mời Cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong tại Hồng Kông, đứng ra thương thuyết với Chính phủ Pháp, tái dựng QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT cả 3 miền, trong KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP.

Ngày 19 tháng 8 năm 1947, Cựu Hoàng Bảo Đại từ Hồng Kông tuyên bố bằng ḷng đứng ra tiếp xúc điều đ́nh với Chính phủ Pháp. Cuộc vận động kéo dài măi tới ngày 5 tháng 6 năm 1948, trên chiếc tầu biển DUGUAY TROUIN neo tại Vịnh HẠ LONG, Cựu Hoàng Bảo Đại mới tới để chứng kiến Thiếu tướng NGUYỄN VĂN XUÂN Thủ Tướng và mấy vị ĐẠI DIỆN CÁC MIỀN BẮC TRUNG NAM thuộc Chính phủ Trung Ương Lâm thời Việt Nam Thống Nhất, cùng Ông BOLLAERT (đại diện Chính phủ Pháp) kư bản HIỆP ƯỚC HẠ LONG, công nhận QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT CẢ 3 MIỀN BẮC - TRUNG -NAM, trong KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP.

Cờ Quốc gia Việt Nam mới là Nền Vàng với Ba Sọc Đỏ nằm dài chính giữa (theo h́nh Quẻ Càn của Bát quái trận đồ), và Quốc Ca là bài “Tiếng gọi công dân” nhạc của Lưu Hữu Phước (nguyên là đoạn 1 của bài “Sinh viên hành khúc” nhưng lời ca được sửa đôi chỗ. Bài “Sinh viên hành khúc” nguyên thủy gồm 3 đoạn đă được các Sinh viên Viện Đại học Hà Nội tŕnh bầy hợp ca lần đầu tiên trong buổi tŕnh diễn văn nghệ ngày 15-3-1942 tại hội trường Viện Đại học, để gây quỹ giúp các bệnh nhân nghèo trong các Bệnh viện nơi Sinh viên Y khoa thực tập.) Hiện nay, cả Quốc kỳ và Quốc Ca nói trên vẫn được người Việt lưu vong tị nạn cộng sản coi là biểu tượng Quốc gia gốc của ḿnh. Đặc biệt Quốc Kỳ Việt Nam (nền vàng ba xọc đỏ) c̣n được Ủy ban Văn Hoá Liên Hiệp Quốc và nhiều Thành phố, Quận, Tiểu Bang Hoa Kỳ ra Nghị Quyết chính thức công nhận là Quốc kỳ nguyên thủy của Cộng đồng người Mỹ gốc Việt, treo song hành với Quốc kỳ Hoa Kỳ tại các nơi công cộng, suốt dọc các đuờng phố chính trong khu thương mại đông cửa hàng do người Mỹ gốc Việt làm chủ, vào những ngày kỷ niệm như Quốc hận 30 tháng 4, Quân Lực VNCH 19 tháng 6, và thường xuyên quanh năm suốt đêm ngày tại các đài tưởng niệm Chiến binh Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng Ḥa trên toàn Hoa Kỳ. Ngoài ra, trong cuộc Diễn hành Văn hoá Quốc tế hàng năm do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại New York nơi có trụ sở của Liên Hiệp Quốc, th́ đoàn Đại diện dân tộc Việt Nam tham dự là Cộng đồng người Mỹ gốc Việt với rừng Quốc kỳ VN (nền vàng ba sọc đỏ).

Một ngày sau khi kư Hiêp Ước Hạ Long, tức là ngày 6 tháng 6 năm 1948, Quốc Trưởng BẢO ĐẠI chỉ thị Thiếu Tướng Nguyễn văn Xuân Thủ Tướng Chính phủ Trung Ương của nước Việt Nam Thống Nhất cả 3 Miền, xúc tiến việc thành lập QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM (QĐQGVN), khởi sự bằng việc tổ chức TRƯỜNG SĨ QUAN VIỆT NAM HIỆN DỊCH tại Huế (tiền thân của Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà tại miền Nam do ông Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng Thống, lại cải danh thành TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, có giá trị tương đương với các trường Vơ bị Lục quân Saint Cyr của Pháp và West Point của Hoa Kỳ) để đào tạo cấp Chỉ huy, trước khi thành lập các ĐƠN VỊ TÁC CHIẾN và CƠ SỞ QUẢN TRỊ YỂM TRỢ TIẾP VẬN HÀNH CHÁNH QUÂN ĐỘI.

Ngày 1 tháng 6 năm 1949, Khóa Sĩ Quan Hiện dịch đầu tiên tốt nghiệp tại Huế, được đặt tên là Khoá BẢO ĐẠI (sau 1956 đổi tên là Khoá Phan Bội Châu) cung cấp cho Bộ Quốc Pḥng chính phủ Việt Nam 53 THIẾU ÚY hiện dịch. Đồng thời 4 TIỂU ĐOÀN VIỆT NAM đầu tiên cũng được khởi sự thành lập tại 2 miền Nam và Bắc Việt Nam:

-Tiểu đ̣an 1 VN (Bặc Liêu),

-i ểu đ̣an 2 VN (Thái B́nh ),

-Tiểu đ̣an 3 VN (Rạch Gía ),

-Tiểu đ̣an 4 VN (Hưng Yên)

(Bản thân người viết được cái vinh dự là một trong số 53 S quan Hiện dịch tốt nghiệp Khóa đầu tiên nêu trên, và được bổ nhiệm về Tiểu đoàn 2 VN tuyển mộ thành lập tại Hà Nội và Hải Pḥng từ ngày 1-6-1949, huấn luyện xong vào khoảng tháng 10-1949 tập trung tất cả về Hà Nội, và khởi sự xuất phát đi hành quân tại các vùng Bắc Ninh, Hoà B́nh, Đông Triều, Hưng yên, rồi tiến sang tỉnh Thái B́nh trụ quân tại đó ít lâu sau lại di chuyển về Sơn Tây, Hà Đông...).

Đến tháng 6 năm 1950, với sự thoả thuận của QUỐC HỘI PHÁP và sự thông báo chính thức của CHÍNH PHỦ HOA KỲ đồng ư cung cấp viện trợ Quân sự cho Việt Nam, Thủ Tướng TRẦN VĂN HỮU mới chính thức công bố thành lập QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM CHỐNG CỘNG SẢN, với quân số 60,000 người, chia ra phân nửa CHỦ LỰC QUÂN và phân nửa PHỤ LỰC QUÂN.

Hai năm sau khi thi hành Hiệp Ước Đ́nh Chiến Genève tháng 7 năm 1954, không có tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất 2 miền Bắc và Nam Việt Nam như quy định. Tại miền Nam Việt Nam, nhân dân đồng ḷng qua một cuộc “Trưng cầu Dân ư truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại ” để thành lập nước VIỆT NAM CỘNG H̉A và ủy nhiệm ông NGÔ Đ̀NH DIỆM làm Tổng Thống, ông này đă quyết định cải danh QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM thành QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

II.- V́ Sao Chọn 19 Tháng 6 Làm Ngày Quân Lực?

Suốt từ khi Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập dưới thời Quốc trưởng BẢO ĐẠI, qua thời Ông NGÔ Đ̀NH DIỆM làm Tổng Thống đổi tên là Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Đến khi giới quân nhân lên cầm quyền danh hiệu này được đổi lại là Quân Lực VNCH. Cả 2 vị Nguyên thủ Quốc gia này đều chỉ thị Bộ Tổng Tham Mưu nghiên cứu đề nghị một NGÀY KỶ NIỆM RIÊNG CHO QUÂN LỰC, để hàng năm tổ chức biểu dương lực lượng cho mọi người thấy được sự lớn mạnh của Quân Lực Việt Nam, và ghi nhớ công ơn các TỬ SĨ (Quân đội và Đồng bào các giới) đă VỊ QUỐC VONG THÂN để bảo vệ Tự do Dân chủ Nhân quyền Phồn vinh Hạnh phúc cho Dân tộc và sự toàn vẹn lănh thổ Thống nhất của Quốc gia Việt Nam. Nhưng chưa cuộc nghiên cứu nào được hoàn tất, th́ các biến cố thay đổi lịch sử thời đại đă tiếp theo nhau xẩy ra trên đất nước Việt Nam thân thương của chúng ta.

Cho tới ngày 19 tháng 6 năm 1965, QLVNCH chính thức nhận viết một trang sử mới, lănh trách nhiệm với toàn DÂN đứng ra thành lập Chính phủ điều hành quản trị đất nước theo h́nh thức JUNTA (Có Ủy ban Lănh đạo Quốc gia, Chủ Tịch giữ vai tṛ QUỐC TRƯỞNG, và Ủy ban Hành pháp Trung ương, Chủ Tịch giữ vai tṛ Thủ Tướng), rồi cải tiến nền ĐỆ NHẤT CỘNG HOÀ (theo mô thức Hoa Kỳ, Tổng Thống đích thân điều hành chính phủ) sang nền ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ (theo mô thức Pháp, dưới Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thêm Thủ Tướng điều hành chính phủ), th́ Tướng NGUYỄN VĂN THIỆU, Chủ Tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia, mới ban hành văn kiện chính thức quy định ngày 19 THÁNG 6 là ngày kỷ niệm hàng năm của Quân lực Việt Nam Cộng hoà.

III.- Những Kỷ Niệm Khó Quên Của Riêng Người Viết về Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19 Tháng 6.

Mỗi lần kỷ niệm NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6, mỗi người tùy theo hoàn cảnh riêng đều ghi nhớ những kỷ niệm khác nhau. Phần cá nhân Tôi được may mắn phục vụ lâu năm trong các Cơ Sở Trung Ương, thống thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tại Saigon, nên ghi nhận được nhiều kỷ niệm đặc biệt, mà các chiến hữu phục vụ tại các địa phương, cũng như các Đồng bào ít quan tâm đến các sinh hoạt QUÂN ĐỘI không thấy được. Vậy Tôi xin kể ra đây để Qúy độc giả cùng chia sẻ những điều thích thú đó:

A.- 19 tháng 6 năm 1966, kỷ niệm NGÀY QUÂN LỰC lần đầu tiên, cũng là ngày kỷ niệm một năm hoạt động của Chính phủ NGUYỄN CAO KỲ, nên ĐẠI HỘI ĐỒNG QUÂN LỰC e ngại nếu tổ chức rềnh rang giữa Thủ đô Saigon, th́ có thể bị BÁO CHÍ và các NHÓM ĐỐI LẬP phê phán là phung phí, kiêu binh, nên đă tổ chức rất khiêm tốn trong lănh địa của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH (Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhất). Một số Đơn vị đại diện Hải, Lục, Không quân thuộc Chủ lực Quân, Địa phương quân, Nghiă quân, và Cảnh sát Quốc gia, được điều động về tham dự trong tinh thần đoàn kết HUYNH ĐỆ CHI BINH thắm thiết. (Lúc đó Tôi là Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Trung Ương Địa phương quân và Ngh a quân, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tại Saigon, do Đại tá Trương văn Xương làm Chỉ huy trưởng.) Đặc biệt trong cuộc duyệt binh này, có một h́nh ảnh rất ngộ nghĩnh dễ thương không bao giờ quên được là, Tướng VĨNH LỘC cùng Bộ Tham mưu Quân đoàn II từ PLEIKU về tham dự, ai cũng choàng ra ngoài bộ quân phục chiếc áo SẮC PHỤC THƯỢNG miền Cao nguyên Trung phần Việt Nam, và ngồi trên lưng những con ngựa vùng Cao nguyên nhỏ thó, chớ không ngồi trên những chiếc xe Chỉ huy có cần Ăng-ten như các vị Tư lệnh khác.

B.- Năm 1967, để cùng toàn dân hân hoan đón mừng NỀN ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ sắp ra đời vào tháng 10, NGÀY QUÂN LỰC kỷ niệm lần thứ 2 được tổ chức rầm rộ trên Đại lộ TRẦN HƯNG ĐẠO, suốt từ dọc Bến Bạch Đằng trước Bộ Tư lệnh Hải quân, qua Công viên Quách thị Trang trước chợ BẾN THÀNH Saigon vào tận CHỢ LỚN. Một đặc điểm đáng ghi nhớ về ngày kỷ niệm Quân lực lần thứ 2 này là, việc xây dựng đồng loạt những Tượng đài THÁNH TỔ các Quân Binh Chủng và Ngành chuyên môn trong QLVNCH, Địa phương quân - Nghĩa quân, và Cảnh sát Quốc gia, tại tất cả các Công viên lớn trong Thủ đô SAIGON, để Đồng bào và Du khách ngoại quốc có dịp ghé Saigon chiêm ngưỡng chụp h́nh kỷ niệm.

Việc xây dựng các Tượng đài này c̣n có mục đích quan trọng khác là chiếm hết các công viên lớn, để các nhóm chống đối Chính Phủ hồi đó, không c̣n nơi dựng các đài kỷ niệm hay h́nh tượng các cuộc tranh đấu và các nhân vật họ tung hô, thần thánh hoá.


Tượng danh Tướng Trần Nguyên Hăn, Thánh Tổ Binh chủng Truyền Tin
QLVNCH xây dựng tại công viên ngay phía trước chợ Bến Thành, Saigon.

C.- Sau Quốc hận 30-4-1975, vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 tại Saigon đă xẩy ra một sự việc thật quan trọng không bao giờ quên được là, CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM không được phép tổ chức lễ quy mô, trọng thể để vinh danh hơn 1OO VỊ TỬ ĐẠO VIỆT NAM ĐƯỢC PHONG THÁNH theo lệnh của Toà Thánh Vatican, chỉ v́ ngày 19 tháng 6 là ngày kỷ niệm của QLVNCH thuộc Chế độ Saigon cũ. (Đây là lời của Đại diện Chính quyền cộng sản địa phương giải thích cho một vị Linh Mục cư ngụ tại Nhà Thờ 3 Chuông (Saint Thomas) Phú Nhuận, Saigon. Ngài đă nói lại cho biết nhân dịp Tôi ghé thăm và tâm t́nh về các truyện thời sự). Vị Linh mục khả kính này quen Tôi từ hồi c̣n bị giam chung trong Trại Z30D quận Hàm Tân tỉnh Thuận Hải. Ngài nguyên là Giáo sư thuộc một Ḍng tu của Thiên Chúa Giáo tại Thủ Đức trong lănh thổ tỉnh Gia Định, bị giam cả chục năm trời chỉ v́ một tội “âm mưu vượt biên” mà chính quyền địa phương gán cho Ngài. Thực ra Ngài không bao giờ có ư định vượt biên, mà chỉ cải trang mặc đồng phục cán bộ Việt cộng, để di chuyển được dễ dàng đến các nơi xa xôi hẻo lánh gặp “con chiên” thừa hành Mục vụ theo chức năng Linh mục mà thôi.

D.- Suốt 20 năm qua, định cư tỵ nạn cộng sản tại khu Little Saigon Quận Orange Nam California (T ủ đô n ần ủ ngườ ỵ nạn ng ản),

có dịp được tham gia nhiều kỳ tổ chức Lễ kỷ niệm NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6, Tôi đă ghi nhận được một số kỷ niệm xúc động không sao quên được sau đây:

D1- Năm 1994, Tổng Hội Ái hữu Chiến tranh Chính trị QLVNCH Hải ngoại tại Nam California, được các Hội đoàn Ái hữu Quân đội các Quân Binh chủng khác ủy nhiệm đứng ra phối hợp tổ chức NGÀY QUÂN LỰC tại GARDEN GROVE PARK, rất rầm rộ, có phi cơ bay trên nền Trời Quận Orange kéo theo Đại kỳ Việt Nam Cộng Hoà (nền vàng 3 sọc đỏ), có Cựu chiến binh Hoa Kỳ nhẩy dù xuống ngay vị trí hành lễ mang theo Quốc kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà. Buổi lễ được rất đông Đồng hương tỵ nạn CSVN hưởng ứng tham dự, điều này chứng tỏ rằng T̀NH QUÂN DÂN CÁ NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ chưa hề phai lạt sau bao nhiêu năm lưu vong. Một hiện tượng khác cũng rất đặc biệt là, lần đầu tiên được cả chục vị Tướng nguyên thuộc Hải, Lục, Không quân QLVNCH và Phu nhân, đang cư ngụ tại các vùng thuộc Quận Orange, Quận Los Angeles, và Quận Riverside cũng đến tham dự. (Lúc đó Tôi là Phó Chủ tịch Ngoại Vụ của Ban Chấp hành Tổng Hội Ái hữu Chiến tranh Chính trị Hải ngoại tại Nam California, do cố Trung tá Nguyễn Ngọc Thông làm Chủ tịch Tổng hội.)

D2- Năm 1995, Hội Ái hữu Cựu Sinh viên Sĩ quan Trường Vơ bị QGVN Nam California, đến lượt được giao trách nhiệm phối hợp tổ chức NGÀY QUÂN LỰC, đồng thời vận động thành lập LIÊN HÔI CỰU CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG H A NAM CALI ORNIA. Liên Hội đă được thành lập và Ngày Quân lực được tổ chức tại Công viên trước Toà Thị Chính Thị xă Westminster. Lần đầu tiên trong lịch sử tỵ nạn cộng sản tại Nam Cali ornia, người ta thấy lá QUỐC K VIỆT NAM CỘNG H̉A được trang trọng kéo lên song hàng với lá QUỐC K HOA K , ngay tại các cột cờ danh dự trước Toà Thị Chính của Thị xă Westminster, mặc dù Chính phủ Hoa Kỳ đă lập bang giao với cộng sản Việt Nam. Nhân dịp này, Hội đồng Nghị viên Thành phố Westminster cũng đă đọc bản QUYẾT NGHỊ công nhận NGÀY QUÂN LỰC VNCH 19 THÁNG 6 là một biến cố được ghi thêm vào danh sách các ngày kỷ niệm của Thành phố Westminster. Các sự kiện này đă làm Tôi và mọi người có mặt trong buổi lễ, xúc động nghẹn ngào, rưng rưng lệ, xót xa cho hoàn cảnh đại nạn của dân tộc VIỆT NAM chúng ta ở trong nước, đang c̣n phải chịu đựng sự cai trị tàn bạo vô nhân đạo của Đảng và Bạo quyền Việt cộng. Đài phát thanh BBC bên Anh quốc, cũng loan tin phóng sự buổi lễ này trong giờ phát thanh tiếng Việt của họ về Việt Nam, cho mọi người trong nước và trên toàn Thế giới cùng biết.


Nguyễn-Huy Hùng (Khoá 1, Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam)

D3- Đặc biệt năm 1999, ông FRANK FRY Thị trưởng của Thành phố Westminster được mời đến tham dự NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6, trong lời phát biểu ư kiến ông đă kêu gọi phát động việc gây quỹ xây dựng tại Thị xă Westminster một TƯỢNG ĐÀI KỶ NIỆM CÁC CHIẾN BINH HOA K VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ đă hy sinh trong cuộc chiến chống cộng sản để bảo vệ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho dân tộc Việt Nam trước 30 tháng 4 năm 1975.

Ông ta hăng hái làm việc này để giữ lời hứa với cử tri người MỸ GỐC VIỆT từ mùa Thu năm 1996, lúc ông ta đến vận động tranh cử chức Thị trưởng tại Trung tâm sinh hoạt người Việt Quốc gia trên đường Moran bên hông thương xá Phước Lộc Thọ khu Little Saigon, nhân buổi lễ bàn giao trách vụ Chủ Tịch Khu Hội Cựu Tù nhân Chính trị Nam California giữa

Giáo sư Phan Ngô (tiền nhiệm) và Tôi (Nguyễn-huy Hùng tân nhiệm), trước sự hiện diện đông đủ các Hội trưởng thuộc Liên hội Cựu Chiến sĩ VNCH Nam California, Đại diện các Đoàn thể và Đảng Chính trị Việt Nam lưu vong, một số Nhân sĩ Hoa Kỳ, Mỹ gốc Việt, và khoảng 300 anh chị em Cựu Tù nhân Chính trị thuộc Khu Hội Nam California.

Theo dự tính th́ Tượng đài phải hoàn tất và khánh thành vào Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 2000. Nhưng v́ công tŕnh này làm mất thể diện và giảm uy tín của Bạo quyền Việt cộng trước dư luận Thế giới một cách trầm trọng, nên Toà Tổng Lănh sự Việt cộng tại San rancisco và Toà Đại sứ của chúng tại Hoa Thịnh Đốn đă chính thức gửi văn thư đến Chính quyền Hoa Kỳ lên tiếng phản đối, đồng thời xúi giục bầy mưu cho bọn tay sai trở cờ đón gió muốn hoà hợp hoà giải với chúng, t́m đủ mọi cách gây cản trở làm tŕ trễ các tiến tŕnh thực hiện tại Thị xă Westminster. Nhưng, với quyết tâm của mọi người (t rong đó có các  vị ĐẠI DIỆN DÂN CỬ thuộc Tiểu bang California và  Liên bang Hoa Kỳ) mọi khó khăn đă được giải quyết vượt qua một cách ổn thoả, chỉ có tiến tŕnh thực hiện là không hoàn thành được đúng thời hạn như mong muốn mà thôi.

Ngày 20 tháng 1 năm 2001 (tức là ngày 26 tháng Chạp năm Canh Th́n), tại khu đất Thị xă Westminster dành để xây dựng Tượng đài Chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà, Tổng Hội Sinh viên Nam California đă tổ chức Hội chợ Tết Tân Tỵ (2001), trong chương tŕnh Lễ Khai mạc Hội chợ có ghi một mục quan trọng chính yếu là Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Tượng đài. Rất đông Đồng hương Việt Nam và Hoa Kỳ cùng các vị Dân Cử và Giới chức Công quyền Hoa Kỳ địa phương đến tham dự.

Năm 2002, mọi thủ tục hành chánh và kỹ thuật được hoàn tất đúng theo đ̣i hỏi. Trong một buổi họp công khai trước sự hiện diện của quần chúng, Hội đồng quản trị thị xă Westminster đă biểu quyết chấp thuận cho khởi công xây cất Tượng đài. Việc đấu thầu lựa chọn công ty đảm nhiệm xây cất được thực hiện kỹ lưỡng, và ngày 29 tháng 4 năm 2002, thị xă Westminster và Ủy ban xây dựng tượng đài long trọng tổ chức “Lễ xới đất” khởi công xây dựng khu CÔNG VIÊN TỰ DO. Ngày 23 tháng 9 năm 2002, pho tượng

2 Chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà được di chuyển từ xưởng đúc của điêu khắc gia Nguyễn Tuấn tại Laguna Beach về thị xă Westminster, để an vị trên đài nơi chính giữa CÔNG VIÊN TỰ DO (Sid Goldstein Freedom Park) đường All American Way (tên cũ là đường Monroe).

Năm 2003, Lễ khánh thành CÔNG VIÊN TỰ DO, trong đó có TƯỢNG ĐÀI CHIẾN BINH HOA K -VIỆT NAM CỘNG HOÀ hiên ngang đứng trước 2 cột cao trương cờ Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng ḥa (nền v ng 3 ọ đỏ) tung bay, và lư hương vĩ đại với ngọn lửa thiêng bập bùng cháy quanh năm suốt ngày đêm, đă được tổ chức trọng thể vào lúc 11 giờ ngày 27 tháng 4.

Cũng kể từ ngày đó Công viên mở cửa đón khách thập phương đến chiêm ngưỡng nườm nượp quanh năm. Đây là một Tượng đài di tích lịch sử vĩ đại có một không hai trên Thế giới, được những người yêu chuộng Tự do Dân chủ Nhân quyền đóng góp hoàn thành đúng mốc thời gian giao điểm giữa 2 Thế Kỷ 20 và 21. Đặc biệt là trong số những người được Ban tổ chức mời lên phát biểu trong buổi lễ khánh thành có Tướng Lâm Quang Thi. Tượng đài Chiến binh Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng Hoà tại Thị xă Westminster đem lại niềm vinh dự lớn lao cho Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà, là biểu tượng cho gương hy sinh và tinh thần chiến đấu kiên tŕ bất khuất của những người Chiến sĩ yêu chuộng Tự do Dân chủ và Hoà b́nh của Nhân loại, và làm sáng danh CHÍNH NGHĨA của QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H A trong cuộc chiến chống cộng sản Quốc tế từ tháng 6 năm 1949 đến 30 tháng 4 năm 1975 trên đất nước Việt Nam, tiền đồn của Thế giới Tự do ngăn cản làn sóng cộng sản Quốc tế lan tràn xâm chiếm toàn vùng Đông Nam Á Châu và Thái B́nh Dương. Tượng đài Chiến binh Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng Hoà tại Thị xă Westminster vĩnh viễn hiện diện xuyên thời gian để nhắc nhở những ai trong quá khứ đă từng khoác áo lính Việt Nam Cộng Hoà, hay không khoác áo lính nhưng đă cùng đứng dưới lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ chiến đấu chống cộng sản xâm lăng để bảo vệ hạnh phúc cho dân tộc và sự toàn vẹn lănh thổ Việt Nam, phải luôn luôn nhớ rằng TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI QUỐC GIA DÂN TỘC VIỆT NAM CHƯA HOÀN THÀNH. Phải luôn luôn sang suốt, đừng để bả lợi danh và những tiếng nỉ non tâng bốc ngọt ngào của bọn Việt cộng gian xảo và tay sai đón gió trở cờ (kẻ thù của dân tộc) lôi cuốn, mà có những hành động và lời nói giúp cho chúng tồn tại lâu hơn nữa để tiếp tục hại dân hại nước. Hăy dứt khoát hăng hái kiên tŕ tiếp tay hỗ trợ liên tục về mọi mặt cho đồng bào trong nước, vùng lên loại bỏ bọn chúng sớm chừng nào hay chừng nấy, để cho quốc gia dân tộc Việt Nam sớm có Tự do, Dân chủ, và Nhân quyền được tôn trọng.

Cá nhân Tôi đă được cái vinh dự hoà đồng cùng hơn 20,000 đồng hương Việt Mỹ tham dự buổi Lễ Khánh thành Tượng đài vào trưa ngày 27 tháng 4 năm 2003, nên đă cảm tác mấy vần thơ kỷ niệm dưới đây, xin ghi lại để chư Vị cùng thưởng thức:

“ANH HÙNG TỬ, KHÍ HÙNG BẤT TỬ”

Quận Cam nắng Hạ chan hoà,
Bên nhau Việt Mỹ trẻ già hân hoan.
Cờ Hoa xen lẫn cờ Vàng,
Tung bay mở hội nghiêm trang đón mừng.
Tượng hai Chiến s Anh Hùng,
Hiên ngang bất tử đứng cùng thời gian.
Gương hy sinh rạng mây ngàn,
Bao năm chiến đấu gian nan v́ đời.
Tự do rạng toả nơi nơi,
Nhân quyền, Dân chủ, người người hưởng chung.
Trọng thay nghiă khí kiêu hùng,
Khác da khác giống nhưng cùng ước mơ.
Mơ toàn nhân loại an hoà,
Công bằng , bác ái, nhà nhà ấm no.
T́nh thương dâng ngát muôn hoa,
Hoà đồng Sắc Tộc Mầu Da Giống Ṇi./.

 Để thay lời kết luận, cũng đồng thời trả lời cho những ai c̣n thắc mắc, v́ sao thua trận phải lưu vong tỵ nạn mà hàng năm vẫn c̣n tổ chức kỷ niệm một Quân lực không c̣n sự hiện diện. Tôi xin phép dùng bài Thơ sau đây, nói lên tâm trạng của người Cựu Chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà:

 TRÁCH NHIỆM CHƯA HOÀN THÀNH.

Bao năm nếm mật nằm gai,
Dấu giầy đo bước sông dài, rừng sâu.
Ngày đêm lận đận ải đầu,
V́ Dân đâu ngại dăi dầu gió sương.
Dốc ḷng bảo vệ Quê hương,
Chống loài Qủy Đỏ Bắc phương bạo tàn.
Bốn mùa chiến đấu hiên ngang,
Giúp Dân xây dựng Xóm Làng yên vui.
Trớ trêu Tai kiếp Giống ṇi,
Đồng minh phản bội, chơi vơi bẽ bàng.
Hoạt đầu Lănh tụ hai mang,
Buộc quân buông súng đầu hàng cầu vinh.
Ô danh bại Tướng bán ḿnh,
Thế gian nguyền rủa, miệt khinh đời đời.
Thương Dân bỏ xác biển khơi,
Xót Quân lao khổ, giữa nơi ngục tù.
Hận thù chồng chất Thiên thu,
Non sông tan tác, xác xơ t́nh người.
Tha phương trăn trở khôn nguôi,
Đồng ḷng hiệp sức muôn người chung lo.
Dẹp tan Cộng đảng vong nô,
Cùng nhau dựng lại cơ đồ Việt Nam./.

Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ.

NGUYỄN-HUY HÙNG (K1)

Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng hoà, Phụ tá Tổng Cục trưởng Chiến tranh Chính trị, kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến, Cựu Tù Chính trị 13 năm lao động khổ sai trong các trại cải tạo của Dảng và Nhà nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam sau ngày Quốc hận 30- 4-1975.

Sau đây là mấy tấm h́nh kỷ niệm chụp trong buổi lễ khánh thành Tượng đài Việt Mỹ tại Sid Goldstein reedom Park thị xă Westminster ngày 27 tháng 4 năm 2003.


Trong h́nh từ trái qua phải: Nguyễn-huy Hùng (K1), Lê Như Hùng (K14)
tác giả bài hát Vơ bi hành khúc của Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam.


H́nh tại khán đài chính, từ trái qua phải:Hàng đầu: Đô Đốc Trần văn Chơn, Thiếu Tướng Lư Ṭng Bá, Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Thiếu Tướng Trần văn Nhật (mặc quân phục và phu nhân)
Hàng kế sau: Chuẩn Tướng Lê văn Thân, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo (bị che lấp bởi đầu Tướng Bá, Đốc sự hành chánh Vương Quốc Quả, Đại Tá Nguyễn- Huy Hùng.


H́nh trên: Toán Quân Kỳ các Quốc gia Đồng Minh tham dự cuộc chiến tại Việt Nam và Quân Kỳ Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa.
H́nh dưới: Một trong các khán đài phụ 2 bên khán đài chính, tại khán đài này được tập trung các cựu quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa mặc quân phục các Binh chủng Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Mời xem một số h́nh ảnh Tượng đài ở các nơi khác mà các thân hữu đă chuyển cho Tôi xem qua Internet.


Tuong dai chien si Uc-Viet, Brisbane,Australia (11)

Tuong dai chien si Uc-Viet, Victoria,Australia (12)


Đai chien si Vietnam, Nannup,Australia (13)

Tuong dai chien si Uc-Viet, Aldelaide,Australia (14)

Tuong dai chien si Viet-My , Orlando, Florida (15)

Tuong dai chien si Viet-My , Bellaire, Houston


Tuong dai chien si Viet-My , Bellaire, Houston (16)

Tuong dai chien si Viet-My , Bellaire, Houston

Tuong dai chien si Viet-My , Wichita, Kansas

Tuong dai chien si Viet-My ,Arlington, Texas

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại công Veterans Park ở Arlington, Texas.

Bia đá kỷ niệm Chiến Tranh Việt Nam trên đồi núi Colorado.

Bia đá kỷ niệm Chiến Tranh Việt Nam trên đồi núi Colorado (117

"Khi mơ ước măi không thành hiện thực
Sẽ trở thành viên đá tưởng ĺ trơ
Để óc tim ta nặng trĩu không ngờ.
Ta hất xuống những thường không

Tượng tưởng niệm Thuyền Nhân tại thị xă Westminster, Khu Little
Saigon, Quận Orange, Nam Cali ornia, Hoa Kỳ.

Lể khánh thành tượng đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại thị xă Westminster, Khu Little Saigon, Quận Orange, Nam Cali ornia, Hoa Kỳ. Tượng Đài Thuyền Nhân tại Bảo Tàng Viện Hàng Hải, Oslo.


Tượng Đài Hoa Sen. (Tài liệu của CĐNV Na Uy)

NGỒI LẠI VỚI NHAU

NGUYỄN-HUY HÙNG

Trong giai đoạn hiện tại, để tỏ ra ḿnh là nhà chính khách khôn ngoan, người ta thường dùng một tiêu đề mới “NGỒI LẠI VỚI NHAU” khi muốn khuyên những người ở hai chiến tuyến đối lập giữa Việt Cộng và chống Việt Cộng “HOÀ GIẢI, HOÀ HỢP DÂN TỘC” với nhau, hoặc những người đang đứng trong cùng một chiến tuyến chống Việt Cộng “ĐOÀN KẾT” lại để cùng thực hiện tốt đẹp hơn những mục đích chung đang theo đuổi. Lối nói này được coi là nhẹ nhàng đỡ chối tai và ít xúc phạm đến tự ái của người nghe hơn, nhưng tựu chung cũng chỉ là diễn đạt cùng một ư nghiă: -Các bạn đang chia rẽ, cần đoàn kết với nhau, v́ đoàn kết th́ sống mà chia rẽ là chết.

Lời kêu gọi này gửi đến những người đang đứng trong cùng một chiến tuyến chống Việt Cộng th́ đúng và cần thiết để mọi người phải quan tâm suy nghĩ. Nhưng, lời kêu gọi này gửi đến Việt Cộng và những người chống Việt Cộng th́ là điều cần phải xét lại.

V́ qua bài học lịch sử ghi nhận được từ năm 1940 đến nay, Việt Cộng mà lănh tụ là Hồ Chí Minh của Việt Cộng lúc c̣n sống khi gặp hoàn cảnh yếu thế, Hồ Chí Minh đă nhiều lần kêu van và đă được những chính khách chính trị Quốc gia Nhân bản dù không chấp nhận thể chế Cộng sản vẫn ra tay hiệp lực cứu giúp Hồ Chí Minh thoat nạn, rồi “NGỒI LẠI VỚI HỒ CHÍ MINH tức là NGỒI LẠI VỚI VIỆT CỘNG” đoàn kết chung lo việc quốc gia dân tộc Việt Nam nhiều lần rồi.

Nhưng lần nào cũng vậy, sau khi Hồ Chí Minh và bè đảng Việt Cộng củng cố được thế lực phát khởi mạnh lên th́ lập tức chúng phản bội, tiêu diệt đồng minh để chiếm độc quyền cai trị đất nước bằng chế độ VÔ SẢN CHUYÊN CHÍNH ĐỘC ĐẢNG ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ thay cho các Tập đoàn Thực Dân Phong Kiến Quân Phiệt cũ. Toàn dân trở thành nô lệ của Tập đoàn lănh đạo chuyên chính phi nhân bất nghiă Đỏ mới, với hoàn cảnh sống c̣n tồi tệ gấp trăm gấp ngàn lần hơn dưới các thời Phong Kiến Thực Dân Quân Phiệt độc tài cũ.

Nay đảng Việt Cộng đang ở vào thế xuy thoái cực kỳ nguy hiểm, nên bè đảng Việt Cộng lại tô vẻ h́nh ảnh Hồ Chí Minh lănh tụ thần tượng của chúng là anh minh nhân nghiă hy sinh cả cuộc đời v́ quốc gia dân tộc Việt Nam, cha đẻ những tư tưởng yêu nước thương ṇi, thanh liêm chính trực, công bộc phục vụ nhân dân…(toàn là bịp bợm xảo quyệt) để bắt buộc toàn dân phải học tập để tôn xưng và lừa bịp những người nhẹ dạ ngu ngơ không có kinh nghiệm bản thân về bản chất gian ác của Việt Cộng. Trong khi đó, bè đảng Việt Cộng lại đang tiếp tục khai triển tinh vi hơn những chính sách đường lối tuyên truyền gian manh xảo quyệt lừa dối để cai trị dân do Hồ Chí Minh (HCM) học được của Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản, đặc biệt là của các quan thầy Staline và Mao Trạch Đông độc tài khát máu truyền dậy cho, th́ làm sao mà có thể tin tưởng để NGỒI LẠI VỚI CHÚNG

được. Sau đây là một vài sự kiện điển h́nh do các nhà biên khảo sưu tập ghi lại và phổ biến rộng răi qua nhiều phương tiện và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên toàn thế giới về bản chất của Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Cộng đàn em của hắn:

1.- Việt Cộng tuyên truyền rằng Bác Hồ anh minh trong sạch sống độc than trọn đời v́ Quốc gia Dân tộc, nhưng thật ra không đúng như vậy. Trong những năm thuộc Thập niên 1910, thời gian HCM long đong kiếm sống ở bên Pháp trước khi trở thành Đảng viên Cộng sản Quốc Tế, HCM đă lấy bà Bourbon làm vợ để có chỗ nương tựa nơi xứ lạ quê người, đến khi thành công HCM đă quên nghiă phụ t́nh không hề liên lạc nữa. Vào năm 1927 khi HCM đă là Đảng viên Cộng sản Quốc tế được Liên Xô Nga đưa sang Trung Quốc hoạt động gián điệp bên đồng chí Chu Ân Lai, th́ HCM đă cưới Tăng Tuyết Minh làm vợ sau đó cũng bỏ rơi. Trong những năm thuộc Thập niên 1940, khi HCM về hoạt động tại vùng Thượng du Bắc phần Việt Nam, HCM mê một cô gái hộ lư người sắc tộc trẻ tên Nông Thị Xuân, đến khi HCM được lên làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, có toàn quyền thao túng cả miền Bắc Việt Nam theo Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, th́ vào năm 1956 HCM chỉ thị em út đưa Nông thị Xuân về Hà Nội phục vụ hắn về t́nh dục. Qua năm 1957 Nông thị Xuân sinh được người con trai (nay mọi người đă nhận diện ra là Nguyễn Tất Trung). Nông thị Xuân đă năn nỉ xin HCM chính thức hoá thành vợ chồng, nhưng HCM đă phụ t́nh bạc nghiă bằng quyết định cho đàn em đang làm chức Tổng Trưởng hiếp dâm và đem thủ tiêu bằng tai nạn xe hơi tại Hà Nội. Sau đó c̣n cho giết cả gia đ́nh người thân đă cùng sống bên Nông thị Xuân tại Hà Nội để phi tang.

2.- Năm 1946, vào chiều ngày 6 tháng 3, HCM lén kư với Saintenay đại diện Pháp bản Hiệp Ước Sơ bộ tại Hà Nội chấp nhận cho quân Pháp trở lại đóng quân thong thà tại nhiều tỉnh trọng yếu của miền Trung và miền Bắc kể cả Hà Nội. Đến cuối năm, Pháp tạo áp lực lộng quyền khiến cho HCM chịu không nổi phải phát động chiến tranh “Tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp vào ngày 19 tháng 12-1946.

Nhưng v́ thế lực yếu kém nên thua, cùng đường HCM phải bỏ Hà Nội chạy vào “bưng” (rừng núi) kêu gọi toàn dân hy sinh dâng hiến người và của để ủng hộ kháng chiền chống Pháp tái xâm lăng Việt Nam. Đến năm 1953, được Trung Cộng yểm trợ huấn luyện trang bị vũ khí và cố vấn cho quân Việt Minh trở nên mạnh mẽ đương đầu với quân Pháp, th́ HCM mới bắt đầu chiến dịch đấu tố giết hại chính quảng đại quần chúng nhân dân trước kia đă hy sinh cả của cải riêng lẫn thân nhân để ủng hộ bảo vệ kháng chiến. Cả thế giới ngày nay đều biết đó là “chính sách cải cách ruộng đất” loại trừ cường hào ác bá, tiêu diệt giai cấp, vô sản hoá toàn dân để tiền lên xă hội chủ nghiă mà HCM đă học được của Staline và Mao Trạch Đông.

3.- Vào cuối năm 1945, HCM bị áp lực của Trung Hoa Dân Quốc đại diện Liên Hiệp Quốc tới giải giới quân Phiệt Nhật tại miền Bắc Đông Dương (từ Vĩ tuyến 16 trở lên), nên đă phải HOÀ HỢP với các đảng phái Quốc gia thành lập Chính phủ Liên Hiệp Quốc Cộng. Qua đầu năm 1946, sau khi HCM bắt tay với Pháp để mời quân Pháp đổ bộ lên miền Bắc và miền Trung thay thế quân Trung Hoa Dân Quốc đại diện Liên Hiệp Quốc rút ra khỏi Việt Nam, bị các đảng phái Quốc gia không Cộng sản chống đối, th́ HCM đă lập tức tung ra chiến dịch vu khống là các đảng phái Quốc gia cấu kết giúp cho Pháp trở lại Việt Nam, để bắt giết tất cả thành viên các đảng Quốc gia không theo Cộng sản nhằm chiếm độc quyền cai trị đất nước bằng chuyên chính vô sản độc tài toàn trị.

4.- Ngày 21 tháng 7 năm 1954, HCM và phe Việt Cộng kư hiệp định Genève ngưng chiến với Pháp để chia cắt đất nước Việt thành 2 phần, và HCM được quyền cai trị toàn miền Bắc Việt Nam từ Vĩ tuyến 17 trở lên. Hiệp định quy định rằng chính phủ 2 miền Nam Bắc Việt Nam không được quấy phá xâm lăng nhau bằng vơ lực. Nhưng HCM đă không tôn trọng, hắn cài lại miền Nam nhiều cán bộ Cộng sản ṇng cốt để quậy phá hăm dọa an ninh cuộc sống của quảng đại quần chúng tại miền Nam không chấp nhận thể chế Cộng sản. Các trận đánh phá bằng du kích đă được HCM cho thực hiện tại miền Nam Việt Nam kể từ cuối năm 1959, và lần lần

đưa quân miền Bắc xâm nhập miền Nam để gia tăng hành động quân sự công khai mănh liệt đến nỗi miền Nam Việt Nam phải kêu gọi Đồng Minh các nước Tư bản giúp quân và vũ khí để tự vệ chống cuộc xâm lăng của Việt Cộng. Đến ngày 27 tháng 1 năm 1973 một Hiệp Ước đ́nh chiến được kư kết tại Paris, để 2 bên Quốc Cộng tại miền Nam Việt Nam tổ chức bầu cử tự do chọn lựa thể chế chính trị như mong muốn của người dân. Hiệp Ước này cũng do chính bè đảng Việt Cộng kư với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà tại Paris. Nhưng rồi phe Quốc tế Cộng sản lại không tuân hành lời giao ước, tăng cường thêm vũ khí và cố vấn thúc đẩy ra lệnh cho Việt Cộng Bắc Việt tiếp tục xua quân ồ ạt xâm lăng miền Nam khốc liệt hơn, và v́ miền Nam không c̣n được Đồng minh yểm trợ vũ khí theo quy định của Hiệp Ước Paris, nên đă bị thua vào ngày 30-4-1975, cả nước lọt vào tay Cộng sản thống trị.

5.- Sau khi chiếm được toàn miền Nam Việt Nam và đổi tên chính quyền

Việt Cộng Bắc Việt thành Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam để cai trị cả nước từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu, th́ bè đảng Việt Cộng đă thực hiện việc san bằng giai cấp và vô sản hoá toàn dân miền Nam Việt Nam bằng nhiều h́nh thức:

a.- bắt đi tù tập trung tất cả Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà, thành viên các đảng phái Quốc gia, các trí thức, văn nghệ sĩ, kư giả, tu sĩ… không theo Cộng sản, đầy đọa buộc lao động khổ sai đến kiệt sức cho chết lần ṃn nơi rừng thiêng nước độc v́ đói khát thiếu dinh dưỡng và bệnh tật không thuốc men chữa trị.

b.- tịch thu tài sản của toàn dân bằng các chiến dịch đổi tiền, diệt tư sản mại bản, cấm đoán mọi h́nh thức kinh doanh tư nhân, lùa thân nhân những ngựi đă bị bắt đi tù tập trung vào các vùng x́nh lầy hoặc rừng hoang để buộc lao động khai phá làm vùng kinh tế mới, với mục đích chính là cướp nhà đất và của cải của họ đang có tại các thành thị để chia nhau.

c.- Đến cuối năm th́ chúng lại triệt tiêu luôn cả các công cụ tay sai mà

chúng đă nặn ra để làm chiêu bài tạo ra cuộc chiến phá hoại nội bộ miền Nam Việt Nam từ năm 1960 đến 1975, đó là các nhóm Mặt Trận Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Cộng hoà Lâm thời miền Nam. Chỉ cần một số ít sự kiện trên đây thôi, cũng đă đủ chứng minh cho thấy rằng Hồ Chí Minh và bọn Việt Cộng đàn em của hắn là đảng Việt Cộng bây giờ, toàn là nhóm người có bản chất gian manh xảo quyệt lừa đảo phi nhân bất nghiă chỉ đấu tranh v́ quyền lợi của bè nhóm đảng Việt Cộng, chứ không phải là hạng chính nhân quân tử đầy t́nh người lo cho dân cho nước như chúng ta, mà có thể QUÊN ĐI QUÁ KHỨ tàn bạo của chúng để NGỒI LẠI HOÀ GIẢI rồi HOÀ HỢP DÂN TỘC với chúng được.

Để thay lời kết luận,

Chắc mọi người chúng ta chưa quên, thuở thơ ấu khi c̣n cắp sách đến trường cấp Tiểu học, đă được học trong môn Luân Lư và nghe giảng giải về câu truyện ngụ ngôn Tây phương “CON CHÓ SÓI VÀ CÔ BÉ QUÀNG KHĂN ĐỎ”.

Tóm lược đại ư câu truyện Tôi c̣n nhớ được như thế này: Trong mùa đông giá lạnh thiếu thực phẩm, con sói già lang thang trong đường rừng để kiếm mồi. T́nh cờ trông thấy một cô bé nhỏ quàng khăn đỏ đang đi một ḿnh. Thay v́ nhẩy xổ ra cắn xé ăn thịt cho đă cơn đói, th́ con sói già gian manh đă có một mưu mô thâm độc là phải làm sao thăm ḍ được về gia cảnh và nơi cư trú của gia đ́nh cô bé, ḥng sau khi ăn thịt cô bé rồi, nó sẽ ṃ đến nhà ŕnh rập tiả thịt từng người để sống no đủ trong những ngày kế theo. Nó bèn cải trang thành một người già ngồi bên đường, chờ khi cô bé tới, nó vồn vă chào hỏi tăng bốc cô bé xinh đẹp duyên dáng can đảm đi đâu một ḿnh giữa rừng trong mùa đông giá lạnh vậy?

Cô bé thấy ḿnh được ca ngợi là xinh đẹp duyên dáng can đảm th́ thích lắm, nên ngây thơ thành thật trả lời là đem thực phẩm đến thăm nom bà ngoại đang bệnh nằm liệt giường một ḿnh trong căn nhà riêng ở phiá bên kia b́a rừng. Con sói thêm lời ca ngợi là cô bé hiếu thảo phúc hậu quá, và khuyên cô bé cứ thong thả nhẩn nha mà đi đến nơi về đến chốn được bằng an. Rồi chờ khi cô bé tiếp tục đi chưa được bao xa, nó liền lén chạy đường tắt đến nhà bà ngoại trước cô bé. Nó cải trang thành cô bé quàng khăn đỏ và nhại giọng nói của cô bé để gọi cửa vào nhà.

Vừa vào đến bên giường người bệnh con sói nhẩy chồm lên cắn xé ăn thịt bà cụ. Xong bữa, nó lại cải trang thành bà già nằm đợi cô bé quàng khăn đỏ tới. Một lúc lâu sau cô bé tới gơ cửa, con sói già bèn nhại giọng của bà ngoại trả lời là cửa không đóng con cứ đẩy ra mà vào đi. Khi cô bé vừa vào đến gần giường, con soí bèn vồ cô bé để ăn thịt nốt cho bơ những ngày chịu đói rét trong rừng vừa qua.

Sau khi đọc qua câu truyện trên đây, th́ chắc chắn trong chúng ta không ai lại khờ dại muốn làm cô bé quàng khăn đỏ. Và sau khi đă duyệt lại những sự kiện lịch sử tóm lược trên đây, chắc mọi người cũng phải thận trọng suy nghĩ kỹ càng xem, có nên NGỒI LẠI VỚI NHAU để HOÀ GIẢI RỒI HOÀ HỢP DÂN TỘC với bè đảng vong nô bán nước hại dân Việt Cộng không? Phương sách khả thi nhất theo thiển ư là, chúng ta, những người Việt đang lưu vong tỵ nạn Cộng sản trên toàn thế giới hăy ḥa hợp đại đoàn kết bên nhau tiếp tay hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho đồng bào trong nước có thời cơ thuận lợi dũng cảm vùng lên lật đổ bạo quyền Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam và bè lũ đảng Việt Cộng gian manh bán nước buôn dân đang lệ thuộc Tầu Cộng, để giành lại các quyền tự do căn bản của người dân và thành lập một chính quyền dân chủ đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập b́nh đẳng, tôn trọng bảo vệ các quyền tự do căn bản và cuộc sống b́nh đẳng hạnh phúc của con người.

Cầu xin Ơn Trên Trời Phật Thượng Đế và Anh linh các Anh Hùng Liệt Nữ dóng giống Tiên Rồng Việt Nam phù trợ cho tất cả chúng ta có đủ sáng suốt để hành động theo con đường chính nghiă, nhằm mạnh mẽ tiếp tay cứu được dân tộc Việt nam sớm thoát khỏi ách cai trị độc tài tàn bạo phi nhân bội nghiă của phe nhóm đảng Việt Cộng và bạo quyền Xă hội Chủ nghiă Việt Nam bán nước hại dân hiện tại.

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà,

Phụ tá Tồng cục trưởng Chiến tranh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến, Cựu tù nhân chính trị 13 năm lao khổ trong các trại tập trung cải tạo của đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam sau ngày Quốc hận 30-4-1975.

Khu hội Cựu Tù nhân chính trị Nam California phối hợp cùng các Đoàn thể trong Cộng đồng tổ chức Tưởng niệm THÁNG TƯ ĐEN tại Khu Little Saigon. Trong h́nh từ trái qua phải: Đại Tá Phạm văn Thuần (Chủ tịch Khu hội Los Angeles), Đại Tá Nguyễn-Huy Hùng (Chủ tịch Khu hội Nam Cali), các Nhân sĩ Hội đồng Li


          

LỜI PHÁT BIỂU của NGUYỄN-HUY HÙNG
TRONG BUỔI LỄ CHÀO CỜ VNCH ĐẦU THÁNG 10-2008
TẠI TƯỢNG ĐÀI VIỆT-MỸ, THỊ XĂ WESTMINSTER
.
 

 

Kính chào Quư Vị,

Mến chào Quư Chiến hữu.

Hôm nay, Tôi được cái vinh dự đến góp mặt trong buổi chào Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà vào mỗi đầu tháng nơi Tượng đài Việt -Mỹ tại thị xă Westminter này là lần thứ tư.

Lần thứ nhât, Tôi được vinh dự đến tham dự lễ khánh thành Tượng Đài với khoảng hơn 20 ngàn đồng hương Việt Nam lưu vong tỵ nạn Cộng sản và các than hữu Hoa Kỳ người bản xứ, vào trưa ngày 27 tháng 4 năm 2003.

Lần thứ hai, vào dịp Hội Cựu Chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng Hoà Nam California do Đại Tá Trần Ngọc Thống làm Hội trưởng tổ chức, nhân dịp kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 6 vào năm 2004.

Lần thứ 3, vào dịp Chương tŕnh phát thanh Sống Trên Đất Mỹ của ông Vạn Vơ và Chương tŕnh Ky Tô hữu do ông Nguyễn Xuân Tùng làm Giám đốc, phối hợp với Khu hội Cựu Tù Nhân Chính trị Nam California và các Hội đoàn khác tổ chức vào cuối tháng 4 năm 2005 để tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30-4-1975.

Và hôm nay là lần thứ tư, do Ủy ban phụ trách chào cờ đầu tháng nơi Tượng đài, phối hợp với Khu hội Tù nhân Chính trị Nam California tổ chức, để tưởng niệm cố Tổng Thống nền Đệ nhị Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam Nguyễn văn Thiệu đă quy tiên vào ngày 29-9-2001, tức là cách nay đă 7 năm tṛn.

Đặc biệt lần này, Tôi được thêm cái vinh dự là được ban tổ chức yêu cầu ra đây bầy tỏ đôi điều tâm sự, với tư cách là người bạn đă cùng tốt nghiệp Khoá 1 Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam vào ngày 1 tháng 6 năm 1949 với cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.

Kính thưa Quư Vị và Quư Chiến hữu,

Mỗi người được sinh ra trên đời này đều là do quyền uy tạo dựng của Thượng Đế, hay người ta thường gọi một cách nôm na là Ông Trời, và cũng v́ thế nên mỗi người cũng đă được Ông Trời định cho một trách nhiệm phải góp phần với loài người trong thời gian sống tại Dương Thế, không ai có thể cải sửa được cái định mệnh mà Ông Trời đă dành riêng cho đó.

Ngoài ra, chúng ta ai cũng biết rằng Ông Trời cũng tạo cho con người bản chất tinh khôn linh hơn vạn vật, nhưng cũng đồng thời lại buộc con người phải luôn luôn tự phấn đâu chống lại sự cám dỗ của ba cái tật xấu là THAM SÂN SI để vươn lên, sống sao cho hợp với Chính nghiă Đạo Trời là Nhân, Nghiă, Lễ, Trí, Tín, và Trung.

Chẳng thế mà các Cụ xưa thường hay nói rằng NHÂN VÔ THẬP TOÀN, mỗi khi muốn góp lời khuyên giải người nào đó đang buồn nản v́ gặp phải cảnh người khen kẻ chê về kết quả những việc làm của ḿnh. Những người nào có cơ duyên được ḿnh giúp cho có cơ hội tiến lên hưởng nhiều may mắn hơn người khác th́ hết lời khen ḿnh là người tốt, c̣n những kẻ gian ngoan vị kỷ muốn có cơ hội để lợi dụng kiếm chác nhưng không được ḿnh thoả măn th́ lại t́m hết mọi cách để dè bỉu nói xấu ḿnh.

Chẳng hạn như hôm nay, chúng ta tổ chức giây phút tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lần thứ bẩy này, th́ sẽ có người khen là phải và cần thiết đối với một cựu chiến binh Quân lực Việt Cộng Hoà, đă từng cùng đồng đội theo con đường Chính Nghiă hy sinh lặn lộn cả đời trong gian nguy để bảo vệ dân tộc và đất nước Việt Nam. Nhưng cũng có những người đă từng đến cầu cạnh xin cơ hội để gây thanh thế cá nhân và tạo lợi ích riêng cho phe nhóm, không được thoả măn th́ lại phê b́nh rằng, làm Tổng Thống mà để mất cả miền Nam Việt Nam vào tay Việt Cộng vào ngày 30-4-1975 và bỏ chạy ra ngoại quốc lánh nạn, th́ có ǵ mà phải tưởng niệm… Những lời phê phán này cũng chỉ phát xuất theo cá tính trần tục vị kỷ thấp hèn thiển cận của con người, chúng ta không nên quan tâm về những lời phê phán đó.

Hôm nay chúng ta tề tựu nơi đây để cùng hiệp tâm nhớ ơn và cầu xin Trời Phật Thượng Đế độ tŕ cho Hương Linh các Anh Hùng Liệt Nữ Việt Nam và các nước Đồng Minh đă tiếp tay chúng ta trong trận chiến chống Cộng sản xâm lăng đất nước Việt Nam trong cuộc chiến ư thức hệ Quốc Cộng suốt thởi gian mấy chục năm trường cho đến ngày Quốc hận 30-4-1975, trong đó có cố Chiến hữu Nguyễn văn Thiệu đă từng làm Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà, được măi măi hưởng an b́nh nơi miền Vĩnh Cửu.

Riêng cá nhân Tôi xin tŕnh bầy là Tôi rất cảm phục cố chiến hữu Nguyễn văn Thiệu. Tôi đă có nhiều dịp tiếp xúc trong nhiều hoàn cảnh và môi trường khác nhau, trong thời gian cùng là Sinh viên Sĩ quan tại Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam, trong các buổi họp tham mưu tại những nơi làm việc như tại Bộ Tham mưu Quân Khu 2 ở Huế, Trường Vơ bị tại Đà lạt, tại các văn pḥng riêng của Tư lệnh Sư đoàn, Tham mưu truởng Liên quân, và sau này là Chủ tịch Úy Ban lănh đạo Quốc gia, rồi Tổng Thống, trong các buổi ăn uống hàn huyên họp bạn cùng khoá, những dịp thăm viếng riêng với tư cách bạn bè cùng khoá tại tư gia… Tôi đều nhận thấy cố Chiến hữu Nguyễn văn Thiệu là người rất chân thành mộc mạc nhân hậu tốt bạn, với đầy đủ những đức tính của một con người chân chính gương mẫu giầu nghị lực.

Hôm nay chúng ta tụ họp nơi đây để cùng bầy tỏ ḷng nhớ thương và kính phục đối với người cố chiến hữu Quân lực Việt Nam Cộng Hoà Cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, đă được Thiên Chúa thương xót gọi về nước Chúa. Chúng ta cũng mừng cho ông đă thoát được mọi nghiệp chướng trần gian và vĩnh viễn hưởng an lành nơi miền Vĩnh Cửu từ mấy năm nay. Trong khi chúng ta đang c̣n mang nặng trên hai vai gánh nợ đời, phải ngày đêm vất vả lo toan tiếp tục xả than để trả măi mà chưa hết.

V́ thế, chúng ta hăy hiệp tâm chân thành cầu xin anh linh cố Chiến hữu Nguyễn văn Thiệu cùng anh linh các Anh Hùng Liệt Nữ ḍng giống Tiên Rồng Việt Nam, và anh linh các Anh hung Tử sĩ bạn Đồng minh của Việt Nam Cộng Hoà, hỗ trợ cho chúng ta luôn được sáng suốt HOÀ HỢP ĐOÀN KẾT bên nhau, để tiếp tục công cuộc hỗ trợ cho đồng bào Việt nam ở trong nước có những thời cơ và hoàn cảnh thuận lợi hơn, để có thể đồng tâm hiệp lực vùng lên sớm lật đổ được bạo quyền Việt Cộng, giành lại được các quyền căn bản của người dân trong một nước độc lập phải được hưởng và bảo vệ, như chúng ta và thân quyến chúng ta đang được hưởng trên đất nước Hoa Kỳ Quê hương thứ hai quư yêu này.

Cám ơn Quư Vị và Quư Chiến hữu đă lắng nghe,

Kính chào Quư Vị và Quư Chiến hữu.

NGUYỄN-HUY HÙNG.

Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính tri kiêm Chủ nhiệm Nhậ báo Tiền Tuyến, Cựu tù nhân chính trị, 13 năm lao động khổ nhục trong các trại tập trung cải tạo của Đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt nam, sau ngày Quốc hận 30-4-1975.

 

 Phỏng Vấn Đặc biệt của Việt Luận:
Chúng ta có thể rút ra được bài học ǵ từ biến cố 30/4/1975?

 

LTS: Ngày 30.4.1975 là ngày đáng nhớ nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Ngày mà ḍng sinh mệnh dân tộc thay đổi hẳn, bị họng súng của nền chuyên chính vô sản áp giải vào kỷ nguyên của tối tăm, đói nghèo, tụt hậu và tan vỡ niềm tin. Ngày mà, ít hay nhiều, ở những cấp độ khác nhau, nền chuyên chính đổi đời hàng chục triệu người, từ cảnh ly tán, tan nát tương lai, tan nát gia đ́nh hay tù đày, chết chóc, mất quê hương v.v...

“History repeats itself because nobody listens” - Lịch sử lập lại v́ người ta không biết học hỏi; nhà văn Mỹ Laurence Peter đă nhận định như thế và chúng ta đă học được ǵ

từ cái ngày đó? Ngày 30.4.2008 sắp tới gần và Việt Luận đă phỏng vấn một số nhân vật như Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Phan Văn Song, Vũ Ngọc Tấn, Nguyễn Gia Kiểng, Steve B. Young, LM Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Khắc Toàn, GS Vũ Quốc Thúc, Cựu Đại tá Nguyễn Huy Hùng, Trần Thanh Hiệp, Bùi Tín v.v... Loạt bài phỏng vấn này lần lượt được đăng tải làm ba kỳ: tuần rồi (thứ sáu 18/4), tuần này và tuần tới. Kính mời quư bạn đọc theo dơi.

Cựu Đại tá NGUYỄN-HUY HÙNG, Nguyên Phụ tá Tổng Cục Trưỡng Tổng Cục Chiến Tranh Chính-Trị kiêm chủ-nhiệm Nhật-Báo TIỀN TUYẾN

Đây là câu hỏi mà nhiều người đă đưa ra từ hơn 30 năm nay, mỗi lần 30 tháng 4 Dương lịch đến hàng năm. Người ta đă đặt câu này ra với mọi giai cấp xă hội thuộc các nước trên toàn thế giới, chứ không riêng cho những người Việt Nam đang lưu vong tỵ nạn Cộng sản mà thôi.

Mỗi người đă có những câu trả lời khác nhau, tùy theo khả năng hiểu biết và sự liên hệ của mỗi người trong lănh vực chuyên môn và giai cấp xă hội của riêng họ.

Theo thiển kiến, th́ những khiá cạnh mà mỗi người đă trả lời cũng chỉ hầu như nhắc lại những khiá cạnh đă dẫn đến biến cố 30-4-1975, mà bản thân người đó đă từng là một nhân chứng hoặc đă có dự phần, rồi đưa ra những đề nghị chủ quan về những ǵ họ nghĩ là nên hành động trong hiện tại và tương lai một cách khôn ngoan hơn, để đừng rơi vào những thất bại quá khứ, cũng như t́m cách hàn gắn cho những vết thương do biến cố 30-4-1975 đă gây ra được lành hẳn mà thôi.

Do đó, Tôi không lập lại những ǵ đă được những người khác tŕnh bầy.

Theo nhận xét nông cạn và rất b́nh dân riêng của Tôi th́, bài học mà chúng ta có thể rút ra từ biến cố 30-4-1975 là, Quốc gia cần có một chính sách giáo dục nhân bản, để mọi người dân có đủ tri thức mà nhận định thấy được cái ác và cái thiện, điều phải và điều trái, cái nên và cái không nên, lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân, và đặc biệt là phải biết tự tin và suy nghĩ quyết định thật sáng suốt về quyền lợi và trách nhiệm hành động của mỗi cá nhân trong xă hội.

Một vài thí dụ chứng minh,

Nếu Hồ Chí Minh không ngu tối mù quáng chấp nhận làm tay sai cho Quốc tế Cộng sản do Lenine sáng lập, và do Staline, Mao Trạch Đông thực hiện trên đất nước Nga và Trung Hoa, rồi kiên tŕ ngoan ngoăn tuân theo lệnh các quan thầy đem vào thực hiện trên đất nước Việt Nam, th́ làm ǵ có cuộc chiến tranh ư thức hệ trên quê hương đất nước Việt Nam, làm hao tổn xương máu của bao nhiêu triệu sinh linh vô tội của giống ṇi Việt Nam.

Nếu không có Bảo Đại và một số lănh đạo khác kế theo, suy nghĩ nông cạn hám muốn quyền hành, ỷ nhờ vào các thế lực Tư Bản để bị lôi cuốn đưa đất nước dân tộc tham dự vào cuộc chiến tranh giành uy thế giữa hai thế lực Tư Bản và Cộng sản, th́ cuộc chiến tranh “nồi da xáo thịt” đă không xẩy ra trên quê hương Việt Nam mến yêu của chúng ta.

Nếu những người trí thức khoa bảng được đào luyện tại những nước Thực dân đă đô hộ Việt Nam, biết phát huy sở kiến học hỏi được và tinh thần tự chủ tự cường độc lập, yêu nước thương ṇi thật sự, không ích kỷ luồn cúi nịnh bợ kẻ đô hộ để hưởng thụ như những tên gia nô tài phiệt, th́ dân chúng đâu có phải chịu cảnh ngu dốt, không có cơ hội phát triển trí tuệ để thoát khỏi cảnh lạc hậu chậm tiến, đến nỗi bị các thế lực ma giáo lừa bịp lôi cuốn vào những cuộc tranh chấp không lương thiện hại dân hại nước như hiện nay, mà vẫn cứ tưởng là mỉnh yêu nước.

Tôi biết là trong hiện tại, có rất nhiều nạn nhân đă có kinh nghiệm đau thương của biến cố 30-4-1975, đang họp thành những nhóm đấu tranh chính trị tiếp tục cuộc tranh đấu hỗ trợ cho quảng đại quần chúng đồng bào Việt Nam ở trong nước, có cơ hội và thời cơ thuận lợi để lật đổ bạo quyền Việt Cộng lừa bịp gian manh xảo quyệt mạo danh làm

Cách Mạng, nhưng thực tế chúng đang là tập đoàn Tư bản thế lực độc tài quân phiệt thực dân, đang tiếp tục chuyên quyền cai trị dân tộc Việt Nam bằng một chế độ chuyên chính độc tài tàn bạo nhất thế giới, để toàn dân có thể giành lại được các quyền Tự do Dân chủ B́nh đẳng mà những người dân trong một nước độc lập phải có quyền hưởng.

Nhưng tiếc rằng, các nhóm này lại đang được hướng dẫn bởi những lănh tụ có những đường lối hành động không thực t́nh vô vị lợi, nên đang bị bạo quyền Việt Cộng dung tiền và tay sai xâm nhập phá rối gây chia rẽ rất trầm trọng.

Để góp phần giải quyết vấn nạn này, Tôi đă cố gắng viết một bài b́nh luận ngắn để tŕnh bầy các khiá cạnh cần yếu mong mọi người có dịp đọc và suy nghĩ lại, nhưng chưa biết hiệu quả có đạt được như mong ước của Tôi không? Đó là bài viết với tiêu đề

NÊN THẬN TRỌNG ĐỪNG ĐỂ BỊ VIỆT CỘNG LỪA BỊP NỮA.

Những điều tŕnh bầy trả lời câu hỏi của Tôi trên đây, có thể phiến diện thiển cận, mong Quư Vị cao minh vui ḷng hỉ xả bổ khuyết cho, Xin chân thành đa tạ.

NGUYỄN-HUY HÙNG

Một cựu Tù nhân chính trị, 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cải tạo của đảng Cộng sản Việt nam và bạo quyền Cộng hoà xă hội chủ nghiă Việt nam, sau biến cố 30- 4-1975.

 

Vũ Quốc Thúc

(Nguyên Khoa trưởng Đại học Luật Khoa Sài g̣n, Thống đốc Ngân Hàng QGVN, Phó Thủ tướng đặc trách hậu chiến VNCH)

Trả lời câu hỏi, tôi chỉ có 2 nhận định về biến cố 30/04 như sau:

1) Trong suốt thời kỳ từ 1948 (Kế hoạch Marshall ra đời) tới 1991 (Khối Liên Xô giải thể) nước ta chỉ là một mặt trận trong cuộc chiến tranh (nóng hay lạnh tùy từng địa phương) giữa Phe Tư Bản Tự Do và Cộng Sản Độc Tài. Hoa Kỳ lănh đạo Phe Tư Bản Tự Do thấy rằng nếu tiếp tục cuộc chiến nóng bỏng ở Việt Nam sẽ thiệt hại rất nhiều nên đă rút lui êm thấm bằng cách điều đ́nh thẳng với đối phương. Ta muốn giữ họ ở lại cũng chẳng được. Biến cố 30/4/75 chẳng qua chỉ chính thức hóa một thỏa hiệp đă h́nh thành từ Hiệp Định Paris 27/1/1973.

2) Năm 1987 tôi và một số anh chị em tổ chức ở Paris một cuộc Hội Thảo về vấn đề Văn Hồi Hiệp định 27/1/1973 nhân lúc Liên Hiệp Quốc đang t́m cách giàn xếp Cuộc chiến ở Campuchia (lúc ấy đang bị quân CS Việt Nam chiếm đóng). Theo dơi cuộc hội thảo này có Cố T.T. Nguyễn Văn Thiệu (đích thân hiện diện ở hậu trường) và một luật sư Hoa Kỳ (tai mắt của Kissinger). Đồng chủ tọa với tôi trong cuộc hội thảo này là ông Mesmin, Chủ Tịch ủy Ban Ngoại Giao ở Hạ Viện Pháp. Qua cuộc hội thảo này tôi thấy rơ là không hy vọng ǵ văn hồi Hiệp định Paris 1973. Tuy nhiên lịch sử luôn luôn có những sự bất ngờ. Bổn phận của những người đấu tranh là phải giữ vững niềm tin:

Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên như cổ nhân đă nói.

Vài lời tâm sự, xin thân ái tŕnh bày với độc giả Việt Luận

 

Phan Văn Song (Đại Việt Quốc Dân Đảng)

Báo Việt Luận đặt câu hỏi: “Chúng ta có thể rút bài học ǵ từ biến cố 30 tháng Tư 1975”.

Hằng năm cứ đến ngày 30 tháng Tư là toàn dân Việt Nam tỵ nạn hải ngoại tổ chức những cuộc sinh hoạt để ghi nhớ ngày thảm nạn, tang tóc của toàn dân - quân - cán - chánh Việt Nam Cộng Ḥa: nào là biểu t́nh để biểu dương lá cờ vàng ba sọc đỏ than yêu, giới thiệu, chia sẻ với các cộng đồng bản xứ cùng các sắc tộc khác trên quê hương cư ngụ của ḿnh, nào là hội họp cùng nhau đánh dấu kỷ niệm ngày đau thương ấy để luôn luôn cảnh giác, đề pḥng, nhắc nhở nhau là bọn người ác gian hiện đang cầm quyền tại quê hương ḿnh, và cũng nhân tiện, dạy dỗ con cháu hậu duệ thấu hiểu để giữ vững gốc rễ thành phần tỵ nạn cộng sản của chúng ta, của chính chúng, cũng như cho mọi người hiểu sức mạnh của nước Việt Nam thứ hai: nước Việt Nam Hải ngoại, nước Việt Nam của hơn 3 triệu đồng bào tỵ nạn, t́m tự do chúng ta. Biến cố 30 tháng Tư 1975 đă buộc chúng ta bỏ xứ ra đi: tạm dung trên đất người, làm lại cuộc đời, từng cá nhân một, từng gia đ́nh một, đến ngày nay đă hợp thành một cộng đồng, một đại gia đ́nh - một nước Việt Nam Hải ngoại - chúng ta đă bao lần biểu dương sức mạnh của lá Quốc kỳ nền vàng, lá cờ của Tự do, lá cờ của nước Việt Nam thứ hai, lá cờ được các quốc gia, nơi chúng ta cư ngụ nh́n nhận, lá cờ đại diện người Việt Nam tự do trên các quê hương tự do, nhốt lá cờ đỏ Cộng sản, lá cờ của bọn ác gian cầm quyền bị bó ḿnh trong những cao ốc hành chánh quốc tế: Sứ quán, lănh sự... V́ vậy, dầu ngày nay, người Việt hải ngoại có hội nhập vào làng sóng sanh hoạt xă hội của đất nước mới, dầu có thành công về phương diện kinh tế, về phương diện học vấn, nhưng các con cháu chúng ta trong xă hội mới đó, chúng không được quên nguồn gốc của Việt Nam Hải ngoại này: biến cố 30 tháng Tư 1975.

Vâng, tôi không quên ngày 30 tháng Tư 1975:

- Làm sao quên được cái nhục khi nh́n thấy những kẻ thắng trận chỉ toàn một nhóm người thất học, ngơ ngác lạc lơng trước những ṭa nhà đồ sộ, nguy nga tráng lệ của Sài g̣n. Những con người máy, “rô bốt”, không chút kiến thức, chỉ biết vâng dạ, trả bài như con vẹt, và giỏi bắn, giết... được gọi là quân giải phóng, nhưng khi vào Sài g̣n không một thái độ thân thiện, trái lại, như những quân ngoại quốc đi xâm chiếm, chúng hôi của, chúng cướp nhà, chúng đuổi dân đi kinh tế mới, chúng bắt quân cán chánh chế độ cũ đi tù, đưa cả miền Nam và nền kinh tế sung măn vào phá sản.

- Làm sao quên được cái nhục khi nh́n nghe những ông, những vị lănh đạo của chế độ mà ḿnh đă tin tưởng, ủng hộ suốt cả đời, đă “đi rồi”, bỏ chạy, trốn trách nhiệm, để các binh sĩ mũ giáp tơi tả, quần áo ngổn ngang, súng ống la liệt giữa đường xá.

Những biểu tượng trân quư ngày nào, cây súng, chiến bào, huy chương... nay bị vứt bỏ, như những ǵ dơ bẩn nhứt!.

Và, dân chúng Sài g̣n hỗn loạn, nhà trống, thành phố hoang, không chủ, như rắn không đầu, như bầy con không cha mất mẹ. Trách làm sao, khi những tên tiểu nhân vụt biến thành các nhà “cách mạng 30 tháng Tư” hống hách, hà hiếp dân lành; trách làm sao được, khi những người lương thiện thân phận yếu, sẵn sàng như ngọn cỏ đầu tường, tiếp tay kẻ chiến thắng lùng bắt người thất thế.

- Làm sao quên những đoàn người chen lấn, đạp lên nhau để t́m đường sống: đạp lên nhau giành nhảy xuống thuyền, họ sẵn sàng giết nhau để t́m sanh lộ. Ôi! biết bao cảnh đau thương, kể sao cho siết!.

Và trước đó, từ những ngày đầu mất Ban Mê Thuột khi ra Tết:

- Làm sao quên được những trang báo đầy dẫy h́nh ảnh chết chóc đau thương trải dài theo quốc lộ 19, chạy từ Kontum về Qui Nhân, bên gịng sông Ba, hàng ngàn người ngă gục, đoàn dân trốn giặc cứ chạy, pháo của quân Giải phóng vẫn nổ chụp lên đầu!

Giải phóng ǵ mà nhả pháo vào dân không chút thương t́nh!!!

- Làm sao quên được h́nh ảnh những đoàn người lũ lượt tiến về Sài g̣n, bồng bế nhau hoảng loạn chạy trong khi bao nhiêu thân xác ngă gục v́ mệt, v́ đói, v́ khát...

- H́nh ảnh chết chóc hỗn loạn: Chiếc C5 chở con trẻ mồ côi bị rơi, những chiếc phà bị ch́m, những người chết đuối...

Nhưng, một việc lạ, trong cảnh rối rắm, ngổn ngang ấy, ở ngay Sài g̣n, không một ai nghe thấy chuyện cướp giựt, trộm cắp. H́nh như người Sài g̣n từ giàu đến nghèo, từ quan đến dân, đều bận lay hoay với một suy nghĩ, phải làm sao thoát cái rọ Cộng sản, v́ thế, không ai nghĩ đến cướp giựt, hôi của, chiếm đoạt nhà của kẻ khác.

Có lẽ dân Sài g̣n vô tư chăng? Dân Sài g̣n không tin vào cái thua trận, hay dân Sài g̣n quá nhẹ dạ, quá tin tưởng vào Đồng minh, vào Mỹ?

Tôi không quên được những lời bàn Mao tôn cương của các “thức giả”:

- Mỹ không để mất Việt Nam đâu! Nó bỏ tiền viện trợ quá nhiều rồi, vả lại, Việt Nam vừa t́m ra mỏ dầu ở ngoài khơi Vũng tàu, c̣n lâu Tư bản Mỹ mới bỏ;

- Mỹ sẽ bán cái cho Tây, cho Việt Cộng để khỏi mất mặt;

- Việt Nam miền Nam sẽ bị chia làm hai: Miền Trung, Phan Rang ra đến Đà Nẵng của Việt Cộng, Huế trở ra cho Cộng sản Miền Bắc...? Lúc ấy c̣n có anh nhẹ dạ tin rằng Việt Cộng miền Nam và Cộng sản miền Bắc là hai nhóm khác nhau. C̣n có cả thuyết ngon lành hơn nữa, nực cười hơn nữa:

- Sài g̣n và Cần thơ sẽ bỏ ngơ, làm hai Đô thị thương mại quốc tế, với một nền kinh tế thương măi đặc biệt, kiểu Hongkong, Singapore, để làm đ̣n bẫy thương mại kinh tế xây dựng ba cái Việt Nam tương lai, khi nào cả ba có một nền kinh tế và mức sống tương đối đồng đều với nhau sẽ đi đến hiệp thương rồi thống nhứt.

C̣n có vị diểu dở, phán:

- “Nếu bây giờ thống nhứt th́ làm sao dân ngoài Bắc sống kịp dân miền Nam tụi ḿnh. Họ nghèo lắm, nghèo rớt mồng tơi, làm sao sanh hoạt mua bán như ḿnh”?.

Để trả lời, sau ngày 30 tháng Tư, dân miền Nam, nhứt là dân Sài g̣n cũng xuống dốc, đói nghèo luôn, và cũng như dân Bắc, rớt luôn cái mồng tơi... ư quên, cái nóp.

Bài học chúng ta phải luôn nhớ đời, và dạy cho con cháu của chúng ta, tất cả phải biết cái năo trạng, cái Văn hóa Cộng sản.

Phải! Tôi dùng đúng chữ VĂN HÓA Cộng sản.

Dầu cho ngày nay, thiên hạ vẫn cho rằng ở Việt Nam sanh hoạt tập tục không c̣n Cộng sản nữa! Tôi vẫn quả quyết là nhóm ác gian cầm quyền vẫn C̣n Cộng sản. Người Cộng sản vẫn đó, với Văn hóa Cộng sản, với năo trạng Cộng sản.

Ngày nay, nhóm ác gian cầm quyền, mồm nói Tư bản chủ nghĩa, sống kinh tế thị trường, tiền bạc tập tục tư bản kinh doanh, nhưng vẫn lư luận Staline, Mao Hồ. Họ vẫn nuôi mộng Cộng sản chủ nghĩa thành công và thế giới đại đồng cộng sản. Hiện tại chỉ là một bước lùi trá h́nh để ngày mai bành trướng trở lại.

Poutine bành trướng bá quyền phương Tây, đang cố lập lại “Liên Xô Nga”. Hu Tsin Tao đang bành trướng bá quyền phương Đông, đang cố lập “Cộng sản đại đồng Trung hoa”.

C̣n Việt Nam: một ngôi sao nhỏ thứ sáu trên lá cờ Tàu Cộng: cờ Tàu cộng gồm có một ngôi sao to của Hán tộc với năm sao nhỏ của các sắc tộc c̣ con: Mông, Măn, Thanh, Hồi và Tạng. Và tương lai sẽ là sắc tộc Việt, trong thế giới cộng sản đại đồng Tàu. Coi

chừng, cảnh giác. Đây là vận mạng sống c̣n của dân tộc Việt. Chống Cộng sản Việt Nam để chống Chủ nghĩa bành trướng của Cộng sản Tàu đang nuốt chửng dân tộc Việt. Hán thuộc đă bắt đầu rồi.

Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự đă là Cộng ḥa Hán thuộc Việt Nam. Bài học 30 tháng Tư 1975, là luôn luôn nhắc nhở con cháu chúng ta: Chỉ tin vào chúng ta thôi! Không một ngoại bang nào thương chúng ta hết.

Trước 1975, Miền Nam Việt Nam Chống Cộng, với các đồng minh của thế giới tự do: chiến đấu hy sinh để chống làn sóng đỏ Tàu Nga. Hai mươi năm, chiến đấu cạnh nhau, t́nh chiến hữu ruột thịt, chỉ v́ một lời hứa thân thiện Mỹ-Tàu, thị trường kinh tế mở rộng, thế là xong hai mươi năm gắn bó, bỏ xuống biển.

Mỹ đem con bỏ chợ, các lănh đạo Việt Nam Cộng ḥa đa số là quan chức chư hầu, chịu sự sai khiến của các Thái thú Mỹ, nên khi Mỹ rút đi, không một ai lên tiếng đ̣i tổ chức một cuộc di cư có trật tự, mạnh ai nấy chạy, mặc kệ em út, mặc kệ bạn bè, chẳng c̣n ǵ là t́nh với nghĩa!.

Thời 1954, khi Tây rút khỏi Miền Bắc, Tây tổ chức cho tàu há mồm chuyển di dân về miền Tự do, trên 1 triệu người ra đi có trật tự, bởi thời kỳ này – 1954 - Quốc trưởng Bảo Đại là vị Vua của toàn dân Việt, do dân Việt Nam lựa chọn.

Năm 75, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, độc diễn do Mỹ chọn, đă trốn trách nhiệm, từ chức, đào ngũ, lén “dzọt”, bán cái cho Cụ Trần Văn Hương, sau khi phá nát Quân đội, huỷ diệt sức chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng ḥa. Việt Nam Xă hội chủ nghĩa do Cộng sản quốc tế chỉ đạo, tổ chức và nuôi dưỡng cưỡng chiếm miền Nam, chỉ là chủ nghĩa của ngoại bang Nga-Tàu. Khi Nga-Tàu bảo kinh tế bao cấp th́ xă hội chủ nghĩa răm rắp theo Liên Sô, theo Tàu. Khi Liên Sô bảo đánh Tàu th́ cộng sản Việt Nam ngoan ngoăn đánh Tàu. Thậm chí, ngày xưa có cả phe Liên Xô chống phe Tàu trong Đảng cộng sản Việt Nam.

Phải chăng, một số trong các vị, ngày nay được gọi là chiến sĩ dân chủ cư ngụ ở Nga, thuở xưa là thành phần xét lại theo Nga, bị các đồng chí theo Tàu đuổi, nên phải lánh ở Nga từ ngày xa xưa ấy?

Nước Nga của Poutine có Dân chủ đâu mà một số quư vị nghĩ rằng dân chủ?

Bài học ngày 30 tháng Tư 1975 dạy chúng ta: phải biết tự chủ. Chúng ta cần nhắc cho toàn dân ở quốc nội giành lấy quyền tự chủ, và biết thế nào là dân chủ. Dân chủ phải do Giáo dục. Chương tŕnh giáo dục phải đặt Dân chủ lên hàng đầu. Chỉ có dân Việt Nam quyết định ai là người đại diện cho dân mới có quyền lănh đạo. Không một vị nào được phép tự cho ḿnh anh minh để nắm quyền lănh đạo; không một Đảng nào tự cho ḿnh có quyền thay mặt toàn dân. Không được nhân danh bất cứ tổ chức hay đảng nào để thần tượng hóa bất cứ một ai cả. Người lănh đạo một phong trào, một tổ chức đấu tranh ngày nay, chẳng qua là người trách nhiệm tạm thời làm phát ngôn nhân cho nguyện vọng chung của các chiến hữu ḿnh đó thôi. Dân chủ là cạnh tranh, là chương tŕnh, ai đấu tranh cho dân, ai ở gần dân, được dân tín nhiệm uỷ quyền đại diện, người ấy mới chính là người lănh đạo. Thời quân chủ, có nhà Vua cầm quyền cả nước. Nhưng thật sự điều hành việc hằng ngày cho người dân là các vị tiên chỉ trong làng. Làng mạc Việt Nam sống rất dân chủ, mặc dầu dân chủ ấy chỉ là một loại dân chủ do tuổi tác và tôn tri trật tự của hệ thống làng xă.

Ngày nay phải tổ chức Giáo dục để người dân biết thế nào là trật tự xă hội, thế nào là Luật lệ xă hội, thế nào là Pháp luật. Pháp luật do Xă hội và trật tự xă hội lập thành:

Pháp luật không phải là Đảng Quy. Từ Trật tự Xă hội, chúng ta có Pháp luật, có Pháp luật chúng ta có Hiến pháp, từ Hiến pháp chúng ta có những Định chế, Cơ Chế Pháp luật.

Người Dân có Giáo dục biết tôn trọng Luật pháp, biết thế nào là dân chủ. Dân chủ từ trong Nhà trường, Dân chủ từ trong Gia đ́nh, Dân chủ từ trong Cơ xưởng, Dân chủ trừ trong văn pḥng làm việc. Tṛ kính trọng Thầy, Thầy quí trọng Tṛ, Con kính trọng Cha mẹ, Cha mẹ mến trọng Con, Chủ trọng Thợ, Thợ kính trọng Chủ v.v.

Có Pháp Luật mới có Pháp trị.

Đừng đem Hiến Pháp Tây-Mỹ chép lại, sao y bản chánh, cầu chứng tại ṭa, nói rằng Mỹ-Tây nó dân chủ ta sao y là ta dân chủ. Dân chủ do dân ta làm, do ư chí và nguyện vọng của toàn dân quyết định, đó mới là Dân Chủ. Không một ai có quyền phán Ta là Dân chủ cả. Khi có Dân chủ phải thực hiện Dân chủ.

Bài học 30 tháng Tư 1975, dạy ta không bao giờ TIN VÀO MỘT AI CẢ.

 

Steve B. Young

(Tổng Giám đốc Tổ chức Tài chánh Toàn Cầu “The Caux Round Table”)

Tôi thấy có hai loại bài học về biến cố 30 tháng 4 1975, một loại giúp cho ḿnh hiểu về nguồn gốc của vụ đó, và một loại khác giúp ḿnh suy đoán về tương lai của Việt Nam và Hoa Kỳ.

Bài Học Thứ Nhứt

Có lẽ sau 33 năm Cộng Sản thống trị được cả nước Việt Nam, phần lớn người ở trong nước thấy không có ích lợi ǵ để nghiên cứu các nguyên nhân gây sự bại trận của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa.

Theo tôi có hai người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với sự thất bại của một chế độ như Việt Nam Cộng ḥa, có một quân đội lớn và mạnh.

Người đóng góp cho sự thất bại ấy nhiều nhứt là Henry Kissinger. Hồi tháng 5/1971, Kissinger đă đề nghị rằng sau khi quân đội mỹ rút về Hoa Kỳ, th́ Chánh phủ Hà nội sẽ có phép giữ lại quân đội của họ trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Kissinger thỏa thuận với Hà nội nhưng khi về, ông dấu diếm những điều này với Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu và với các viên chức lớn trong Chánh phủ Nixon, như Đại Sứ Ellsworth Bunker.

Như vậy, trong Hiệp Định Paris 1973, Hà nội không có một điều kiện nào phải rút quân về Bắc. Hà Nội có lợi thế chờ đợi người Mỹ hoàn toàn mệt mỏi và không c̣n ư chí chiến đấu, hy sinh bảo vệ ông Thiệu nữa. Sau vụ Watergate, th́ Hà Nội gặp được thời cơ thuận lợi hơn nữa. Chính sự may mắn bất ngờ này đă giúp Hà Nội thực hiện được tham vọng chiếm cả nước, đặt nền cai trị theo chế độ cộng sản độc tài mà ngày nay chúng ta biết.

Người thứ hai phải chịu trách nhiệm là Nguyễn Văn Thiệu. Việt Nam Cộng Ḥa bị ép kư kết Hiệp Định Paris, th́ không khác ǵ bị ép phải đầu hàng Hà Nội. Cái ư nghĩa thật sự khi Mỹ đến để bảo vệ độc lập tự do cho Miền Nam là sự yêu thương, sự thông cảm của nhân dân Hoa Kỳ đối với dân tộc này. Nếu có nhiều người Mỹ nói chúng tôi không thích ủng hộ Chính Phủ Sài g̣n nữa, th́ Chánh phủ Mỹ bắt buộc phải ngưng mọi sự yểm trợ quân sự và kinh tế. Lúc bấy giờ, có đông đảo người Mỹ chạy theo phong trào phản chiến đang ồn ào khắp nước Mỹ. Họ cho lập luận chống chiến tranh việt Nam của phong trào này là đúng.

Người phản chiến không thích ông Thiệu. Họ nói rằng ông Thiệu là độc tài, không thật t́nh biết thương dân miền Nam. Nếu ông Thiệu lúc tháng 10 -73 từ chức, không làm Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa nữa, th́ mấy phong trào phản chiến Mỹ sẽ giảm bớt sự chống đối Chánh phủ Miền Nam.

Hơn nữa, năm 1972 ông Thiệu đă lập ra Đảng Dân Chủ để chuẩn bị thế tranh cử và thắng cử giúp ông tiếp tục cầm quyền lâu dài ở Miền Nam. Sau đó ông Thiệu phải giao các chức vụ lớn cho mấy người thân tín, thời đó dư luận ở Sài g̣n gọi là “gia nô”, mặc dầu họ không có khả năng. Tiêu chuẩn chọn lựa: trung thành với ông là trên hết.

Như vậy, năm 1975 lúc Hà Nội đánh Phước Long và Ban Mê Thuộc, ông Thiệu không có đủ sĩ quan có đầy đủ ư chí chiến đấu, can đảm, để đánh lại quân cộng sản. Tướng Tá trung thành với ông Thiệu, đa số, không có đủ uy tín và khả năng quân sự chỉ huy binh sĩ chiến đấu một cách nhiệt t́nh và hùng mạnh.

V́ biết rơ thực tế như vậy, ông Thiệu phải rút bỏ Quân Khu Một và Hai, bỏ một nửa Miền Nam. Cho đến bây giờ, h́nh như không có ai biết thật sự tại sao ông Thiệu quyết định bỏ Vùng Một và Vùng Hai Chiến Lược. Có người nói rằng ông Thiệu biết chỉ có mấy chiếc B-52 của Mỹ mới có thể cứu được Miền Nam, nên ông phải vừa bè nheo, vừa gài Mỹ ở cái thế phải chịu giúp ông.

Nếu quả thật ông Thiệu đă suy nghĩ như vậy th́ ông không phải là người lănh đạo có bản lănh, bởi kết quả là mất nước vào tay cộng sản, những người đă sát hại không biết bao nhiêu sinh mạng của người việt Nam.

Ông Thiệu thường trách ông Kissinger phản bội Đồng minh Việt Nam. Ông Thiệu nghĩ như vậy và nói như vậy là có lư. Nhưng sự thật đó lại không cứu được một người Việt Nam nào. Ông Thiệu vẫn là Tổng Thống Việt Nam. Ông có trách nhiệm làm cái ǵ có ích lợi cho dân ông, cho đất nước ông, trong t́nh h́nh rất bi đát lúc ấy.

Bài Học Thứ Hai

Một bài học quan trọng là Miền Nam mất không phải v́ dân Việt Nam muốn có một chính quyền Cộng sản. Ngược lại, đến năm 1975 th́ hơn 95% dân Miền Nam hiểu được hiểm họa cộng sản và chống Cộng sản v́ họ muốn sống tự do theo chế độ dân chủ. Miền Nam mất v́ sự phản bội của Kissinger và sự bất tài của Nguyễn Văn Thiệu.

Như vậy, ḷng dân Việt Nam không phục, không thương, không đồng t́nh với đảng cộng sản. Dân chỉ vâng lời đảng khi đảng c̣n khả năng dùng bạo lực đàn áp. Khi nào đảng mất thế, th́ sẽ mất ḷng dân và sẽ bị một phong trào nhân dân hay một cuộc đảo chánh quân nhân làm cho chế độ sụp đổ ngay.

Nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và cả phong trào cộng sản thế giới, đảng cộng sản Việt Nam bị lâm vào thế chẳng đặng đừng lần lần phải để cho dân chúng được tự do phần nào, tức họ không thể áp dụng Chủ Nghĩa Xă Hội theo đúng chủ trương của họ nữa. Nhờ đó mà bây giờ dân có tự do tôn giáo khá nhiều. Nhà nước không đàn áp quá thô bạo như trước đối với các đạo Công Giáo, Ḥa Hảo, Phật Giáo, Cao Đài. Kinh tế theo thị trường tự do làm cho một bộ phận dân chúng trở nên giàu và một phần dân chúng khác có đời sống khá hơn nhiều. Người dân không đụng tới quyền hành và quyền lợi của đảng th́ có thể tạm sống yên ổn được và nói chuyện khá tự do. Nếu biết cấu kết với công an, người dân có thể làm giàu. Thành phần này hiện nay xuất hiện khá nhiều ở Việt Nam. Ngoài ra, Công An không c̣n tha hồ bắt bớ người này người kia như thời gian trước đây.

Nếu Việt Nam có dân chủ th́ tốt hơn nhưng đảng cộng sản vẫn cố t́nh kéo dài sự cai trị của họ từ năm này qua năm kia. Nên nhớ sự cố t́nh ù lỳ này không có lợi ǵ bao nhiêu cho sự sống c̣n của đảng.

Một bài học khác nữa là người Mỹ vẫn bị chia rẻ làm hai phe – một phe có người chạy theo phong trào phản chiến c̣n phe kia th́ bực tức đă thua Cộng Sản. Phe phản chiến trở thành Đảng Dân Chủ bây giờ và phe thua trở thành Đảng Cộng Ḥa ngày nay. Đảng Dân Chủ cho ḿnh có lư trong cách giải quyết chiến tranh việt Nam là đem Việt Nam giao cho Hà Nội. Lấy được Miền Nam, Hà Nội có chính nghĩa. Hoa Kỳ và chế độ miền Nam phải bị lên án là quân xăm lược và bọn bán nước. Như vậy, Đảng Dân Chủ có thái độ hướng về mọi sự đ̣i hỏi của Hà nội từ 1975 đến giờ. Đối với các nước khác

– Trung Quốc, Bắc Hàn, thái độ của Đảng Dân Chủ là ḥa hưởng hay nhượng bộ cho những đ̣i hỏi của họ. Đảng Dân Chủ nói nhiều về nhân quyền ở các nước nhỏ nhưng mà làm rất ít – thí dụ ông Clinton đối với Rwanda hay Bosnia.

Đảng Cộng Ḥa lo sợ sự suy yếu của Hoa Kỳ, thành ra khi có vụ 11 Tháng 9 xảy ra, th́ họ cảm thấy Hoa Kỳ phải biểu dương sức mạnh, tức phải đánh. Mà đánh ai đây? Họ đánh Taliban ở A Phú Hăn, rồi thấy chưa đủ thỏa măn nhu cầu tâm lư nên họ đánh thêm Saddam Hussein.

Chánh sách đánh phe Al-Queda một cách vụng về, thiếu tính toán kỹ nên đă tạo ra nhiều khó khăn cho Hoa Kỳ.

 

Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại

(Cựu Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải)

Tôi xin xác nhận trước là cảm nghĩ sau đây là trong tư cách một cấp chỉ huy trong quân đội mà thôi và đă được đề cập trong quyển Can Trường Trong Chiến Bại (2007) của tác giả bài nầy.

Thứ Nhứt: Khi có một cuộc tổng tấn công, phối trí lại lực lượng và cắt đất là hạ sách v́ ḿnh tự động giảm số mục tiêu mà địch phải đánh và sự di tản của dân sẽ làm khó khăn cho quân ta không kể là đương nhiên chánh phủ phải lo chuyện định cư cho hằng triệu dân. Nói một cách khác, khi có một cuộc tổng tấn công, th́ đất c̣n lại càng ít càng dễ cho địch v́ địch không cần tốn quân để chiếm những vùng mà chính ta đă bỏ đi, không kể là các sư đoàn mà rút đi, tay không, bỏ lại biết bao nhiêu vũ khí, thiết giáp, kho xăng, kho đạn, giúp địch khỏi cần sự tiếp vận từ hậu phương của địch, trong khi ta lo thiếu vũ khí, đạn dược. Trong cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân 1968, ta không mất Huế v́ Sư Đoàn 1 do tướng Trưởng bị bao vây quá chặt nên bắt buộc phải tử thủ cho đến lúc lực lượng của Mỹ được lịnh tái yểm trợ và giải vây cho Sư Đoàn 1. Nếu lúc đó quân đội quyết định bỏ Huế và quân dân rút về Đà Nẵng th́ hậu quả không khác ǵ tháng 3, 1975. Sau khi Quân Đoàn 1 quyết định bỏ Huế vào ngày 24 tháng 3, 1975, các sư đoàn của địch tại Quảng Trị, Thừa Thiên rănh tay và sẽ kéo toàn lực về để đánh ĐàNẵng, như vậy Đà Nẵng sẽ phải chống đỡ với một lực lượng gấp đôi hơn dự tính, không kể sự quấy phá của quân lực tan ră rút về Đà Nẵng từ các nơi, cũng như sự cứu trợ đồng bào di tản sẽ là gánh nặng cho chính quyền tại Đà Nẵng.

Thứ Hai: Không nên xem thường các tin đồn thất thiệt, nếu không cải chính kịp thời các tin đồn đó có thể làm hoang mang quân sĩ và nhứt là cấp chỉ huy. Mà đă là cấp chỉ huy th́ phải t́m cho ra sự thật tận gốc, nhứt là khi tin đồn đó gây sự hiểu lầm cho mọi quyết định của cấp chỉ huy. Một đoàn quân không thể thắng giặc nếu họ có chút nghi ngờ là sự hy sinh của họ là vô ích.

1. Miền Trung sẽ được giao cho MTGPMN v.v....

2. Tức là tổng thống Thiệu trong trường hợp Quân Khu 1

 

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ

(Chủ tịch Phong Trào Đ̣i Trả tên Sàig̣n)

Không ai có thể phủ nhận biến cố 30-4-1975 là một dấu mốc rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Trong hơn 30 năm qua rất nhiều người, nhất là đồng bào Việt Nam hải ngoại đă đề cập tới biến cố này dưới nhiều khía cạnh và tâm t́nh khác nhau. Không biết bao nhiêu tài liệu, sách vỡ phim ảnh, bài viết... diễn tả những nỗi kinh hoàng của biến cố 30 tháng 4 năm 75, không những chính trong ngày đó mà c̣n tả cảnh hăi hung trong thời gian trước đó và nhất là thảm cảnh tiếp theo sau... Nhiều người đă ví biến cố 30-4-1975 như là một ca mổ xẻ vô cùng đau đớn và đầy máu me mà thân thể dân tộc Việt Nam đă phải chịu.

Dù vậy, dưới cái nh́n xa hơn trong chiều dài tương lai của Dân Tộc, có lẽ chúng ta phải đồng ư rằng mặc dù biến cố 30-4-1975 là một ca mổ xẻ vô cùng đau đớn và đầy máu me, nhưng là một ca mổ rất cần thiết cho thân thể của Dân Tộc Việt Nam.

Ở đây tôi không muốn nhắc tới h́nh thức “kỷ niệm biến cố 30 tháng 4” của hai thế lực đối chọi nhau: một bên là chế độ Việt gian cộng sản và một bên là đại khối dân tộc Việt Nam bị chế độ đó cai trị. Chế độ Việt gian cộng sản và những kẻ làm tay sai cho chế độ đó th́ “ăn mừng chiến thắng” và gọi là “ngày giải phóng”. Trong khi đó đại khối dân tộc Việt Nam, nhất là những nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của chế độ Việt gian cộng sản đă “kỷ niệm biến cố 30 tháng tư” như là một nỗi đau thương kinh hoàng và gọi đó là ngày “Quốc hận”.

Hiện tượng này xảy ra hằng năm trong hơn 30 năm qua, nhưng tôi tin chắc rằng cường độ của hai h́nh thức “kỷ niệm” dần dần sẽ phai mờ đi v́ nỗi đau của các nạn nhân trong biến cố 30 tháng tư sẽ dịu dần với thời gian, và một điều chắc chắn là chế độ Việt gian cộng sản sẽ tàn lụi dần và cuối cùng sẽ biến mất trên quê hương, chừng đó chỉ c̣n lại Dân Tộc Việt Nam. Một Dân Tộc đă thoát xác sau ca mổ xẻ với hai lợi thế sau đây:

1. Một Dân Tộc Việt Nam đă tỉnh thức

Một Dân tộc Việt Nam đă phải đau thương quằn quại qua thực tế phũ phàng sau cái được gọi là “ngày giải phóng!” Một dân tộc Việt Nam không c̣n bị ru ngủ bởi sự tuyên

truyền xảo trá của cộng sản về một thứ “thiên đường hạ giới” như một số đông dân oan khiếu kiện trước kia đă nhẹ dạ nghe theo, ngày nay phẩn uất chửi bới công khai trong các cuộc biểu t́nh đ̣i nhà đất và tài sản. Chính v́ thế biến cố 30-4-1975 rất cần thiết để làm cho Dân Tộc Việt Nam tỉnh thức hầu xoá bỏ, và xoá bỏ một cách vĩnh viễn, chế độ cộng sản phản dân hại nước trên quê hương Việt Nam.

2. Một Dân Tộc Việt Nam lớn vượt biên cương

Thật vậy, biến cố 30-4-1975 đă mở một trang sử mới cho Dân Tộc Việt Nam v́ qua biến cố đó một số rất đông đă phải trốn chạy ra nước ngoài và sống rải rác khắp nơi trên thế giới làm thành Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại. Sau hơn 30 năm, Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại này đă chứng tỏ sự thành công về nhiều mặt, nhất là về kinh tế và kiến thức và sự thành công càng ngày càng phát triển. Đây chính là một nguồn nhân lực, tài lực và kiến thức vô giá cho Dân Tộc Việt Nam trong việc xây dựng đất nước trong tương lai.

Ngày nay chúng ta phải trang bị cho ḿnh một nhăn quan tích cực và cùng nhau chăm sóc cho đóa hoa Hy Vọng của Mùa Xuân Dân Tộc được mọc lên từ vũng lầy máu me của biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

CÂU TRUYỆN BÁN NƯỚC CỦA BỌN GIAN TẶC
HỒCHÍMINH VÀ BÈ ĐẢNG VIỆT CỘNG

Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng

Bỗng dưng, mấy tháng nay thấy đồng bào ở trong nước cũng như nơi hải ngoại đang tái phát động phong trào tiếp tục đưa các tài liệu chứng minh hành động bán nước của bè đảng Việt Cộng Hồ Chí Minh lên các trang mạng Internet, khiến Tôi nhớ lại truyện năm 2002, đồng bào Việt Nam lưu vong tỵ nạn Cộng sản trên toàn Thế giới và đồng bào c̣n đang phải sống dưới chính quyền Xă hội Chủ nghĩa độc tài Đảng trị dă man vô nhân đạo ở trong nước cũng sôi động biểu t́nh lên án vạch mặt bán nước hại dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi biết được bọn chúng đă lén lút kư với đảng Cộng sản Trung quốc các Hiệp ước ngày 30 tháng 12 năm 1999 cắt nhượng khoảng 789 cây số vuông lănh thổ dọc các tỉnh biên giới Bắc phần, và Hiệp ước ngày 25 tháng 12 năm 2000 cắt nhượng thêm 9% lănh hải trong vịnh Bắc kỳ (Golf du Tonkin) của Việt Nam cho quan thầy Trung Cộng. Theo các Hiệp ước này th́ lănh hải trong vịnh Bắc kỳ được ấn định lại là: Việt Nam 38%, Trung quốc 62%, trước kia là: Việt Nam 53%, Trung Cộng 47%, như vậy tức là Việt Nam mất đi 9% lănh hải trong Biển Đông. Và đường biên giới trên đất liền th́ bị rút ngắn đi chỉ c̣n khoảng 1200 cây số. Các cột mốc ấn định ranh giới là 1500 cột.

Trong các cuộc biểu t́nh cũng như hội luận có nhiều người chưa bao giờ có dịp thăm tại chỗ trên đất nước đặc biệt là Tỉnh Lạng Sơn, mà chỉ được nghe câu ca dao nói về chợ Đồng Đăng, phố Kỳ Lừa, núi Nàng Tô Thị, chùa Tam Thanh và xứ Lạng, đă thắc mắc đặt câu hỏi: -Ải Nam Quan ở Đồng Đăng mất cho Tầu Cộng, th́ núi Nàng Tô Thị cũng mất hay sao?

Để giải toả thắc mắc này, một số nhân sĩ đă đóng góp như sau:

1.- Ông Trần Lam Giang đă viết một bài với tựa đề “Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” đăng trong đặc san Khởi Hành số 65 ra tháng 3 năm 2002, trang 24, nói về núi Vọng Phu tại Lạng Sơn như sau:

“LẠNG SƠN TRONG SỬ SÁCH TA.

Nhưng theo DƯ ĐỊA CHÍ, sách do Nguyễn Trăi tham khảo và biên soạn, được các triều đại Lê, Tây Sơn và Nguyễn coi là “quốc thư bảo huấn đại toàn”, có ghi: “Sông Khưu Lư, tức Kỳ Lừa, ở phía Bắc Quế Thành, xưa là Ôn Khưu Thông Lĩnh Giang, Vọng Phu là tên núi ở phía Tây thành Lạng.

Trên núi đứng sừng sững một tảng đá, xa trông như h́nh người, lưng tựa phía Nam, mặt hướng phía Bắc. Tục truyền, xưa có truyền lại rằng: người đất Nam Sách tên là Đậu Thao, một vị tướng quân của Tiền Ngô Vương, dẫn quân chống giữ mặt Bắc. Vợ họ Tô tên là Thị, thủ tiết mười năm, dệt gấm hồi văn gửi cho chồng. Sau, cùng người bỏ nhà lên núi Lạng Sơn ngóng trông chồng không thấy. Chết, thân xác hoá đá, nhân đó đặt tên là núi Vọng Phu.

Lạng Sơn xưa là lộ Lục Hải, tây nam giáp Thái Nguyên, đông bắc giáp Lưỡng Quảng. Lộ này có 1 phủ, gồm 7 châu, 227 xă. Lộ Lạng Sơn là phên giậu thứ ba ở phía Bắc nước ta.

Nguyễn Thiên Tích, (bậc đại khoa danh Nho đồng thời Nguyễn Trăi), kính cẩn xét: “Phủ Trường Khánh có 7 châu, 193 xă. Châu Lộc B́nh có 39 xă, 21 thôn, tiếp giáp với huyện Tư Minh, tỉnh Quảng Tây. Châu Thoát Lăng, xưa chính là Thoát Lạc, có 20 xă. An Châu có 30 xă, 100 trại, 10 băi sông. Châu Văn Uyên (xưa tên là Văn Châu) có 41 xă. Châu An Lan có 31 xă, 1 thôn, 1 trang. Châu Thất Nguyên (nhà Mạc đổi thành Thất Tuyên) có 34 xă. Châu An Bác có 38 xă.

Phụ lục: Họ Hồ cướp ngôi nhà Trần. Người nhà Minh nhân cơ hội tràn đến châu Lộc B́nh đạo Lạng Sơn. Triều đ́nh nhà Hồ sai Hoàng Hối Khanh làm Cát địa sứ (sứ thần cắt đất) lấy Lộc B́nh, Cổ Lâu, gồm 38 xă, 59 thôn cho giặc Minh. Đất bị mất rộng đến 5 ngày đường. ”

2.- Hai Thi sĩ Trần Gia Linh và Mai Thạch Lư Thái Vượng đă ghi lại bài thơ “VỌNG PHU THẠCH” viết theo thể thơ Đường (thất ngôn bát cú = bẩy câu tám chữ) bằng chữ Nho của cụ Nguyễn Du nói về Ḥn Vọng Phu tức là tượng Nàng Tô Thị, và họ đă dịch ra Việt Ngữ rồi gửi cho Tôi vào đầu năm 2002-Nhâm Ngọ tại quận Orange Nam California.

“VỌNG PHU THẠCH.
Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
“Độc lập sơn đầu thiên bách xuân.
“Vạn kiếp diểu vô (1) vân vũ mộng,
“Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
“Lệ ngân (2) bất tuyệt tam thu vũ,
“Đài triệu (3) trường minh nhất đoạn văn.
“Tứ vọng liên sơn diểu vô tế (4),
“Độc giao nhi nữ thiện di luân (5).

Nguyễn Du.

(1) diểu = mênh mang, diểu vô = có ǵ đâu.

(2) lệ ngân = dấu nước mắt.

(3) đài = rêu, đài triệu = dấu rêu.

(4) tế = bờ, vô tế = không bờ bến.

(5) thiện = hoàn thành, di luân = đạo làm người.

 

Thi sĩ Trần Gia Linh dịch ra chữ quốc ngữ Việt Nam, nhưng viết theo thể thơ “song thất lục bát” (2 câu bẩy chữ, 1 câu 6 chữ, và 1 câu 8 chữ):

“Đá hay người? Ấy ai người ấy,
“Đầu non cao trải mấy ngh́n xuân.
“Giấc không vẹn mộng Vu thần,
“Tấm thân kim cổ trong ngần gương trinh.
“Mưa ba thu lệ t́nh lai láng,
“Ngấn rêu in một áng sầu văn.
“Non xanh tít mắt xa gần,
“Gánh luân thường để riêng phần thuyền quyên.

 

Thi sĩ Mai Thạch Lư Thái Vượng Vượng (một chiến hữu nguyên thuộc Binh chủng Truyền Tin với Tôi) cũng có bài dịch ra quốc ngữ Việt Nam, nhưng vẫn giữ theo thể thơ Đường (bẩy câu tám chữ) như sau:

 “Đá ư? Người hả? Ấy là ai?
“Trơ trọi đầu non một bóng người.
“Muôn kiếp mây mưa cơn mộng loăng,
“Một ḷng kim cổ tấm thân phơi.
“Ba thu dấu khắc chan chan lệ,
“Vạn cổ rêu ghi nghẹn nghẹn lời.
“Này, bốn phương trời sao vắng lặng,
“Chỉ Nàng v́ đạo đứng soi đời
.

 

3.- Giáo sư Trần Đại Sĩ đă có bài điều trần có kèm ảnh phổ biến trong cuốn Bạch thư Tố cáo Việt Cộng hiến đất dâng biển cho Trung Cộng, do Phong trào ‘Nô Hồ” phát hành năm 2002 tại San Jose, Bắc California, nơi trang 102 thấy tŕnh bầy như sau: “Hồi Tổng Bí thư (Đảng Cộng sản Việt Nam) Lê Duẩn cầm quyền, để xoá bỏ văn hoá dân tộc Việt, phát huy văn hoá Mác-xít, tượng Nàng Tô Thị bị đem nung làm vôi. H́nh chụp tượng mới tạc lại.”, và trang 103 “Hồi 1978, Hồng-quân (Trung Cộng) sang “dạy” Việt Nam bài học, đă san bằng Lạng Sơn. Chưa hả giận, họ c̣n dùng đại pháo bắn phá động Tam Thanh. Cửa động trước ở chỗ cột cờ, với hàng trăm bài thơ lưu niệm của danh sĩ Việt. Nay cửa động bị phá, mới tụt lùi vào trong.”

4.- Và cá nhân Tôi cũng đă đóng góp một tài liệu về Ải Nam Quan, Động Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị tại thị xă Lạng Sơn, v́ Tôi là người được sinh ra và lớn lên tại Thị xă Lạng Sơn trong suốt 2 thập niên 1930 và 1940 nên biết rơ hơn ai hết về cảnh trạng địa dư tỉnh Lạng Sơn. Đặc biệt vào những năm thuộc nửa sau của Thập niên 1940 Tôi đă có dịp đến Ải Nam Quan 2 lần:

-Lần thứ nhất vào năm 1946, lúc đó Tôi là thành viên của Phục Quốc Quân tại thị xă Lạng Sơn theo đoàn hộ tống Cụ Nguyễn Hải Thần của Cách Mạng Đồng Minh Hội trốn thoát từ Hà Nội lên Lạng Sơn để đi qua Ải Nam Quan sang thị xă B́nh Tướng bên Trung Hoa tái lưu vong, v́ các Đảng phái Quốc gia không theo Cộng sản trong Chính phủ Liên Hiệp bị Hồ Chí Minh và phe Việt Minh phản bội tiêu diệt.

-Lần thứ hai vào giữa tháng 7 năm 1947, Tôi là thư kư thông dịch viên của Pḥng tuyển mộ Vệ binh Bắc Kỳ tại thị xă Lạng Sơn, đă cùng Thiếu Úy Boulanger Trưởng Pḥng Tuyển mộ và mấy Hạ sĩ quan Vệ binh Pháp dưới quyền lái xe jeep lên Đồng Đăng để đi thăm Ải Nam Quan, và chúng tôi đă đứng bên chiếc cột mốc Km0 phân ranh giới ANNAM/CHINE tại băi đậu xe cách chiếc cổng và dải tường thành Ải Nam Quan (xây bằng gạch to cao) chừng hơn 100 mét để chụp mấy tấm ảnh lưu niệm.

Sau đây là những ǵ Tôi đă viết, xin ghi lại để Qúy Vị và Qúy Bạn cùng chia sẻ và tùy nghi.

Bài Ca dao dân gian dưới đây, Tôi thường được nghe thấy các bà mẹ, bà chị gốc người Kinh từ miền xuôi lên làm ăn tại Lạng Sơn hát ru con ru em ngủ hàng ngày, và trong năm 2002 cũng thường được nghe qúy vị thức giả nhắc đến trong các cuộc hội luận tố cáo tội ác Cộng sản Việt Nam đă lén lút kư các Hiệp định dâng đất dâng biển của Tổ Tiên ḍng giống Tiên Rồng chúng ta cho quan Thầy Trung Cộng:

“Con c̣ bay lả bay la,
“Bay ra ruộng lúa, bay vào Đồng Đăng.
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa(1),
“Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
“Ai lên xứ Lạng cùng anh,
“Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.
“Tay cầm bầu rượu nắm nem,
“Mải vui quên hết lời em dặn ḍ.
“Gánh vàng đi đổ sông Ngô,(2)
“Đêm nằm tơ tưởng đi ṃ sông Tương. (3)
“Vào chùa thắp một tuần hương,
“Miệng khấn tay vái bốn phương chùa này .
“Chùa này có một ông thầy,
“Có ḥn đá tảng, có cây Ngô đồng.
“Cây Ngô đồng không trồng mà mọc.
“Rễ Ngô đồng cái dọc cái ngang.
“Ngoài chùa có quả dưa gang,
“Để anh đi hái tặng nàng làm duyên.

Ghi chú (1)- Có điều quan trọng cần lưu ư là địa danh Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa* ghi trong câu thứ ba, không đúng với hiện trạng thực tế vào thời gian Tôi được sinh ra và lớn lên tại Lạng Sơn trong các thập niên 1930 và 1940. Lúc đó Phố Kỳ Lừa là khu phố chợ thuộc nửa phần phía Bắc của tỉnh lỵ Lạng Sơn, Chùa Tam Thanh ở bên Động Tam Thanh là nơi có núi Nàng Tô Thị cách phố Kỳ Lừa một cây số về hướng Tây Nam, c̣n chợ Đồng Đăng là một thị trấn nhỏ cách xa tỉnh lỵ Lạng Sơn cả 14 cây số ngàn về hướng Bắc, từ chợ Đồng Đăng đến Ải Nam Quan c̣n phải đi them chừng 5 cây số đường theo các sườn núi ṿng vèo nữa mới lên tới nơi.

Có thể câu ca dao này được sáng tác ra từ thuở chợ Đồng Đăng c̣n ở phố Kỳ Lừa ngay tại tỉnh lỵ Lạng Sơn. Sau này người Pháp Bảo hộ rời chợ Đồng Đăng ra khỏi phố Kỳ Lừa đưa lên phía Bắc gần cửa Ải Nam Quan khoảng 5 cây số, và cách xa tỉnh lỵ Lạng Sơn 14 cây số để lập trại lính tiền đồn trấn giữ bảo vệ vùng Ải Nam Quan tại biên giới Việt Nam Trung Hoa.

Dẫy núi Tam Thanh thường được người ta gọi là Động Tam Thanh, là một dẫy gồm 3 trái núi đá vôi nổi lên sát bên nhau theo hướng Tây BắcĐông Nam, và có đường hầm đi thông suốt trong ḷng núi. Được gọi là Động Tam Thanh, v́ đứng trước cửa động trái núi phía cực Nam của dẫy, hô lên một tiếng thật lớn là ta sẽ nghe được ba tiếng vọng lại tiếp theo nhau.

Trái núi ở phía Bắc của dẫy được gọi là Tam Thanh. Nơi sát chân phía Đông của núi có hồ bơi rất lớn xây bằng gạch men đem từ bên Pháp qua, dành cho gia đ́nh quan chức người Pháp đô hộ và người Việt có bề thế trong thị xă ghi danh nhập hội đóng tiền hàng tháng mới được lui tới.

Ḍng nước nguồn từ sườn núi chẩy ra cung cấp thẳng vào hồ bơi, lúc nào cũng trong vắt và mát rượi. Từ khi Nhật đóng quân tại Lạng Sơn vào cuối tháng 9 năm 1940 trở đi, người Pháp không dám lui tới giải trí tại khu hồ bơi này nữa v́ sợ bị quân Phục Quốc hoạt động bí mật bắt cóc giết, hoặc quân lính Nhật tấn công phụ nữ mà không làm ǵ được. Nhờ thế quảng đại quần chúng Việt Nam tha hồ tới lui bơi lội tự do, nên những ngày Thứ Năm nghỉ học giữa tuần lễ, Tôi và các bạn trong Đoàn Hướng Đạo Sinh Mẫu Sơn đến đây tập dượt bơi và học cách cứu vớt người không biết bơi ngă xuống nước.

Trái núi đứng giữa là Nhị Thanh, Trên đỉnh có một tảng đá nhô lên cao, ở xa trông như h́nh dáng một người đàn bà đứng bồng con mặt ngóng trông về hướng Bắc đợi chồng, người ta gọi là Ḥn Vọng Phu tức là núi Nàng Tô Thị.

Câu truyện tục truyền về Nàng Tô Thị, được nghe các cụ già cư ngụ tại địa phương lâu năm kể lại như sau:

“Tại làng Tam Thanh có một đôi Nam Nữ, không biết từ đâu đến làm ăn buôn bán. Hai người cùng mồ côi, gặp nhau tâm đầu ư hiệp kết duyên vợ chồng, chung sống rất mực thương yêu. Vừa có với nhau một con, th́ một hôm trời nắng đẹp, chồng tiếp tay gội đầu tóc cho vợ, bất ngờ người chồng trông thấy một vết xẹo dài phía sau đầu của vợ, mới hỏi duyên cớ của vết thẹo. Vợ cứ thực t́nh kể lại hồi c̣n nhỏ, 2 anh em chơi với nhau bị té mới xẩy ra nông nỗi. Người chồng

hỏi tới về thân thế gia cảnh Cha Mẹ Anh Em. Sau khi được nghe kể đầu đuôi, mới giật ḿnh, không ngờ người này lại chính là em gái của ḿnh thất lạc từ 2 chục năm qua.

Số là, vào thời Tiền Ngô Vương có một vị quan từ đất Nam Sách lên trấn giữ mặt đất Bắc, sinh được 2 người con (1 trai 1 gái). Chiến tranh tới 2 vợ chồng bị chết, các con c̣n rất nhỏ, thất lạc mỗi người một phương, không ai biết sống chết ra sao.

Nghe xong t́nh tiết câu truyện, người anh biết là đă kết hôn nhầm phải em ruột của ḿnh, nên ngày hôm sau nói với vợ là chuyến này đi buôn xa và lâu hơn thường lệ, rồi đi luôn không trở lại. Nàng Tô Thị kiên nhẫn ở nhà, đợi măi không thấy chồng về. Ngày ngày bế con leo lên đỉnh núi đứng ngóng trông hoài không chịu xuống, đến nỗi chết biến thành đá.”

Ghi chú (2)- sông Ngô ở bên Tầu.

Ghi chú (3)- có lẽ là sông Thương trong vùng Bắc Giang ở phía Nam tỉnh Lạng Sơn.

Trái núi ở phía Nam của dẫy gọi là Tam Thanh, có một hang rất rộng và sâu, cửa hang mở rộng ngay tại chân núi trông như miệng con cá voi khổng lồ đang há ra để nuốt mồi. Dân chúng hạng thượng lưu và trung lưu trong thành phố, vào những dịp nghỉ lễ và Chủ nhật thường mang thức ăn nguội và thức uống như đi picnic và ở lại vui chơi mát cả ngày. Hang này mới chính là Động Tam Thanh, v́ đứng trước cửa hang hô to một tiếng dài ta sẽ nghe được tiếng đó vọng lại 3 lần tiếp theo nhau. Đi sâu vào trong hang ta có thể xem các thạch nhũ (stalactite) từ nóc hang tḥng xuống, có nhiều cột dài xuống tận mặt nền hang, phản chiếu ánh ngũ sắc long lanh như kim cương rất đẹp mắt. Trong ḷng núi này có một con suối ngầm chẩy ra cửa hang để đổ vào sông Kỳ Cùng. Người ta có thể đốt đuốc đi dọc men bên ḍng suối trong ḷng núi suốt từ cửa hang bên này sang tận sườn núi bên kia để qua núi Nhị Thanh. Có đoạn đi lài lài sâu xuống ḷng đất gọi là lối xuống Âm phủ. Đoạn sau cùng dẫn ngược lên cao ra triền núi gọi là đường thang lên Trời.

Chùa Tam Thanh được xây dựng trên một khu đất ở phía bên kia đường gần phía trước động Tam Thanh. Bên chùa có một cây rất to cao, cành lá xum xuê um tùm gọi là cây ngô đồng.

Dưới đây là một bài ca dao khác nói về Lạng Sơn, và bài này chắc hẳn là làm sau bài Ca dao thứ nhất kể trên, có thể coi là một chứng minh rằng phố Kỳ Lừa và chùa Tam Thanh, núi Nàng Tô Thị không thuộc địa phận Đồng Đăng. V́ khúc sông Kỳ Cùng chẩy ngang thị xă Lạng Sơn cắt thành phố ra 2 phần, giống như sông Hương cắt đôi thành phố Huế tại miền Trung Việt Nam. Nửa bên Hữu Ngạn ḍng song gọi là Bên Tỉnh có Thành Lạng Sơn (tường thành xây giống như kiến trúc của Thành Huế, chỉ khác là không có Cổng Ngọ Môn) và các cơ sở Hành chánh Tỉnh. Nửa phần bên Tả Ngạn ḍng sông gọi là Bên Kỳ Lừa có khu Văn Miếu, trường Trung học, doanh trại lính Khố Xanh, cơ sở Hành chánh Châu Cao Lộc, phố chợ Kỳ Lừa, Động Tam Thanh, núi Nàng Tô Thị (Ḥn Vọng Phu) và Chùa Tam Thanh. C̣n Đồng Đăng ở cách xa thị xă Lạng Sơn những 14 cây số ngàn về hướng Bắc. Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng địa phận châu Đ́nh Lập phía Đông Nam lănh thổ tỉnh Lạng Sơn, nơi sát biên giới Việt Nam Trung Hoa, chẩy theo hướng Tây Bắc qua địa phận các châu Na Dương, Lộc B́nh, Cao Lộc tức là thị xă Lạng Sơn, Điềm He, rồi tiếp tục lên hướng Bắc phía Na Sầm, Thất Khê để rẽ qua hướng Đông chẩy sang đất tỉnh Quảng Tây bên Tầu nhập vào sông Tây Giang trong tỉnh Quảng Châu, và đổ ra Biển Đông của Trung Hoa lục địa.

Mặt Nam và Tây Nam Thành Lạng Sơn được bao bọc bởi dẫy núi Văn Vỉ, trùng điệp dài xuống đến tận Ải Chi Lăng, gần bên ga Đồng Mỏ cách thị xă Lạng Sơn khoảng 37 cây số về phía Nam (tức là hướng đi xuống Hà Nội).

“Đường lên xứ Lạng bao xa,
“Cách một dẫy núi với ba quăng đồng.
“Ai ơi đứng lại mà trông,
“Ḱa Tam Thanh động, nọ sông Kỳ Cùng
.

Hy vọng những ǵ Tôi kể trên đây đă giải toả được thắc mắc của qúy vị, về hiện trạng địa dư thực tại với những ǵ ghi nhận trong bài ca dao dân gian Việt Nam lưu truyền nói về “…Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, Có Nàng Tô Thị, có Chùa Tam Thanh.”

Đính kèm nơi cuối bài này là một tài liệu và h́nh ảnh những tên Việt gian Cộng sản đă bán ẢI NAM QUAN cho quan thầy Trung Cộng của chúng, mà Tôi đă được một thân hữu ở trong nước chuyển cho xem trước đây mấy năm.

Kính chúc qúy vị và bảo quyến luôn dồi dào sức khoẻ, may mắn, hạnh phúc, có cơ hội thu xếp được thời gian rảnh để tham gia cùng đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải trừ nạn Cộng sản Việt Nam độc tài, đang buôn Dân, bán Đất và Biển của Tổ quốc cho quan Thầy của chúng là Trung Cộng kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc Việt Nam./.

Corona, Nam California, Cuối năm 2014.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG


Một khúc sông Kỳ Cùng Lạng Sơn, đây là khúc quanh tại vùng Mai Pha ở phiá Nam của Thị xă Lạng Sơn, trên vùng đất bên phải của tấm ảnh dẫn tới phi trường Mai Pha.

H́nh Núi Vọng Phu (Nàng Tô Thị) tức là núi Nhị Thanh tại thị xă Lạng Sơn.

2, Nhóm h́nh B:
Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.
B1. Ải Nam Quan nh́n từ độ cao ở Đồng Đăng Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đă thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đă nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đă bị phá hủy nên được xây lại không c̣n qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên v́ dựa theo h́nh phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm h́nh C)

.

Phụ ảnh: (B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

B2. Ải Nam Quan nh́n từ hướng Đồng Đăng
Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới h́nh là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo h́nh F1 sẽ thấy rơ vị trí lô cốt nh́n từ bên Trung Quốc).

 

Tài liệu và h́nh ảnh những tên VGCS đă bán Ải Nam Quan

Date: Tue, 1 Dec 2009 23:04:12 +0000

KẺ BÁN ẢI NAM QUAN VÀ KM ZÉRO Ô NHỤC!

Ô NHỤC ẢI NAM QUAN!

Ven trời góc biển buồn chim cá

Dạn gió dày sương tủi nước non

Thượng Tân Th

Bi thương thay cho lch s Vit Nam! Tng cây s trên quê hương là tng gịng máu l, máu ca cha ông ngăn thù và máu ca hai min huynh đ chan ḥa vào nhau trong hoan lc dành cho Quc tế Cng Sn. Và đang tr v đây là nhng bước chân âm thm ca ngàn năm nô l. Kết qa t công cuc nhum đ mo danh “đc lp, t do, hnh phúc” theo tư tưởng H Chí Minh và đng bn. Hăy tiếp tc nh́n nhng ǵ mà CSVN đang ra sc thc hin: “Thác Bn Gic, i Nam Quan không thuc lănh th Vit Nam!”. H c chi b lch s Vit Nam và ra sc tranh căi, bin lun vi dân Vit thay cho Trung Cng. Ô nhc! T quan đến quân, CSVN ch là mt lũ tôi mi dâng đt, dâng bin ca t tiên cho ngoi bang bng văn t công hàm, hin rơ h́nh hài là mt bn quái thai chưa tng có trong lch s nhân loi!

Chp bút cho đ tài “i Nam Quan”, thay v́ tranh lun bng văn chương, tôi s s dng giá tr ca nhng tư liu bng h́nh nh. Bi v́, đă có rt nhiu nghiên cu công phu ca các tác gi yêu nước Vit nng nàn đă là qúa đ đ khng đnh “i Nam Quan là ca Vit Nam! i Nam Quan thuc v Trung Cng là do s hiến dâng ca Đng CSVN!”. Nhng h́nh nh s lưu li đây đ cho con cháu chúng ta hiu rơ hơn nim bi thương ca đt nước, ch cho các em bn bán nước hin đi là ai. Đ ri không c̣n ngày phi tôn th h́nh H-Mao và màu c máu ch c̣n là mt k nim bun. Rt bun! Hăy xác tin rng: “Nước Vit ca em t i Nam Quan đến mũi Cà Mau” là măi măi!

Bây giờ chết mẹ đảng ta,
Đám chệch tràn lan khắp nước nhà,
Chẳng thà bám đít bu theo Mỹ,
Thoát cảnh lầm than ôi xót xa
.

Thêm một lần nữa, chính thực tế cho thấy, từ khi lănh đạo CSVN đă cam kết tôn trọng "16 chữ vàng" trong quan hệ với Trung Quốc mỗi khi lănh tụ hai nước gặp nhau "láng ging hu ngh, hp tác toàn din, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" - đă được dân chúng trong nước sửa lại thành "láng ging khn nạn, cướp đất toàn din, ln biển lâu dài, thôn tính tương lai", theo "tinh thn 4 tt": láng ging tt, bn bè tt, đồng chí tt, đối tác tt...

Thật không dễ dàng ǵ khi biết một kẻ đang ŕnh rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là "láng ging tt", một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là "đồng chí tt", một kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác t́m dầu của ta mà vẫn nhận là "bn bè tt", một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là "đối tác tt"...

==============================================

Kẻ bán Ải Nam Quan là ai?

K bán i Nam Quan và bán luôn c cơ đ dân tc Vit Nam cho Trung Cng chính là H Chí Minh và Phm Văn Đng. Máu bán nước ăn sâu vào tng đi ca bn lănh đo CSVN. Đ chng minh rơ ràng nhng ti li ca bn bán nước buôn dân này vn c̣n nhng h́nh nh làm tang chng.

H́nh G1. HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950

HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950. HCM là người trùm khăn đứng thứ hai bên phải h́nh)

Việc qua lại giữa hai Đảng CS Trung-Việt liên tục diễn ra tại cổng Nam Quan. Tháng 10 năm 1953, Chánh Vụ Viện Trung Cộng đổi tên cổng Nam Quan thành “Mục Nam Quan” (chữ “Mục” có nghĩa là: ḥa thuận, ḥa hợp, thân mật, thân thiết…), đồng thời cả hai chính phủ Trung-Việt thành lập Ủy Ban Cửa Khẩu Mục Nam Quan. Cùng năm, thỏa thuận theo Chánh Vụ Viện Trung Cộng, Việt Nam mở cửa tự do cho hai cửa khẩu B́nh Nhi – Nam Quan. Năm 1953 đă có 276.000 lượt qua lại cổng Nam Quan giữa hai bên.

H́nh G2. HCM bang giao với TC tại cổng Nam Quan trong những năm 1950

- Tháng 2 năm 1954, hai bên chính phủ Hà Nội-Bắc Kinh soạn ra “Hiệp Định Mậu Dịch Biên Giới”.

- Ngày 26.09.1954, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu CSVN xuất phát từ cổng Nam Quan tham dự hội nghị tại Nam Ninh.

- Ngày 10.11.1954, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao VN là Phạm Văn Đồng đi từ cổng Nam Quan sang Bằng Tường tiếp tục đi Bắc Kinh ra mắt Chu Ân Lai.

H́nh G3. Phạm Văn Đồng ra mắt Chu Ân Lai

- Ngày 26.02.1955, khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội-Trấn Nam Quan. Hồ Chí Minh đọc diễn văn chúc mừng tại cổng Nam Quan.

H́nh G4. HCM và CÂL yến tiệc xa hoa tại Bắc Kinh tháng 06/1955

- Tháng 12.1958, hai huyện Ninh Minh, Long Tân kết hợp với Bằng Tường (Trấn Bằng Tường) thành lập huyện Mục Nam.
- CSVN phản ứng! Ngày 27.04 đến 02.05.1959, Trung-Việt hội nghị vấn đề biên giới tại Bằng Tường. Ngày 10.05.1959, chính phủ Trung Cộng quyết định xóa bỏ đơn vị “huyện Mục Nam”. Ninh Minh, Long Tân , Bằng Tường trở về đơn vị hành chính cũ.
- Ngày 04.09.1959, Chu Ân Lai đáp máy bay đến Bằng Tường hội đàm cùng Hồ Chí Minh vấn đề biên giới Trung-Việt.
-Năm 1960, Phạm Văn Đồng trồng cây si để làm mốc cho Km0 của Việt Nam.

Cây si do PVĐ trồng (?) nh́n từ bên phía VN. Vị trí tương ứng với khoảng cách của tường thành cổng Nam Quan cũ bên VN)
H́nh G6. Cây si PVĐ nh́n từ bên cổng Hữu Nghị Quan của TC

G5. Cây si do PVĐ trồng (???)


H́nh G7. Cây si PVĐ nh́n từ trên lầu thành Hữu Nghị Quan. Cụm nhà trắng là Hải Quan TC xây lại trên nền "nhà tṛn". Xa thẳm bên kia là cột Km0 hiện tại.

- Ngày 09.04.1961, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh “hội đàm” tại lầu 2 của cổ thành Mục Nam Quan. “Hội đàm” về nội dung ǵ th́ cả hai bên đều không công bố. Chỉ biết rằng cuộc “hội đàm” mờ ám tại Mục Nam Quan của hai lănh đạo cộng sản Trung-Việt được viết trong sách giáo khoa của bọn Trung Cộng là “mở ra một trang sử mới cho quan hệ Trung-Việt”.

H́nh G8. Lầu 2 tại Mục Nam Quan với nguyên trạng cuộc "hội đàm" giữa CÂL và HCM

H́nh G9. Bảng vàng ghi lại sự kiện

- Ngày 05.03.1965, Quốc Vụ Viện Trung Cộng và chính phủ CSVN cử hành lễ đổi tên “Mục Nam Quan” thành “Hữu Nghị Quan”. Tham dự phía bên Việt Nam có Tổng lănh sự VN trú tại Nam Ninh và đoàn chính phủ VN đến từ Lạng Sơn.

…Và kể từ sau đó, chính phủ CSVN đă dâng trọn Ải Nam Quan cho Trung Cộng để tiếp nhận viện trợ vũ khí tiến đánh miền Nam-Việt Nam Cộng Ḥa.

H́nh G10. Hữu Nghị Quan năm 1965. Biểu ngữ của TC và h́nh Mao Trạch Đông phơi vào phần lănh thổ VN


H́nh G11. So sánh với h́nh ảnh Mục Nam Quan năm 1959. Đoàn đại biểu CSTC lễ phép chụp ảnh tại cổng Nam Quan bên phía VN

H́nh G12. Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan

Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ và Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN

H́nh G13. Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN

Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!". Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC)

H́nh G14. Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN

 

H́nh G15. Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN

H́nh G16. Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ" do chính HCM kư tặng hoặc do PVĐ ban thưởng.

H́nh G17. Năm 1968, Hồ - Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN

http://www.canhthep.com/modules.php?...3031066&cpag=1
http://www.youtube.com/watch?v=ywZrFnoRg0g


H́nh G18

"Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng đạn, nhưng chính ngươi đă lấy súng đạn bắn vào da thịt ta!” (người anh em đồng chí TC nói!)

H́nh G19. Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978.

- Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đă xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới t́m kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đă đẩy lui lănh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hang trăm thước.

H́nh G20. Dấu đạn giao tranh Trung-Việt trên khắp tường thành "Hữu Nghị Quan"

H́nh G21. Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng

H́nh G22. Trao trả tù binh

- Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại "Km0" trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu
vực Hữu Nghị Quan
 

H́nh G23. Phụ ảnh tham khảo "Cột Mốc Số 18" giả mạo (?)

Đây là "Cột Mốc Số 18" mà TC cho rằng đă đặt tại cổng Nam Quan. Khác với "Cột Mốc Số 18" theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đă tŕnh bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: "BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam". Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN kư kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đă tiêu biến nơi đâu ?

Không ai biết rơ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói ǵ không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đă chủ trương một cách mù quáng: "Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN kư kết với quốc gia khác!"

Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đă trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đă kư văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt th́ Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng th́ làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lănh hải được. C̣n cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hăy xem h́nh (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).


H́nh G24

Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm ŕ, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đă nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.

H́nh G25. "Km0" trong những năm 1990. Biên pḥng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía
VN. Đáng nể!

H́nh G26. "Km0"

"Km0" trong những năm đầu 2000, khi đang xây dựng lại cảnh quan "Hữu Nghị" và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột c̣n ghi "Hữu Nghị Quan" và "cây si PVĐ" c̣n đó

H́nh G27. "Km0" mất chữ Quan


"Cây si PVĐ" bị đốn bỏ dă man vào năm 2005. Cột mốc cũng chỉ c̣n chữ "Hữu Nghị". Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ "Quan". Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa ḷng đàn anh TC!

H́nh G28

"Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không c̣n thấy cổng Nam Quan!

H́nh G29

"Km0" trong những ngày năm 2006. Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan
TC.

H́nh G30

Nh́n sang bên phải để thấy rơ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC.
 


H́nh G31

Ngang với "Km0" là giao điểm Quốc lộ 322 (điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu) của VN! "Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm"

H́nh G32

Nh́n sang VN. Đi thêm khong 100m na mi ti Cng kim soát ca Hi quan VN. Khong cách "th l" đă xung dưới chân i Nam Quan trong thi cng sn. Không c̣n nm trước mt cng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vy! i Nam Quan nào là ca VN? Bn Ô nhc!

Hàng trăm thước đt ca i Nam Quan là c mt đon đường dài hàng ngàn năm lch s ca Vit Nam, nơi mà t tiên Trung Cng phi bao ln cay đng nut hn…Đt bin t tiên mt qúa d dàng! Đng CSVN vn mt mc nói như Trung Cng, công nhn lănh th bt đu t ct “Km0”. Đng CSVN đă chà đp lên hn thiêng sông núi, thay ngai bang thm sát dân tc, giết chết lch s quê hương!


H́nh G33.
Vn cười đy! Hèn mn, bé nh là thế!

Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này c̣n "bản lĩnh" đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!


H́nh G34

Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam

H́nh G35

Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp h́nh ngay tại giao giới biên cảnh Trung-Việt. Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.
 

H́nh G36

Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù ḷa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng!

C̣n người Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố v́ tấm h́nh ôm cột mốc Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ c̣n nằm trong Chí Ḥa. Và tôi cũng từng bị biên pḥng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh "Hữu Nghị"!

H́nh G37

Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại, nhàn nhă như ở nhà. Chụp h́nh ư? Chuyện nhỏ! Đố tên biên pḥng VN nào dám làm khó dễ!

H́nh G38

Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!

H́nh G39

Đứng hai chân trên biên giới!
 

H́nh G40

Và ngồi lên "Km0" của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lănh thổ VN!

H́nh G41

Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng 04.2007)

H́nh G42

Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về ḷng yêu nước! "Tổ Quốc Tại Ngă Tâm Trung" (Tổ quốc trong tim ta)

H́nh G43

Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành hương
Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đ̣i hỏi Trung Cộng trả lại
vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước!

H́nh G44

Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham dự, ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn cười?
Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đă nối vào khu tự trị Quảng Tây!

***

ẢI NAM QUAN Chu tất Tiến.

 

Nhiều thập niên gần đây, khi nhà cầm quyền Cộng Sản đă để lộ dă tâm bán nước, hiện nguyên h́nh là một “CHÍNH PHỦ BÙ NH̀N” của Tầu Chệt, th́ vấn đề Ải Nam Quan lại rộ lên từ Nam chí Bắc, từ đất Tổ sang đến các cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Tùy theo vị trí của những nguồn dư luận, mà một trong hai khuynh hướng đối lập nhau được thể hiện. Với những người yêu nước, dù ở trong nước hay ở hải ngoại, th́ Ải Nam Quan là của TA, trong khi Hà Nội và các tâm điểm thảo luận do Chính Phủ Bù Nh́n Cộng Sản tổ chức th́ lại cho rắng đó là của TẦU. Dĩ nhiên, tuyệt đại đa số người Việt hải ngoại th́ luôn bảo vệ Đất Tổ và không nhân nhượng trong lập trường cho rằng Ải Nam Quan là của TA, chỉ trừ một thiểu số rất ít ỏi, những kẻ vong bản, gàn dở, và thất học, th́ mới cong lưng, cúi đầu chấp nhận lư luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà cho rằng Ải Nam Quan vốn dĩ là do TẦU xây nên, th́ nay TẦU chiếm giữ cũng là hợp lư thôi.

Những tay gàn dở đă hùa theo Tầu để dựa vào hiệp ước Thiên Tân kư năm 1885 mà cho rằng “CHÍNH VIỆT NAM ĐĂ KƯ KẾT HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN và chấp nhận rằng Ải Nam Quan là của Tầu. Hiệp ước quốc tế này đă chứng minh rằng Ải Nam Quan là của TẦU. Ngoài ra, cái kiến trúc Ải Nam Quan từ xưa đến nay đều do Tầu xây cho nên, theo đúng lư lẽ th́ Ải Nam Quan là của Tầu!” Chủ nhân của lư luận gàn dở ấy quên rằng khi đó, Pháp đă đô hộ Việt Nam và v́ muốn ḥa giải với Tầu, nên Thực Dân Pháp đă ép ta, lúc đó chẳng có sức mạnh nào cả, phải kư kết, không kư cũng không được.

Đến đây ta phải minh định rơ ràng hai điểm khác nhau: Kiến trúc Ải Nam Quan và Dải Đất trên đó Ải Nam Quan được xây dựng. V́ thế, khi nói đến chuyện tranh chấp ai là chủ Ải Nam Quan th́ phải phân biệt: Chủ cái kiến trúc đó, và Chủ Đất. Một khi đă là “Ải” hay “Trấn Biên Thùy” th́ nói đến sự sử dụng chung của cả hai bên biên giới.

Do đó khi nói: “Giang Sơn ta từ Ái Nam Quan đến Mũi Cà Mâu”, không có nghĩa là Giang Sơn từ bức tường phía Bắc của cái “Kiến Trúc Ải Nam Quan” kéo dài đến Mũi Cà Mâu, mà chỉ có nghĩa là “Đất” của ta tính từ Trung Tâm Điểm của Ải Nam Quan, nói đơn giản hơn, nếu đem Ải Nam Quan ra cưa làm đôi, th́ Việt Nam và Tầu, mỗi nước chiếm một nửa phần đất, mà trên đó Ải Nam Quan được xây dựng! Cũng giống như khi nói: “Tôi đi từ Hà Nội đến Sài g̣n”, không có nghĩa là “tôi đi từ biên giới phía Bắc của Hà Nội đến Sài G̣n”, mà có thể từ biên giới phía Nam của Hà Nội, hay từ giữa ḷng Hà Nội mà đi…

Hơn nữa, chính chữ “Ải” đă nói lên rằng đó là cái cửa ra vào ở đường biên giới. Theo Tự Điển Nguyễn Văn Khôn, Ải = Frontier pass. Ải có thể là một cấu trúc lớn, cũng có thể chỉ là một cḥi canh, một cánh cửa giao thương giữa hai nước có lính gác. Tại nhiều “cửa Ải” ở Trung đông, đôi khi chỉ là một cái rào cản bằng kẽm gai, lính gác hai bên kéo qua kéo lại. Như thế, Ải không thuộc về bất cứ một nước nào mà phải thuộc về cả hai quốc gia nằm hai bên Ài, nếu chỉ có một Ải chung.

Thực tế lịch sử đă chứng minh rằng dải đất trên đó mà Ải Nam Quan được xây dựng là của TA một nửa: Nửa phía Nam thuộc về Ta, nửa phía Bắc thuộc về Tầu. Nhiều sự kiện liên quan đến Ải Nam Quan đă minh chứng rằng Ải Nam Quan có một nửa (xẻ theo chiều ngang) là của Ta, và một nửa của Tầu như sau:

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (1882) đoạn nói về Ải Nam Quan: Ải Nam Quan cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là "Đại Nam Quan", phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quăng giữa có biển đề "Trấn Nam Quan", dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có "Chiêu đức đài", đằng sau đài có "Đ́nh tham đường" (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có "Ngưỡng đức đài" của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dăy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan th́ dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ."

Theo "Địa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ" của Ngô Vi-Liễn, Phạm Văn-Thư và Đỗ Đ́nh-Nghiêm (Nhà in Lê Văn-Tân xuất-bản, Hà-Nội, 1926):

"Cửa Nam-Quan ở ngay biên-giới Trung-quốc và Việt-Nam. Kể từ Hà-Nội lên đến tỉnh-lỵ Lạng-Sơn là 150 km; đến cây-số 152 là chợ Kỳ-Lừa; đến cây-số 158 là Tam-Lung; đến cây-số 162 là Đồng-Đăng; đến cây-số 167 là cửa Nam-Quan đi sang Long-Châu bên Tàu. Như vậy từ Đồng-Đăng lên cửa Nam-Quan có 5 km; từ Kỳ-Lừa lên Nam-Quan mất 15 km [về phía tây-nam chợ Kỳ-Lừa có động Tam- Thanh, trước động Tam-Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô-Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng-Sơn] và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km."

Quyển "Phương Đ́nh Dư địa chí" của Nguyễn Văn Siêu (bản dịch của Ngô Mạnh-Nghinh, Tự-Do xuất-bản, Saigon, 1960) th́ ghi:

"Cửa hay ải Nam-Quan, đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy (hay Pha- Dữ), ở về phía bắc châu Văn-Uyên, trấn Lạng-Sơn. Từ châu Bằng-Tường (tỉnh Quảng-Tây) bên Trung-quốc muốn vào nước An-Nam phải qua cửa quan này".

-Về các sự kiện lịch sử liên quan đến Ải Nam Quan:

a) Năm 981, sau khi vua Đinh Tiên Hoàng của nước ta (tên lúc đó được gọi là “Đại Cồ Việt”) bị ám sát, vua nhà Tống là Tống Thái Tông sai Hầu Nhân Bảo tấn công nước ta qua đường Lạng Sơn, đă dừng chân ở phía Bắc của Ải Nam Quan, rồi mới truyền lệnh cho mũi tấn công thứ nhất là từ Ải Nam Quan, trong khi các mũi tấn công khác th́ t́m đường khác mà xâm nhập. Việc này đă minh định là từ bên này cửa của Ải Nam Quan là đất của Ta.

b) Năm 1077, một lần nữa, Tống Thần Tông sai Quách Quỳ tấn công nước ta, lúc đó gọi là Đại Việt. Quân Tống cũng xếp hàng bên kia Ải Nam Quan rồi mới tiến xuống Ải Quyết Lư rồi tiếp theo là Ai Chi Lăng. (Ải Quyết Lư và Ải Chi Lăng là hai nơi cửa ngơ quan trọng được trấn giữ bởi một số quan lính ta. Hai Ải này không phải là Ải Biên Giới nên hoàn toàn do ta làm chủ).

c) Tiếp sau đó, đă hai lần vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Kubilai) sai Thoát Hoan tấn công Đại Việt bằng đường bộ qua Lạng Sơn năm 1284, 1287. Quân lính cũng phải đi qua ải Nam Quan mà xâm nhập nước ta.

d) Năm 1774, sau khi Ải Nam Quan được Tầu dổi tên là Trấn Nam Quan, th́ Đốc trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng Đang cho tu bổ Ngưỡng Đức Đài nằm về phía nam của Trấn Nam Quan, phía nước ḿnh.

e) Năm 1788, theo lời cầu viện của thân mẫu của Lê Duy Kỳ, vua nhà Thanh lCàn Long (1736-1795) cử Tôn Sĩ Nghị cầm đại quân sang Đại Việt, đi bằng ba ngả: Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào cửa Nam Quan, qua Lạng Sơn đi xuống, Sầm Nghi Đống đi qua đường Cao Bằng, và đề đốc Vân Nam Ô Đại Kinh vào đường Tuyên Quang. Đoàn quân viễn chinh nhà Thanh bị vua nhà Tây Sơn là Quang Trung đánh tan, phải chạy về vào đầu năm kỷ dậu (1789).

Ngoài ra, c̣n hai câu chuyện mang tính lịch sử liên quan đến Ải Nam Quan, đă chứng minh rằng Ải Nam Quan là của Ta:

1-Vào khoảng 1406-1417, thế kỷ 15, Nguyễn Phi Khanh bị quân Tầu bắt về Tầu. Nguyễn Trăi đi theo cha tới Ải Nam Quan, th́ phải dừng lại, v́ Nguyễn Phi Khanh dặn con phải trở về, lo đuổi quân Tầu, báo thù cho cha. Nguyễn Trăi vừa khóc vừa quay về và đầu quân dưới trướng Lê Lợi vào năm 1417. Như thế, Ải Nam Quan đă có từ trước thế kỷ 15.

2- Trước đó, vào năm 1308, thế kỷ 14, Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tầu, đến cửa Ài Nam Quan bị quân Nguyên bắt chui vào cánh cửa nhỏ. Ông chống lại, th́ bọn quan canh cửa đưa câu đối, nếu đối được th́ họ sẽ mở cửa. Câu đối có nội dung như sau:

Quá quan tŕ, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan (nghĩa là: Tới cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường cứ qua) Một vế đối hóc búa đến 4 chữ quan và 3 chữ quá? Mạc Đĩnh Chi thấy khó, nhưng ông đă nhanh trí dùng mẹo để đối như sau:

Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh Tiên sinh tiên đối (nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin mời Tiên sinh đối trước).

Vế đối của ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên, đúng với yêu cầu câu đối của viên quan ấy. Mạc Đĩnh Chi t́m được vế đối hay, khiến người Nguyên phải phục và liền mở cửa ải để đoàn sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi qua biên giới.

Như thế, dải đất phía Nam của Ải Nam Quan nguyên thủy được xây dựng là thuộc của Ta, c̣n Tầu chỉ có cái kiến trúc nằm trên mảnh đất đó. Đến khi Hiệp Ước Thiên Tân được kư, th́ Tầu đă di chuyển Ải Nam Quan vào sâu trong nội địa Tầu rồi, và đă xây một cái kiến trúc mới nằm ngay trong đất của TA.

Năm 1972, Chiến dịch Linebacker II do Nixon chỉ huy nhằm đánh thẳng vào đầu năo Bắc Việt bằng bom. Bắc Việt cầu cứu Tầu. Lập tức Tầu đă lợi dụng chuyện này, cho lập một hàng rào pḥng thủ bằng Hỏa Tiễn Sam, rồi dồn quân cắm sâu vào nội địa Bắc Việt với lư luận là phải bảo vệ hàng rào pḥng thủ này. Khi cuộc ném bom chấm dứt bằng Hiệp Định Paris 1973, Tầu “quên” không rút quân khỏi những vùng đă đóng quân trước đây, và chiếm luôn những đỉnh cao đó.

Đến trận Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung, 1979, Tầu đă tung quân tấn công 6 tỉnh biên giới: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, cũng khởi điểm từ Ải Nam Quan (mới) và lập nhiều đồn mới về phía Nam của Ải Nam Quan.

Ngày 5 tháng 3 năm 1979, sau khi chiến tranh kết thúc, Tầu rút quân về nước, nhưng cũng “quên” không trả đất và vẫn chiếm giữ vùng đất phía nam ải Nam Quan. V́ thế, trạm hải quan của Bắc Việt phải một lần nữa dời xuống phía nam ải nầy, sâu trong lănh thổ Việt Nam khoảng 300 đến 400 m về phía Nam.

Điều nhục nhă cho lịch sử Việt là vào ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại Hà nội, Nguyễn Mạnh Cầm, Ngoại Trưởng của Bắc Việt và Đường Gia Triển của Trung quốc chính thức kư ‘Hiệp ước biên giới trên đất liền’, xác nhận Ải Nam Quan thuộc về Tầu.

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Quan).

Như thế, dài đất mà trên đó xây Ải Nam Quan (cũ) là của hai nước Việt và Tầu. Sau này, Tầu lấn sân, xây Ải Nam Quan vào sâu trong đất của ta cả ngàn mét, và được Pháp công nhận. Vậy, công tŕnh Ải Nam Quan (mới) là do người Tầu xây thật, nhưng dải đất mà trên đó Tầu xây Ải Nam Quan lại là của Việt Nam. Đó là sự chiếm đoạt giang sơn Tổ Quốc Ta rơ ràng.

Người Việt sau này có ư muốn đ̣i lại Ải Nam Quan, là muốn đ̣i lại mảnh đất mà trên đó, Tầu xây dựng cái Ái Nam Quan kia, chứ c̣n cái công tŕnh xây cất bẳng gạch, xi măng đó th́ đúng là của Tầu thiệt, không ai thèm đ̣i. Giả sử mà bọn Tầu Ô kia mà chịu trả đất, thi ta nhất định giật sập cái Ải đó, hoặc biến cái kiến trúc đá đó thành một cái cầu tiêu khổng lồ cho dân Việt xử dụng, và sẽ xây một công tŕnh khác, trên đúng chỗ mà xưa kia ông cha ta đă gọi là Ải Nam Quan cũ từ thế kỷ trước thế kỷ thứ 14.

Hiện nay, những kẻ nào lư luận theo kiểu Cộng Sản Tầu và Cộng Sản Việt Nam mà cho rằng Ải Nam Quan là của Tầu, đều là những kẻ vọng ngoại, phản quốc, đáng bị trừng trị theo Luật Hồng Đức là “lăng tŕ” hay cho 4 ngựa phân thây, tài sản bị xung công, vợ con bị đầy lên khu nước độc. Nếu chiếu theo Luật Hồng Đức như thế th́ cả 15 tên thuộc Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đều phải bị xử “lăng tŕ” hết v́ tất cả đă đồng ư bán nước cho kẻ thù kinh niên là Tầu Cộng. Mong điều này sớm đến.

Chu Tất Tiến.

NÊN THẬN TRỌNG,

ĐỪNG ĐỂ BỊ VIỆT CỘNG LỪA BỊP NỮA.

Nguyễn-Huy Hùng

Trong cuốn CỔ HỌC TINH HOA do Ôn Như Nguyễn văn Ngọc và Tĩnh Trai Trần Lê Nhân biên dịch, có một câu truyện đề cập đến kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai thật là giá trị vô song. Hồ Chí Minh đă khai thác thực hiện một cách rất là nhuần nhuyễn, và đă khôn khéo truyền dạy cho bọn đàn em tôi luyện rất kỹ lưỡng.

Bây giờ Hồ Chí Minh không c̣n nữa, nhưng bọn đồng đảng hậu duệ nhờ rút tiả được những kinh nghiệm thực tế của Cha Ông để lại, nên trong hiện tại chúng tung ra những mánh khoé rỉ tai lừa bịp c̣n tinh vi xảo quyệt hơn Hồ Chí Minh nhiều.

Các Cụ ta ngày xưa thường ví “Con hơn Cha là nhà có phúc”. Nhưng trong trường hợp Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam hiện tại, phải sửa lại là “Việt Cộng con hơn Việt Cộng Ông Cha là quốc gia dân tộc vô phúc” th́ mới đúng. Từ hơn nửa Thế kỷ nay, Việt Cộng Ông Cha gian manh xảo quyệt nhờ thực hiện những mánh lới rỉ tai lừa bịp quy mô. đă reo hại bao nhiêu cho dân tộc rồi. Nay Việt Cộng Con Cháu nối nghiệp, nhờ rút tiả được kinh nghiệm xảo quyệt của Ông Cha để lại, c̣n gian manh xảo quyệt hơn Cha Ông gấp bội, hậu quả là bàn dân thiên hạ Việt Nam ở trong nước cứ tiếp tục phải cúi đầu câm nín chịu đựng, suốt thế hệ này sang thế hệ khác nối tiếp nhau suốt hơn nửa thế kỷ nay rồi, tội nghiệp biết chừng nào!

Để t́m hiểu xem cái kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai đó như thế nào mà lợi hại vậy, Tôi xin ghi lại câu truyện TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI để Quư độc giả xem cho biết, và suy ngẫm để mà THẬN TRỌNG giữ ḿnh cho không bị Việt Cộng xảo quyệt gian manh lừa bịp thêm nữa.

Xin nhấn mạnh là, Tôi dùng chữ THẬN TRỌNG chớ không dùng chữ CẢNH GIÁC, mà từ sau ngày xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Việt Cộng đă nhồi nhét cho mọi người nghe măi quen tai. Nay th́ cả những người Việt lưu vong tỵ nạn Cộng sản đang làm truyền thông Việt ngữ nơi hải ngoại, cũng dùng một cách tự nhiên trong việc giao dịch quảng cáo hàng ngày trên mặt báo, trên các chương tŕnh phát thanh và Vô tuyến truyền h́nh, cùng với những chữ khác nữa như ĐĂNG KƯ của Việt Cộng thay v́ dùng chữ GHI DANH, hay chữ THAM QUAN thay cho chữ THĂM VIẾNG mà toàn dân tộc Việt Nam vẫn quen dùng từ trước khi Việt Cộng xâm chiếm miền Nam…

 “TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI.

Ông Tăng Sâm ở đất Phí. Ở đấy, có kẻ trùng danh với ông giết người. Một người hớt hơ hớt hải chạy đến bảo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người”.Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà cứ điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc, lại có người đến báo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói ǵ, cứ điềm nhiên ngồi dệt cửi. Một lúc nữa lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.

GIẢI NGHIĂ: -Tăng Sâm: người thời Xuân Thu, tính chất thật thà và rất có hiếu. học tṛ giỏi đức Khổng Tử và sau truyền được đạo của ngài. -Trùng danh: hai hay nhiều người giống tên nhau. -Điềm nhiên: biết mà cứ im lặng như không.

NHỜI BÀN.- Tăng Sâm vốn là người hiền lành hiếu thảo bà mẹ vốn là người trung hậu, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không tin, người thứ hai bảo, c̣n chưa tin; đến người thứ ba bảo, th́ cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ là rất mạnh. Một việc, dù cho sai nhầm đến mười mươi, nhiều người đă cùng có một nghị luận đều như thế cả, th́ cũng dễ khiến cho ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom điả hoá ra rươi, trông con chó thành ra con cừu. Đến như giữa chợ, làm ǵ có cọp?

Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc rà được ngoài ṿng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thể được, mới cao; một chân lư có chứng minh rơ ràng, mười phần chắc chắn, th́ mới nên công nhận.”

Sau đây là vài sự kiện điển h́nh nhất đă xẩy ra trên đất nước Việt Nam, mà Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Cộng đă dùng mánh lới tuyên truyền rỉ tai lừa bịp rất hiệu quả, khiến cho quảng đại quần chúng đă mắc lừa nhiệt t́nh ủng hộ chúng, rút cuộc khi chúng đạt được mục đích rồi th́ lại bị chúng trắng trợn phản bội, mà vẫn phải ngậm đắng nuốt cay không dám chống đối chúng, v́ chúng có súng đạn quyền uy bạo lực và dă tâm độc ác hơn thào khấu:

1.-Trong các Thập niên 1940 và 1950 thuộc Thế kỷ 20.

Khi quân Phiệt Nhật đầu hàng quân Đồng minh Hoa Kỳ, th́ các nước thuộc địa Pháp tại bán đảo Đông Dương (trong đó có Việt Nam) giành lại được độc lập. Các đảng phái Nhân bản quốc gia Việt Nam không Cộng sản hoà hợp với Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh Cộng sản của hắn, để thành lập chính phủ Liên hiệp Quốc Cộng điều hành đất nước và tuyên bố phục hồi quốc gia độc lập với tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được toàn dân tộc tán thường.

Nhưng sau khi nắm được quyền hành trong tay rồi, Hồ Chí Minh đă lén kư Sơ Ước 6 tháng 3 năm 1946 với đại diện Pháp tại Hà-nội, bằng ḷng cho Pháp đổ quân lên trú đóng tại nhiều tỉnh thuộc hai miền Trung và Bắc Việt Nam, kể cả Thủ đô Hà Nội. Đến ngày 19-5-1946 Việt Minh ra lệnh dân chúng treo cờ đỏ sao vàng đón rước quân Pháp trở lại đóng quân trong Thủ đô Hà-nội, khi bị các đảng phái không Cộng sản trong chính phủ Liên Hiệp chống đối, th́ Việt Minh giải thích lếu láo là treo cờ để mừng ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rồi chúng lại truyền rao vu khống là các đảng phái Quốc gia âm mưu cấu kết tiếp tay cho Thực dân Pháp tái xâm lăng Việt Nam, và dùng bạo lực Công an để bắt giam và tiêu diệt thành viên của các đảng này một cách rất tàn bạo.

Mấy tháng sau, khi quân viễn chinh Pháp hoàn tất xong việc củng cố an ninh vị trí đóng quân và thâu thập được tin tức về thực lực của Việt Minh, Lănh đạo Pháp bắt đầu ngang ngược tạo ra những cuộc tranh chấp hành chánh, gây hấn để làm phát nổ trận chiến giữa Việt Minh và Pháp vào ngày 19-12-1946 trên toàn đất nước Việt Nam, nhằm mục đích tiêu diệt Việt Minh tái lập chế độ thuộc địa như trước.

Việt Minh thua phải bỏ các thành thị rút về các vùng rừng núi. Hồ Chí Minh

kêu gọi toàn dân đóng góp của cải và nhân vật lực để yểm trợ Việt Minh tiếp tục “ Tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp, bảo vệ nền độc lập quốc gia. Muôn người như một đă hết ḷng bao bọc nuôi dưỡng và bảo vệ quân Việt Minh kháng chiến. Đến năm 1950, sau khi quân Mao Trạch Đông chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch nắm quyền quản trị toàn lục địa Trung Hoa, th́ Hồ Chí Minh đă xin Đồng chí bậc thầy thuộc Quốc Tế Cộng sản Đệ Tam này, yểm trợ cố vấn tổ chức huấn luyện trang bị cho Việt Minh các Đại đơn vị có khả năng chiến đấu theo quy ước trận địa chiến với quân Pháp. Nhờ thế quân của Hồ Chí Minh tạo được nhiều trận chiến thắng gây tổn thất cho quân Pháp tại miền thượng du Bắc Việt. Sự kiện này đă dẫn đến việc Việt Minh và Pháp kư Hiệp định Genève ngày 21-7-1954 chia đôi đất nước Việt Nam thành hai miền Nam Bắc, và lằn ranh sơn trắng vạch ngang chính giữa cầu Hiền Lương bắc trên con sông Bến Hải, tại Vĩ tuyến 17 thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị, được chọn làm ranh giới giao tiếp giữa 2 miền Nam Bắc.

Bắt đầu có uy thế, nên vào năm 1953, Hồ Chí Minh đă khởi sự phát động sách lược Cộng sản bần cùng hoá nhân dân để san bằng giai cấp, bằng chiến dịch CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, LOẠI TRỪ ĐỊA CHỦ CƯỜNG HÀO ÁC BÁ… trong các vùng do Việt Minh kiểm soát. Hồ Chí Minh cho đồng bọn đàn em Việt Minh tuyển chọn những bọn du thủ du thực cướp đường trộm chợ đứng bến vô gia cư vô nghề nghiệp… để chiêu đăi hậu hỹ rồi thành lập các đội công tác xung kích đấu tố với toàn quyền sinh sát trong tay. Chúng nhồi sọ cho bọn này rằng các người trong các giai cấp trung lưu tư sản địa chủ… có của ăn của để hơn người, là v́ chúng đă

 ừng tiếp nối nhau đời này qua đời khác bóc lột sức lao động của quảng đại quần chúng nông dân và công nhân, nên cần phải diệt cho tuyệt nọc để giành lại những của cải ấy chia đều cho giai cấp vô sản trở thành chủ tập thể, mọi người sống hoà đồng b́nh đẳng, không c̣n cảnh người bóc lột người như dưới các thời Thực Dân Phong kiến trước kia nữa…

V́ thế, hàng trăm ngàn người dân lành trước nay từng tỏ ḷng nhiệt t́nh yêu nước và là ân nhân bảo vệ tiếp tế bao nuôi KHÁNG CHIẾN, nay trở thành kẻ thù không đội Trời chung với KHÁNG CHIẾN, và đă được Hồ Chí Minh và bọn thảo khấu Việt Minh trả ơn bằng cái chết không toàn thây, sau những cuộc đấu tố đánh đập dă man trước những toà án nhân dân do Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Minh dựng lên tại khắp các vùng nông thôn do chúng kiểm soát. Vô nhân đạo nhất là Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, đă về tận quê nội của ḿnh để đích than đấu tố chính cha ruột của hắn đến chết. Sau này vào tháng 7 năm 1986, sau khi Tổng bí Thư Lê Duẩn chết, hắn được Đảng cử làm Tồng Bí Thư nắm toàn quyền sinh sát cả đảng viên lẫn quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam một thời gian.

2.- Trong các Thập niên 1960 và 1970 của Thế Kỷ 20.

Hồ Chí Minh không thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, do chính phe Việt Minh của hắn kư kết với Pháp để chia đôi đất nước Việt Nam thành 2 miền Nam Bắc sống biệt lập, theo 2 thể chế chính trị khác nhau (Bắc theo Cộng sản, Nam theo Tư bản). Hắn đă để một số cán bộ Cộng sản ṇng cốt nằm vùng tại miền Nam, tiếp tục thi hành sách lược tuyên truyền rỉ tai về cái bánh vẽ TRUNG LẬP HOÀ HỢP QUỐC CỘNG để lôi cuốn các nhà trí thức miền Nam hoạt động chống phá Chính quyền miền Nam, và ngoan ngoăn nghe theo lời dụ dỗ của Hồ Chí Minh để thành lập cái MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (MTGPMN) quái gở, rồi ít lâu sau Hồ Chí Minh và bọn Việt Cộng Bắc Việt lại khoác cho bọn MTGPMN này cái mặt nạ hề mới là CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM (CPLTCHMN), để hoạt động khủng bố phá hoại nền kinh tế và an ninh cuộc sống của quảng đại quần chúng tại miền Nam Vĩ tuyến 17 (ranh giới chia đôi 2 miền Nam Bắc tại sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị).

Sau đó, với sự thúc đẩy hiệp lực yểm trợ của cả khối Cộng sản Quốc tế do Liên Xô Nga lănh đạo, Hồ Chí Minh đă chính thức phát động cuộc chiến xâm lăng miền Nam Việt Nam khởi từ cuối năm 1959, và kéo dài mỗi ngày một khốc liệt hơn cho tới 30-4-1975 mới chấm dứt. Việt Nam Cộng Hoà tại miền Nam bị thua cuộc chiến xâm lược do chính Việt Cộng tay sai của Quôc tế Cộng sản lănh đạo giật dây hành động này, là v́ một mặt bị đồng minh Hoa Kỳ do nhu cầu quyền lợi đất nước phải thay đổi chiến lược toàn cầu đối đầu với phe Quốc tế Cộng sản nên đă bội ước không tiếp tay yểm trợ nữa, và mặt khác do nhóm chủ trương TRUNG LẬP trong chính quyền miền Nam do Dương văn Minh lănh đạo cũng phản bội bắt tay với Việt Cộng, ra lệnh buộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chống Cộng sản xăm lăng phải buông súng đầu hàng.

Sau khi chiếm được toàn miền Nam Việt Nam, bè lũ Việt Cộng Hà Nội mới kiêu ngạo công khai tự lột cái mặt nạ gian manh xảo quyết lừa bịp của chúng ra, bằng cách tiêu diệt ngay 2 con hề rối đồng chí một thời của chúng là MTGPMN và CPLTCHMN, v́ không c̣n cần thiết nữa. Chúng quyết định tuyên bố thành lập nước CỘNG HOÀ XĂ HỘI CHỦ NGHIĂ VIỆT NAM (gồm cả 3 miền Bắc Trung Nam) dưới quyền cai trị độc tôn toàn trị chuyên chính của Trung Ương Đảng Việt Cộng đặt Thủ đô tại Hà Nội.

Phe nhóm chính trị hoạt đầu tại miền Nam Việt Nam chủ trương TRUNG LẬP HOÀ HỢP VỚI VIỆT CỘNG BẮC VIỆT, mà người miền Nam đều biết qua cái ô danh là PHE THỨ BA gồm một số tu sĩ Công giáo, Phật giáo, nhà Văn, nhà Báo, Trí thức Chính trị gia hoạt đầu “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” theo đóm ăn tàn đă gây nhiều rối rắm lủng củng chính trị tại miền Nam trước 30-4-1975, cũng đă bị bọn Việt Cộng lường gạt trở mặt, trừng trị tàn bạo bằng nhiều h́nh thức khác nhau. Sau khi những miếng chanh này đă được Việt Cộng vắt hết nước, th́ vỏ chẳng c̣n công dụng ǵ nữa phải vứt đi cho sạch rác rưởi, v́ nhóm này không phải là Cán bộ Cộng sản nồng cốt. Bọn này một số đă chết tức tưởi trong các trại tù tập trung cải tạo, một số ân hận nhục nhă sống vất vưởng trong xă hội mới xă hội chủ nghiă, và một số may mắn t́m cách thoát chạy được ra nước ngoài xin tỵ nạn.

3.- Trong mấy năm đầu Thập niên 2000 của Thế Kỷ 21.

Bọn lănh đạo Đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam, đă lừa bịp cả thế giới Tư bản bằng những mánh khoé rất xảo quyệt tinh vi để được gia nhập khối thị trường Quốc tế WTO, và được bầu làm Hội viên không thường trực đại diện các nước Á Châu trong HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HIỆP QUỐC. Chúng đă:

a.- Thả lỏng cho một số nhóm bất đồng chính kiến đang tranh đấu chống bạo quyền ở trong nước liên lạc tiếp xúc với những nhóm yểm trợ nơi hải ngoại, thành lập những phong trào, đảng, hội, phổ biến những quyết nghị lên tiếng chống Đảng và bạo quyền Việt Cộng, đ̣i các quyền Tự do Dân chủ...

b.- Làm ngơ để cho các nhóm này phát hành CHUI vài tờ báo viết, báo điện tử, các tờ thông cáo kêu gọi mọi người tham gia đoàn kết đ̣i bạo quyền trà lại các quyền Tự do báo chí, tự do lập hội, được phép thành lập đảng chính trị không Cộng sản…

c.- Để cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng Lănh sự Hoa Kỳ tại Saigon tổ chức những buổi tiếp tân gặp gỡ trao đổi ư kiến với các nhà đấu tranh cho Dân chủ ở trong nước một cách tự do thoải mái…

Những sự kiện này chỉ nhằm mục đích lừa bịp Hoa Kỳ và các nước phương tây khác, tưởng rằng Việt Cộng đang từ bỏ thể chế độc tài chuyên chính để đổi mới theo xu thế thời đại Tự do Dân chủ tôn trọng Nhân quyền…

Nhờ thế, chúng mới được Hoa Kỳ bỏ tên ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm v́ vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, và b́nh thường hoá thương mại song phương b́nh đẳng. Và tiếp theo đó, các nước Tây phương thành viên WTO cũng bớt xét nét các điều kiện căn bản và dễ dăi trong việc quyết định chấp thuận cho chúng được trở nên thành viên chính thức của tổ chức WTO, và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc mới chấp nhận cho được làm Thành viên không thường trực đại diện cho các nước Á Châu trong Hội đồng Bảo An LHQ trong một nhiệm kỳ bắt đầu từ năm 2008.

Và buồn thay, một sự kiện khủng khiếp đă xẩy ra ngoài sự tưởng tượng của mọi người là, ngay sau khi Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam được công nhận chính thức là thành viên của WTO, th́ bạo quyền Việt Cộng lập tức khởi phát rầm rộ chiến dịch bắt bớ giam cầm xử tội nặng nề tất cả những người thuộc các nhóm tranh đấu cho dân chủ ở trong nước, một cách ồ ạt tàn bạo không nương tay, mặc dù có những phản đối mănh liệt của các nước đă thoả thuận giúp cho Việt Cộng được vào WTO.

Để kết luận,

Chỉ một vài sự kiện tiêu biểu tŕnh bầy trên đây thôi, đă cho chúng ta thấy tài gian manh xảo quyệt lừa bịp tinh vi của Việt Cộng như thế nào. Do đó chúng ta phải hết sức thận trọng, “đi với Phật th́ mặc áo cà sa, đi với ma th́ mặc áo giấy”, đừng bao giờ cư xử theo tư cách quân tử Tầu thuở xa xưa với bọn lừa bịp chuyên nghiệp Việt Cộng, để ḷng mềm yếu nghe theo những lời dụ dỗ tâng bốc phỉnh mị lừa bịp của bọn Việt Cộng gian manh xảo quyệt này nữa.

Việt Cộng đă lừa bịp nhân dân Việt Nam và Thế giới để có được vị thế hiện nay. Chúng đă lừa bịp lôi cuốn nhân dân Việt Nam theo chúng loại bỏ các thế lực phong kiến tư bản cũ, mà chúng kết tội là những nhóm người bóc lột người, để ngày nay chúng trở thành thế lực Phong kiến Tư bản Đỏ mới, độc quyền chuyên chính bóc lột người c̣n thậm tệ gấp trăm ngàn lần các thế lực cũ.

Trong hiện tại, toàn dân Việt Nam ở trong nước đang là giai cấp lao động nô lệ của giai cấp lănh đạo cầm quyền phong kiến thực dân bóc lột mới là bè lủ Việt Cộng.

Chúng ta đừng bao giờ quên lời tuyên bố của ông Putin một cựu lănh tụ Cộng sản Nga nay đă thức tỉnh, đang là Tổng Thống điều hành quản trị đất nước Nga theo thể chế Dân chủ Tự do Tư bản thiệt sự. Ông ấy đă nói rằng: CỘNG SẢN CẦN PHẢI THAY THẾ, CHỨ KHÔNG THỂ NÀO CẢI ĐỔI ĐƯỢC.

Do đó, chúng ta phải đồng ḷng hiệp sức yểm trợ cho các nhóm đấu tranh cho Tự do Dân chủ Nhân quyền ở trong nước có những cơ hội và hoàn cảnh thuận lợi tối đa, vận động được toàn dân tộc Việt Nam vùng lên đều khắp mọi nơi, trong mọi lănh vực xă hội, để loại bỏ hẳn bè Đảng Việt Cộng và bạo quyền do chúng đẻ ra, để toàn dân tộc Việt Nam đang sống ở trong nước sớm có được mọi quyền căn bản của con người, dưới một chính quyền Dân chủ Pháp trị do chính toàn dân chọn bầu tín nhiệm, càng sớm càng tốt.

Dể chấm dứt bài viết, kính mời Quư vị xem tài liệu phụ đính dưới đây dẫn chứng về Hội nghị bí mật tại Thành Đô năm 1990 với sự hiện của bè lũ lănh đạo Việt Cộng gồm có Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, phiá Trung Cộng gồm có Giang Trạch Dân, Lư Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tuyển Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu.... đă thảo luận các thỏa hiệp sát nhập nước Việt Nam vào lănh thổ "Trung Quốc", và bè lũ cầm đầu Bộ Chính Trị Đảng trong hiện tại vẫn đang ngoan ngoăn tiếp tục thực hiện các chỉ thị của quan thầy Đại Hán Trung Cộng để kế hoạch hoàn tất vào năm 2020 như đă dự trù.

Cầu xin Ơn Trên Trời Phật Thượng Đế và Anh linh các Anh hùng Liệt nữḍng giống Tiên Rồng Việt Nam phù trợ cho tất cả chúng ta.

NGUYỄN-HUY HÙNG.

Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tổng Cục Trưởng Chiến tranh Chính trị, Kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến,

Cựu tù nhân chính trị, 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung của Đảng và bạo quyền Việt Cộng sau 30-4-1975.

- Thỏa Hiệp ngầm 05-07-2020 là ngày thực hiện đợt 1 sát nhập nước ViệtNam.

- TS KERBY ANDERSON NGUYỄN.

10 giờ sáng ngày 08-04-2013, Thiếu Tướng Hà Thanh Châu, Chính Ủy Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Pḥng (Chủ Nhiệm Tổng Cục là Trung Tướng Nguyễn Đức Lâm) được Luật Sư William Lê hướng dẫn đến Sở Di Trú King County, Seattle, tiểu bang Washington State, nạp đơn "xin tỵ nạn chính trị".

Sau 2 tuần lễ ông và vợ ông đi thăm 3 người con đang là "du học sinh" ở tiểu bang này.

Bốn ngày sau, qua trung gian của 1 "viên chức" cao cấp Hoa Kỳ, ông trao cho chủ bút Tạp Chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu "tối mật", có liên quan đến sự sống c̣n của nước Việt nam, dự trù sẽ đăng tải cuối năm 2013. Tập tài liệu này, do người anh vợ của ông: Thiếu Tướng H.T.T. làm Chính Ủy Tổng Cục 2, dưới thời Tổng Cục Trưởng Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI mang bí số ML887, ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lănh đạo Việt Nam:

Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh và

- Trung Cộng: Giang Trạch Dân(sinh năm 1926), Lư Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp

Tuyển Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu....tại Thành Đô, thảo luận các thỏa hiệp sát nhập nước Việt Nam vào lănh thổ "Trung Quốc". Chúng tôi (tác giả bài viết này), hiện làm "binh bút" cho tờ Foreign Policy Magazine, nên được phổ biến bằng Việt ngữ, giới hạn trong ṿng than hữu.

Thật ra, các cam kết "giao nước Việt Nam cho Trung Quốc", đă được "kư" bằng "lời hứa danh dự " của ông Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Tàu Trần Canh và Vị Quốc Thanh, thay mặt cho Mao Trạch Đông vào năm 1926.

Bốn năm sau, năm 1930, thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Hồ khẳng định một lần nữa với Tổng Lư Chu Ân La: "Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc.Một Nền văn hóa.Một phong tục.Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, th́ nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi h́nh thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa...."

Ngày 14-09-1958, ông Hồ chỉ thị Thủ tướng Phạm Văn Đồng kư "công hàm" giao đứt quần đảo Hoàng Sa cho Mao Trạch Đông. Lê Duẩn (tên thật Lê Văn Nhuận: 1907-1986) chết ngày 10-07-1986, ông Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) lên nắm chức Tổng Bí Thư, tức khắc nối lại bang giao với Trung Quốc bằng 1 câu nói để đời trong lịch sử: "Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước c̣n hơn mất Đảng".

Ngày 10-08-1987, ông Nguyễn Văn Linh (đang mắc bệnh ung thư) bay qua Trùng Khánh gặp Hồ Diệu Bang (1915-1989), Đặng Tiểu B́nh (1904-1992= thọ 92 tuổi) bàn luận về các kế họach cắt đất, cắt biên giới và phát họa rơ ràng hơn 1 chương tŕnh "sát nhập Việt Nam vào lănh thổ Trung Quốc" qua chiến thuật " Hoà B́nh, hữu nghị, chầm chậm, êm ả, kín đáo, không ai có quyền biết đến" với thời gian 60 năm, phân ra làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 20 năm.

GIAI ĐOẠN I : Ngày 15-07-2020 : QUỐC GIA TỰ TRỊ.

GIAI ĐOẠN II : Ngày 05-07-2040 : QUỐC GIA THUỘC TRỊ.

GIAI ĐOẠN III: Ngày 05-07-2060 : Tỉnh lỵ Âu Lạc.

Tỉnh trửơng vẫn là người Việt, đặt dưới quyền lănh đạo của Tổng Đốc Quảng Châu.

Thời gian này, tiếng Việt là ngôn ngữ phụ, tiếng Tàu là ngôn ngữ chính.

Một chút lịch sử về "Âu Lạc”: Thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch, ông Thục Phán, thủ lănh của bộ tộc Âu Việt, là một trong những bộ tộc của Bách Việt ở về phía Bắc Văn Lang đă cùng Hùng Vương thứ 18 đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Tần. Sau khi thắng quân Tần, vua Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Phán, sát nhập lănh thổ của người Âu Việt và Lạc Việt vào một, lập nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay. Ông tự xưng là An Dương Vương, Nước Âu Lạc của An Dương Vương bị Triệu Đà thôn tính vào năm 206 trước Tây Lịch”.

QUY CHẾ KHU TỰ TRỊ: Sau đây xin mời quư vị nghe lại cuộn băng nhựa của Tổng Cục 2 Việt nam với lời lẽ bề trên, trịch thượng của người Tàu, ban mệnh lệnh, giáo huấn, dạy dỗ, răn đe cấp lănh đạo Việt Nam phải làm những ǵ suốt 60 năm dài "tịch thu" nước Việt Nam từng bước một: "Âm thầm, Lặng lẽ, Từ từ như tằm ăn dâu. Khéo như dệt lụa Hàng Châu. Êm như thảm nhung Thẩm Quyến...theo thể thức "diến tiến hoà b́nh".

Làm cách nào để cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nh́n nhận rằng, người Tàu không "cướp nước Việt" mà chính người Việt Nam tự ḿnh "dâng nước" và tự ư đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.

Tại Thành Đô, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh xin xỏ Đặng Tiểu B́nh: "Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng đế quốc Pháp , đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc xóa bỏ các hiểu lầm, các bất đồng đă qua. Phía Việt nam sẽ làm hết sức ḿnh để vun bồi t́nh hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công xây dựng trong qua khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng "quy chế khu tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh" như Trung Quốc đă từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương, Quảng Tây...Để kịp chuẩn bị tâm lư nhân dân và giải quyết các bước cần thiết cho việc gia nhập vào đại gia đ́nh dân tộc Trung Quốc, xin cho thời hạn chuyển tiếp sát nhập là 60 năm: 1990-2020; 2020-2040; 2040-2060.

NHỮNG CÁI TT KHÓ QUÊN

CỦA DÂN TC VIT NAM

TRONG HẬU BÁN THẾ KỶ 20.

 

KHIẾT CHÂU NGUYN-HUY HÙNG

Trong cuộc đi mi người Vit Nam tùy theo tui tác đu có nhng kỹ niệm khó quên khác nhau. Nhưng người ta thường nhớ nhiều và nhớ lâu hơn cả là những kỹ niệm về Tết, v́ nó là phong tc tp quán ca Dân tc và xy ra liên tc hàng năm tri dài sut cuc đi, hết thế hệ này qua các thế hệ khác nối tiếp nhau vô tn.

u Thiếu nhi mong Tết để được mc qun áo mi, được nhn tin ĺ x́, được ăn nhng món ăn đc bit ngon sang hơn ngày thường, được đi vui chơi ăn quà thoi mái trong các nơi hi hè đ́nh đám, được tha hồ nghịch ngm phá phách không sợ bị la rầy đánh đ̣n nhờ người ln kiêng cữ sợ “dông” trong mấy ngày Tết, và đc bit được thêm tui để mau thành người ln.

Thanh niên Nam Nữ độc thân mong Tết v́ có dịp trưng diện bảnh bao, tụ tập bạn bè vui chơi săn t́m bạn khác phái, tăng tuổi trưởng thành để mau chấm dứt chương tŕnh học vấn và có thể đi làm kiếm tiền, để được toàn quyền quyết định lối sống riêng ngoài ṿng kiềm toả của cha mẹ.

Người già vui Tết v́ được dịp thấy đông đủ con cháu họ hàng đoàn tụ, quay quần bên nhau chia xẻ những nỗi nhớ nhung sau cả năm trời xa cách mỗi người mỗi phương, hoặc bận bịu công việc hàng ngày ít có thời giờ gặp gỡ truyện tṛ thong thả.

Riêng giới trung niên và sồn sồn chưa đến tuổi thọ “thất thập cổ lai hy” có gia đ́nh, có địa vị trong xă hội, làm ăn khá giả th́ mong Tết để có dịp trưng diện, sửa sang nhà cửa, ăn Tết linh đ́nh, khoe cái sang trọng quư phái của ḿnh. Nhưng trường hợp những người đang gặp hoàn cảnh khó khăn về tài chánh hoặc làm ăn thua lỗ, th́ Tết lại là mối lo âu đến mất ăn mất ngủ. V́ nếu Tết đến, cửa nhà con cái không được lo cho đầy đủ bằng người, th́ xấu mặt hổ ngươi với xóm giềng họ hàng làng nước.

Đó là nói về trường hợp những cái Tết khó quên thuộc phạm vi cá nhân và gia đ́nh. Trên b́nh diện Quốc gia Dân tộc cũng có những cái Tết khó quên, v́ những sự kiện xẩy ra đă ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của mọi người và tương lai hưng thịnh hay suy vi của cả một xă hội.

Hôm nay, nhân dịp các đồng hương Việt Nam lưu vong tỵ nạn Cộng sản vui hưởng Tết Đinh Hợi 2007 trong Hạnh phúc ấm no dư giả, Nhân quyền được tôn trọng bảo vệ, Tôi xin lược lại những cái Tết theo ghi nhận riêng, thấy là khó quên trong Hậu bán Thế Kỷ 20 trên đất nước Việt Nam, để chúng ta cùng nhớ lại những kỷ niệm cũ, đồng thời giúp cho các Bạn trẻ thuộc các thế hệ Hậu Duệ sinh ra lớn lên và trưởng thành nơi hải ngoại (từ sau cái mốc lịch sử đen tối đau thương nhất của dân tộc Việt Nam là ngày Quốc hận 30 tháng 4 năm 1975, cả nước bị đắm ch́m dưới sự cai trị chuyên chính vô sản độc tài tàn bạo vô nhân đạo của bè lũ Đảng Cộng sản và Bạo quyền Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam), biết được rơ ràng trung thực về những cái Tết buồn vui lẫn lộn, mà các Thế hệ Ông Bà Cha Mẹ đi trước ḿnh đă phải trải qua, nhưng chẳng bao giờ muốn hay có th́ giờ kể lại

cho nghe.

TẾT BÍNH TUẤT (2 tháng 2 năm 1946)

Sau khi các đảng phái chính trị (Quốc gia Nhân bản và Cộng sản) liên hiệp với nhau tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại vườn hoa Ba Đ́nh Hà Nội, nhờ thời cơ Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945 Thế giới Đại Chiến II chấm dứt, toàn dân tộc Việt Nam hân hoan ăn mừng cái Tết Bính Tuất

Độc Lập đầu tiên, sau thời gian dài cả 100 năm sống dưới ách đô hộ của Thực dân Pháp, th́ Hồ Chí Minh và phe Việt Minh Cộng sản của hắn ta phản bội dân tộc, công khai ra tay đàn áp tiêu diệt nhân sự thuộc các Đảng phái Quốc gia Nhân bản trong Chính phủ Liên hiệp để chiếm toàn quyền quản trị Quốc gia. Sau đó, chúng kư Sơ Ước tại Hà Nội ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Pháp để mặc nhiên công nhận việc Pháp thong thả tái lập chính quyền thuộc địa tự trị tại miền Nam, đồng thời được thong thả đem quân đội trở lại chiếm đóng nhiều tỉnh tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam không tốn một viên đạn, mà c̣n được Hồ Chí Minh và phe Việt Minh của hắn đón rước bảo vệ an ninh lộ tŕnh di chuyển quân tử Hải Pḥng lên lập doanh trại trú quân ngay trong giữa thủ đô Hà Nội.

V́ thế mới có cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng phát trên đất nước Việt Nam vào ngày 19 tháng 12 năm 1946, và kéo dài cả gần 20 năm tiếp theo trong Hậu bán Thế kỷ 20, gây ra bao tang thương cho dân tộc và đất nước Việt Nam.

TẾT CANH DẦN (17 tháng 2 năm 1950).

Toàn dân tộc Việt Nam ăn mừng cái Tết Canh Dần Quốc gia Việt Nam Độc lập Thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam, được cả trăm quốc gia trong Khối Tự do Tư bản công nhận đặt cơ sở Ngoại giao hàng Đại sứ, sau khi Quốc trưởng Bảo Đại kư Hiệp Ước Élysée với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949 tại Paris.

Pháp chấm dứt chiến tranh và hỗ trợ kinh tế kỹ thuật để dân tộc Việt Nam phục hưng tái thiết đất nước trong hoà b́nh, th́ Hồ Chí Minh và phe Việt Minh nhờ sự viện trợ của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Nga và Trung Cộng lănh đạo, tiếp tục gây chiến tàn phá quê hương giết hại đồng bào.

TẾT ẤT MÙI (7 tháng 2 năm 1955).

Toàn dân miền Nam Việt Nam (từ Vĩ tuyến 17 trở xuống) hân hoan ăn mừng Tết Ất Mùi Hoà B́nh không c̣n chiến tranh, nhờ Hiệp Định Genève 21 tháng 7 năm 1954 do Việt Minh cấu kết với Pháp kư, chia đôi đất nước ra 2 vùng tự trị (từ Vĩ tuyến 17 lên phiá Bắc thuộc quyền cai trị của Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng sản, từ Vĩ tuyến 17 xuống phiá Nam thuộc quyền cai trị của chính phủ Quốc gia Việt Nam theo thể chế Tự do Dân chủ Tư Bản do Quốc trưởng Bảo Đại lănh đạo), th́ tại miền Bắc, Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng sản rập khuôn chính sách vô sản chuyên chính của Trung Cộng, đẩy mạnh chiến dịch cải cách ruộng đất tức là “cách mạng thổ địa” áp dụng phương sách “đấu tố”, phát động từ cuối năm 1953

giết hại khoảng hơn ba trăm ngàn đồng bào, với tội danh địa chủ phú ông, cường hào ác bá, trí thức Tiểu tư sản, và các đảng viên Cộng sản mang trong người ḍng huyết thống không thuộc thành phần Vô sản chưa dứt khoát kiên định lập trường theo vô sản chuyên chính, cũng bị hạ tầng công tác đem về địa phương sinh quán

đấu tố cùng với ông bà cha mẹ của ḿnh.

Trong chiến dịch này, Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu đă phải thi hành lệnh của Hồ Chí Minh và Đảng về quê Nội để đấu tố giết chết chính cha ruột của hắn. Quảng đại quần chúng kinh hoàng sợ hăi, nhưng bất măn đến nỗi nhiều nơi đă dũng cảm vùng lên chống đối chính sách. Hồ Chí Minh xảo quyệt giả bộ áp dụng kỷ luật cách chức Tổng Bí Thư của Trường Chinh để lừa gạt trấn an quần chúng, với tội danh không thi hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời hứa sửa sai và chỉ thị Phạm văn Đồng thay mặt chính phủ xin lỗi quần chúng. Ít lâu sau, Trường Chinh lại được Hồ Chí Minh cho nắm giữ những trọng trách quan trọng trong Ban Bí Thư Trung Ương Đảng. Đến ngày 14 tháng 7 năm 1986, sau khi Lê Duẩn chết, Trường Chinh được Đảng đưa lên làm Tổng Bí

Thư quyền uy bao trùm cả Đảng, Quốc hội bù nh́n, và Nhà nước Cộng hoà Xă hội Chủ Nghiă Việt Nam.

TẾT BÍNH THÂN (1956).

Toàn dân miền Nam Vĩ tuyến 17 do Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo, hân hoan mừng Tết Bính Thân Thanh b́nh Độc lập thật sự, v́ Pháp rút hết quân ra khỏi miền Nam, đất nước hoàn toàn Độc Lập Tự do Dân chủ theo thể chế Chính trị Cộng hoà với “Tổng Thống chế” theo mô thức Hoa Kỳ, với quốc danh Việt Nam Cộng hoà, được cả trăm nước trong Thế giới Tự do Tư bản công nhận và trao đổi cơ sở Ngoại giao hàng Đại Sứ, th́ dân chúng sống trên miền Bắc Vĩ tuyến 17 dưới quyền cai trị của Hồ Chí Minh và bè lũ Cộng sản vong nô, chưa hết bàng hoàng lo sợ v́ chiến dịch “đấu tố” tức “cách mạng thổ địa” phát động từ cuối năm 1953 vẫn c̣n đang tiến hành chưa chấm dứt.

TẾT GIÁP TH̀N (1964).

Tại miền Nam Việt Nam, hậu quả cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 (gọi là Cách mạng 1-11-1963 để lật đổ chế độ gia đ́nh trị), do nhóm Tướng Tá thực hiện dưới quyền điều khiển của Tướng Dương văn Minh, 2 anh em Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu bị giết hại, nên quảng đại quần chúng miền Nam đón Tết Giáp Th́n dưới 2 trạng thái tinh thần khác hẳn nhau. Những người thuộc phe “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” và phe ủng hộ

Sư Săi theo Thích Trí Quang th́ mừng Tết thật lớn với ḷng hân hoan phơi phới. C̣n những người bị coi là thuộc phe “Cần lao Nhân vị thân Tổng Thống Diệm” th́ chán nản lo âu v́ bị mất địa vị đọa đầy khốn đốn, và quần chúng theo Ki-tô Giáo sống bất an v́ những hành động kỳ thị của nhóm thiểu số Phật tử quá khích theo Thích Trí Quang.

Sau cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963, Tướng Nguyễn Khánh Tư lệnh

Quân đoàn I và Tướng Trần Thiện Khiêm Tư lệnh Quân đoàn III không được đề cử vào “Hội đồng Quân nhân Cách mạng”, nên 2 người cấu kết với nhau làm cuộc “chỉnh lư”, loại nhóm Tướng Trần văn Đôn, Lê văn Kim, Mai hữu Xuân, Nguyễn văn Vỹ, Tôn Thất Đính, và đem giam cầm tại Đà Lạt, đồng thời đưa Tướng Dương văn Minh lên làm Quốc Trưởng, Tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, và Tướng Trần Thiện Khiêm làm Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn.

Với hoàn cảnh rối beng như vậy, Hồ Chí Minh và phe Việt Cộng ngoài Bắc Vĩ tuyến 17 hân hoan ăn mừng Tết Giáp Th́n thật lớn. V́ mất Ngô Đ́nh Diệm, miền Nam sẽ rơi vào t́nh trạng thiếu Lănh tụ, nhóm Tướng Tá làm đảo chính thành công lo củng cố thế lực riêng để tranh dành nhau quyền Lănh đạo, công tác chống Cộng bị lơ là. Phe Cộng sản Bắc Việt tự nhiên có được cơ hội thuận lợi đẩy mạnh hơn các chiến dịch gây rối miền Nam, để sớm hoàn tất nhiệm vụ xâm lăng nhuộm đỏ cả nước theo lệnh của Quan Thầy Liên Sô đang lănh đạo Quốc tế Cộng sản.

TẾT MẬU THÂN (31 tháng 1 năm 1968).

Dân chúng miền Nam hân hoan linh đ́nh đón Tết Mậu Thân với nền Đệ Nhị Cộng hoà mới ra đời theo mô thức Tổng Thống chế của Pháp. Liên danh Tướng Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ do Hội đồng Quân lực đề cử ra tranh cử chức Tổng Thống và Phó Tổng Thống với các liên danh Đảng phái chính trị, đă đắc cử với 34,8% tổng số phiếu.

Nhưng lủng củng chính trị giữa các thế lực Đảng phái tại miền Nam vẫn ngấm ngầm xôi động. Do đó, Hồ Chí Minh và phe Việt Cộng Hà Nội lợi dụng thời cơ, dùng quân Mặt trận giải phóng miền Nam do chúng thành lập hồi cuối năm 1959, bằng bọn cán bộ không tập kết ra Bắc nằm vùng từ hồi thi hành Hiệp định Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954, phối hợp cùng quân chính quy mới lén lút xâm nhập qua ngả Lào và Cao Miên, mở cuộc “Tổng công kích toàn miền Nam” nhằm đánh chiếm tất cả các Tỉnh trên toàn lănh thổ miền Nam vĩ tuyến 17 vào dịp Tết Nguyên Đán Mậu Thân.

Tại Thủ đô Saigon, chúng tung tin nhóm Nguyễn Cao Kỳ đảo chính Nguyễn văn Thiệu, để lén đưa quân xâm nhập nhà dân chúng đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu cạnh phi trường Tân Sơn Nhất và nhiều cơ sở khác trong thành phố Saigon Chợ Lớn. Nhưng chúng không chiếm được nơi nào. Sau cả tuần lễ giao tranh cận chiến, chúng đă bị tiêu diệt nặng về nhân số, tàn quân c̣n sống sót đă dùng bạo lực đốt phá nhà cửa, lùa dân chúng ra làm b́nh phong để trà trộn lẩn trốn rút ra khỏi thành phố. Riêng thành phố Huế đă bị chúng chiếm đóng suốt một tháng trời, và khủng bố sát hại tập thể hơn 3 ngàn quân cán chính và thường dân Việt Nam Cộng hoà. Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải điều động quân tiếp viện từ Saigon ra tăng cường, mới đánh bật được chúng ra và tái chiếm lại thành phố.

TẾT GIÁP DẦN (1974) và TẾT ẤT MĂO (1975).

Ảnh hưởng của việc Hoa Kỳ ép buộc Việt Nam Cộng hoà kư Hiệp Ước đ́nh chiến theo kiểu “da beo” vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, để tái lập Hoà b́nh tiến tới việc Trung lập hoá (Quốc gia, Cộng sản sống chung) tại miền Nam Việt Nam.

Thi hành Hiệp Ước, Hoa Kỳ cắt viện trợ, nhiều chính khách và dân giầu bề

thế có địa vị trong xă hội tại miền Nam t́m cách rời khỏi miền Nam ra nước ngoài lánh nạn. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Cộng đưa Hải lực hùng mạnh đánh chiếm Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hoà ngoài khơi Biển Đông. Hải quân Hoa Kỳ có mặt không can thiệp, nên phe Cộng sản Quốc tế Liên Xô và Trung Cộng lợi dụng t́nh thế đó, tăng cường tiếp viện vũ khí tối tân hơn cho Cộng sản Bắc Việt vi phạm Hiệp Ước đ́nh chiến, công khai xâm nhập miền Nam đẩy mạnh chiến

tranh lấn đất giành dân. Chiến tranh trở nên khốc liệt hơn hồi chưa kư Hiệp Ước đ́nh chiến, nhưng cả 13 nước trong tổ chức Liên Hiệp Quốc đồng kư bảo đảm việc thi hành Hiệp Ước và Hoa Kỳ đồng minh cũ của Việt Nam Cộng ḥa, đều ngậm tăm không lên tiếng can thiệp phản ứng ǵ cả. Nhóm thân Cộng thường được mệnh danh là “phe thứ ba” hay “phe trung lập” tại miền Nam, bị Cộng sản Bắc

Việt mua chuộc xúi giục, lợi dụng cơ hội cấu kết với ngoại bang hoạt động làm t́nh h́nh chính trị xă hội tại miền Nam trở nên rối rắm trầm trọng hơn.

V́ thế, dân chúng tại miền Nam ăn 2 cái Tết Nguyên Đán Giáp Dần và Ất Măo với tinh thần hoang mang lo lắng, không hân hoan vui vẻ trọn vẹn như cái Tết Ất Mùi (1955) sau Hiệp định đ́nh chiến Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954.

TẾT BÍNH TH̀N (1976).

Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải đơn thương độc mă đối đầu với cả Khối Cộng sản Quốc tế suốt 2 năm liền, tiếp liệu kiệt quệ, do đó mốc lịch sử đau

thương đen tối nhất của toàn dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu đă đến vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chiến tranh “Quốc, Cộng” đă chấm dứt được 10 tháng, toàn cơi Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu đắm ch́m dưới quyền cai trị chuyên chính vô sản độc tài tàn bạo vô nhân đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hoà Xă hội chủ nghiă Việt Nam. Bè lũ Cộng sản Việt Nam lợi dụng xảo ngữ “Giải phóng miền Nam” thực thi chính sách “Giai cấp đấu tranh” cướp đoạt tài sản của “Tư sản” miền Nam, vơ vét đủ mọi thứ “thượng vàng hạ cám” đem về miền Bắc để trở thành “Tư bản Đỏ”, nên lên mặt kiêu căng hớn hở ăn Tết Bính Th́n rầm rộ linh đ́nh.

Bọn Cán binh Cộng sản miền Nam đi tập kết ra Bắc hồi 1954, nay theo quân Việt Cộng Bắc Việt trở về Nam với danh nghiă “Mặt trận Giải phóng miền Nam” hay “Chính phủ Lâm thời miền Nam”, cũng được dịp vơ vét tiền của dân chúng làm ăn buôn bán lương thiện để làm giầu, với tội danh gán ghép cho là “Tư sản mại bản bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, Ngụy quân Ngụy quyền tay sai Đế quốc Mỹ…”. Nhưng, chúng ăn Tết Bính Th́n cũng chẳng được vui vẻ cho lắm, v́ chúng bị bọn Cộng sản Bắc Việt xoá sổ ngay sau ngày cuộc xâm lăng miền Nam hoàn tất, và đang phải lo t́m móc ngoặc với bọn thẩm quyền đương thời, để bảo vệ bản thân thoát khỏi chiến dịch kỳ thị cho “phục viên” non (tức là về hưu sớm).

Bọn đón gió trở cờ thuộc “phe nhóm thứ ba thường tự coi là trung lập tại miền Nam”, và bọn “Cách mạng 30 tháng Tư” từng nghe lời xúi giục mua chuộc của Cộng sản nằm vùng gây rối tại miền Nam trước 30 tháng 4 năm 1975, cũng tiu nghỉu v́ bị bọn Cộng sản “vắt chanh bỏ vỏ” không tin dùng hoặc bắt đi cải tạo, nên chúng và gia đ́nh cũng chẳng an tâm mà vui hưởng Tết Bính Th́n. Những đứa chưa bị bắt đi cải tạo mới tỉnh ngộ, nơm nớp lo sợ t́m đường vượt biên thoát đi ra nước ngoài để trốn ách nạn Cộng sản đang hoành hành trong xă hội.

Hơn 1 triệu Quân nhân các cấp và lực lượng Bán quân sự, hàng chục ngàn nhân viên hành chánh thuộc chính phủ Việt Nam Cộng hoà, hàng ngàn thành viên các Đảng phái Chính trị không Cộng sản, và các công kỹ nghệ doanh gia giầu có, đều bị Chính quyền Cộng sản Việt Nam bắt đi tập trung cải tạo vô thời hạn, than nhân vợ con họ ở nhà cũng bị kỳ thị đối xử, nên Tết đến những người này càng thêm âu sầu đau khổ lo âu, trước sự kênh kiệu huyênh hoang hớn hở ăn mừng cái Tết Bính Th́n Đại thắng của bọn Cộng sản Việt Nam “xác người tâm thú”.

TẾT KỶ TỴ (6 tháng 2 năm 1989).

Sau 70 năm áp dụng chủ thuyết Kinh tế Chỉ huy Tập quyền, nền kinh tế Liên Sô càng ngày càng suy xụp tồi tệ, sợ nhân dân bị đè ép đến cực cùng sẽ nổi dậy chống chế độ, Mikhail Gorbachev Tổng bí thư cuối cùng của Đảng Cộng sản Liên Sô (1985-1991) đă phải áp dụng “cuộc tấn công hoà b́nh”, “đổi mới” Liên Bang Sô Viết theo Tổng Thống chế, “mở cửa” rập khuôn nền Kinh tế Thị trường Tư bản theo Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Nguyễn văn Linh Bí thư Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-1991) cũng noi gương Quan Thầy Gorbachev, “đổi mới” “cởi trói văn nghệ” “mở cửa” mời Hoa Kỳ và các nước Tây phương đem nền Kinh

tế Thị trường vào cứu nguy nền Kinh tế Xă hội Chủ nghiă đang suy xụp cùng cực, sau 14 năm Thống nhất đất nước và áp dụng nền Kinh tế chỉ huy của Cộng sản thất bại thảm hại.

Nhờ thế, các quân nhân và Cán bộ Hành chánh Việt Nam Cộng hoà bị bắt đi tập trung cải tạo lâu hơn 3 năm từ sau ngày 30-4-1975, được nộp đơn xin cho cả gia đ́nh đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. (Humanitarian Operation), dân chúng được phép kinh doanh cá thể, việc xin cấp giấy phép di chuyển ra khỏi tỉnh thị nơi cư ngụ được dễ dàng hơn trước, nên hàng quán chợ búa hoạt động sầm uất trở lại, toàn dân hân hoan ăn mừng Tết Kỷ Tỵ “đổi mới” ồn ào vui vẻ, pháo nổ

râm ran, khắp nơi quần chúng đi Chùa, Nhà Thờ lễ bái cầu nguyện đầu năm thong thả.

TẾT NHÂM THÂN (1992).

Ngày 30 tháng 12 năm 1991 Liên Bang Sô Viết tan ră thành 14 nước độc lập, sau khi Gorbachev bị đảo chánh vào ngày 18-8-1991 v́ lư do sức khoẻ không đủ khả năng đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống Liên Sô. Boris Yeltsin trở thành Tổng Thống Cộng hoà Nga. Đảng Cộng sản Nga bị loại khỏi quyền lực. Tượng Lenin bị kéo xập. Thành phố Leningrad được trả lại tên cũ là Petrograd có từ thời Xa Hoàng trước Cách mạng 1917. Viện trợ cho Cộng sản Việt Nam bị cúp từ 1 tháng 1 năm 1991.

Do đó Bạo quyền Cộng sản Việt Nam cần được sự viện trợ của Hoa Kỳ và các nước Tư bản, nên phải thi hành thoả ước với Hoa Kỳ để cựu Tù nhân Chính trị và thân quyến ra đi tái định cư theo diện H.O. (Humanitarian Operation) và diện O.D.P. (Orderly Deperture Program) tại Hoa Kỳ và tại các nước Âu Á, những gia đ́nh nuôi trẻ lai đi theo diện Con Lai sang Hoa Kỳ, cho đi càng nhiều càng nhận được nhiều Đô La.

Mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như đang lưu vong ở nước ngoài, và bè lũ Cộng sản Việt Nam, mỗi người theo niềm riêng đều hân hoan đón mừng Tết.

TẾT TÂN TỴ (2001)

Kể từ ngày 27 tháng 12 năm 2001, sau khi đọc các bn tin bng Anh ngữ của Thông tn xă Trung Cng ti Bc Kinh và ca hăng tin Nht Bn từ Nam Ninh đưa lên mng Internet toàn cu, loan báo sự kiện 2 phái đoàn ngoi giao đi din cho các bo quyn Trung Cng và Vit Cng sát cánh bên nhau, hân hoan tổ chức Lễ đặt ct mc đu tiên ti Móng Cái, để chính thức đnh li ranh gii gia 2 nước Vit Nam và Trung Hoa. Ri nhng ngày tiếp theo, các Cng đng người Vit đnh cư trên toàn Thế giới tổ chức liên tiếp nhng cuc biu t́nh, chng đi và lên án Đng và Bo quyn Vit Cng đă DÂNG ĐT HIN BIN ca Tổ quốc Vit Nam cho quan thy Trung Cng, để được quan Thy che chở yểm trợ cho Đảng đng vng mà tiếp tc đàn áp bóc lt nhân dân Vit Nam bng đc đng chuyên chính tp quyn toàn trị.

Đồng thi, mt số nhân sĩ dũng cảm ở trong nước đang dn thân đu tranh đ̣i Tự do Dân chủ Nhân quyền cho Dân tc Vit Nam, cũng can đm tŕnh by quan đim ca ḿnh để trả lời các cuc phng vn (giờ chương tŕnh Vit ng chuyển qua các làn sóng đin về Việt Nam hàng ngày) của các đài phát thanh ln ngoi quc như BBC (Anh), RFI (Pháp), và RFA (Á Châu Tự do của Hoa Kỳ) về các vấn đề biên giới trên đt lin và hi phn trong Vnh Bc phn gia Vit Nam và Trung Hoa.

Nhờ thế, mọi người mới vỡ lẽ và hiểu rơ ràng lư do tại sao cùng là người Việt Nam, cùng tổ chức kỷ niệm biến cố 30 tháng 4 Dương lịch hàng năm, nhưng lại để bầy tỏ hai niềm tâm sự VUI, BUỒN trái ngược hẳn nhau.

Phe Việt Cộng mừng chiến thắng.

Nhưng, nhng người thuc phe Quc gia Nhân bn chng Cng th́ để nhắc nhở nhau nhớ ngày Quốc Hn, cả nước phi đm ch́m dưới gông cùm chuyên chính vô sn toàn trị bóc lột bo tàn vô nhân đo ca bo quyn Cng sn vong nô bán nước hi dân, cũng như để tiếp tc tiếp tay hỗ trợ ngày một mnh mẽ hơn na cho đng bào trong nước có cơ hội thun li vùng lên loi trừ bọn bo quyn Cng hoà Xă hi chủ nghiă VN và Đảng Vit Cng, giành li các quyn Tự do Dân chủ Nhân quyền, có được cuc sng m no hnh phúc công bng như mọi người dân ca mt nước đc lp trên toàn thế giới đang được hưởng.

Sau đây là đôi bài thơ Xuân Tân Tỵ (2001) xướng ha để ghi nhớ năm đầu tiên ca Thế Kỷ 21 của Nguyn-Huy Hùng và các thân hu đang lưu vong tỵ nạn Cng sn trên đt nước Liên Bang Hoa Kỳ.

 

2001, TÂN TỴ

NHỮNG ƯỚC MONG

ĐẦU THIÊN NIÊN KỶ THỨ BA

Năm RẮN mở màn Thiên kỷ Ba,
Đào Mai đua nở nắng chan hoà.
Gia đ́nh đoàn tụ chờ Xuân đến,
Đoàn thể quây quần đợi Tết qua.
Xứ Mỹ chứa chan hương hạnh phúc,
Quê Nam cuồn cuộn bóng tà ma.
Anh hùng cứu nước c̣n đơn chiếc,
Hào kiệt v́ Dân được mấy nhà!

o-o-o

Bao giờ Hào kiệt mới ra?
Tiếp tay tranh đấu để mà cứu Dân.
Cho ṇi giống hết phong trần,
Thoát tay Cộng đảng bất nhân bạo tàn!

Fountain Valley, Nam California,

Tết Tân Tỵ, 2001

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG


Các bài h
a ca thân hu:

1.- Giáo sư Ảo Giản Phan Ngô

Hoan hỷ đón mừng Thiên kỷ Ba,
Ṿng tay mở rộng để cầu hoà.
Quên thù, bỏ oán, theo đường mới,
Cứu nước, thương ṇi, giải nạn qua.
Đất khách dễ mê ḷng chiến sĩ,
T́nh nhà khó chống lực tà ma.
Bại, Thành, ai luận Anh Hùng kệ,
Quyết xuất, hy sinh cứu nước nhà.

o-o-o

Đă là Hào kiệt phải ra,
Trùm chăn như thế ai mà cứu Dân?
Dấn thân, chi sợ phong trần,
Nêu cao hai chữ Nghiă Nhân diệt tàn.

Pasadena, Nam California

2.- Trung Tướng Vĩnh Lc

Thiên kỷ Hai rồi đă đến Ba,
Đâu đâu chẳng thấy đặng an hoà.
Gia đ́nh không những chờ Xuăn đến,
Nước Tổ c̣n thêm vướng can qua.
Mỹ quốc có chi mà hạnh phúc,
Nam bang c̣n lại vẫn phong ba.
Thế nước đàn bà xông trận tuyến,
Chờ chi Hào kiệt vướng chân ra.

Houston, Texas

3.- Đại Tá Bùi Hữu Đặng

(hành chánh Tài chánh)

VẬN NƯỚC ĐẾN RỒI

Th́n, Tỵ, mở màn Thiên kỷ Ba,
Cúc, Lan chào đón nắng Xuân hoà.
Gia đ́nh xum họp vui đời mới,
Đoàn thể hợp quần hưởng Tết Ta.
Đất Việt chứa chan hương hạnh phúc,
Trời Nam rực rỡ ánh dương sa.
Anh hùng phục quốc liều thân xác (*),
Hào kiệt v́ Dân đă đứng ra.
Vận nước đến hồi hưng phục thịnh,
Toàn dân đoàn kết diệt qủy ma.

o-o-o

Đời Ta, Thời thế, cam chuốc hận,
Đời Trẻ, tương lai hưởng An hoà.


Garden Grove, Nam California

(*) Lư Tống là một trong những Anh Hùng

cứu quốc. Lái máy bay từ Thái Lan xâm

nhập Saigon rải truyền đơn, vào ngày Tổng

Thống Hoa Kỳ Bill Clinton thăm Hà Nội.

-------HT-----__

 

 



 

 

 

 

 



  

 

Phần I :Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa) Bút  Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thế Kỷ 20 và 21.Tổng hợp tháng 4 năm 2016.- Phần I (1) Sự thật lịch sử VN vào 1945 (2) Nh́n lại ḿnh 62 năm trước (3) VNCH ra đời trong hoàn cảnh nao (4) Tứ thánh bất tử Việt nam

 

Phần II: Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa)  Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi  Qua Hai Thế Kỷ 20 Và 21 Tổng hợp tháng 4 năm 2016 -Phần II (1) Tâm  sự người con đầu ḷng Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt

Phần III Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam CộngḤa) Bút Kư Việt Nam Và Đời Tôi Qua Hai Thyế Kỷ 20 Và 21- Phần III (1)T́m hiểu về ngày Quân Lực 19 tháng 6 (2)Câu truyện bán nước của bọn gian tặc Hồ chí Minh và bè đảng Việt cộng  (3) (4) Những cái Tết  khó quên của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20