báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

[Bài Viết - Article]                                                               


Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng

Tuyển tập thơ

"NHỮNG THĂNG TRẦM KHÓ QUÊN TRONG CUỘC ĐỜI"

 

 

 

Tôi được Cha Mẹ đưa vào đời ngày 17-3-1930 tại Lạng Sơn Việt Nam, được nuôi dưỡng ăn học nên người lành chân chính và sống cùng đồng bào qua mọi sự kiện lịch sử của đất nước Việt Nam đến tháng 8-1992, th́ bị bạo quyền Việt Cộng tống khứ ra khỏi nước với lư do “cho xuất cảnh sang Hoa Kỳ định cư vĩnh viễn theo diện Nhân Đạo (Humanitarian Operation) với sự đồng thuận của Chính phủ Hoa Kỳ.”

Thực ra đây chỉ là một hành động gian xảo với 2 mục đích:

1.- Tống khứ ra khỏi nước v́ sợ sau 13 năm bị giam cầm dầy đọa khổ nhục trong các trại tập trung cải tạo, Tôi và các bạn đồng tù sẽ hận thù và sẽ vận động đồng bào đoàn kết chống chế độ độc tài chuyên chính đảng trị của chúng;

2.- Cho chúng tôi đi định cư xây dựng lại cuộc đời Tự do hạnh phúc tại Hoa Kỳ, th́ đổi lại bạo quyền Việt Cộng sẽ nhận được tiền viện trợ rất hậu hĩnh của Chính phủ Hoa Kỳ.


Suốt hơn 20 năm qua, dù đă là Công dân Hoa Kỳ gốc Việt, Tôi vẫn tiếp tục sánh vai bên các đồng hương lưu vong tỵ nạn hoạt động tranh đấu chống Việt Cộng qua các cuộc biểu t́nh, viết các bài tham luận, làm thơ đăng trên báo Việt ngữ đọc trên cái đài phát thanh và truyền h́nh tiếng Việt, tổ chức các hội đoàn chính trị hỗ trợ trực tiếp cho đồng bào trong nước chống Cộng.

Nay Tôi tập trung một số bài thơ mà Tôi đă sáng tác trong suốt cuộc đời của ḿnh vào chung Tập Thơ này, để lưu niệm cho các Con Cháu và tặng các Thế Hệ Trẻ đọc được Việt ngữ trong hiện tại và tương lai cùng chia sẻ.

Chào kính mến.

Tháng 4 năm 2016.

Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng

Những vần thơ tâm sự của người

CHIẾN SĨ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ,
 

Cựu Tù nhân Chính trị (HO.10)

 


Kính tặng chư liệt vị Nam Nữ Trẻ Già Nhân sĩ Việt Nam, đang hăng say sát cánh cùng Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, tiếp tục cuộc đấu tranh giải trừ ách nạn Cộng sản trên Quê hương Việt Nam thân yêu của ḍng giống Tiên Rồng, để giành lại Tự do Dân chủ và Nhân quyền B́nh đẳng cho Đồng bào Việt Nam ở trong nước được sống trong ấm no hạnh phúc, Quốc gia Việt Nam được trường tồn hưng thịnh và toàn vẹn lănh thổ từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG.
Little Saigon Nam California tháng 6-1993.


 

Đường Chính Nghĩa

Con đường Chính nghĩa Ta đi,
Cờ Vàng Sọc Đỏ uy nghi Tiên Rồng.
Nữ, Nam, Già, Trẻ một ḷng,
Quyết tâm diệt Cộng, non sông thanh b́nh.
Cứu Dân thoát cảnh điêu linh,
Bảo toàn Dân chủ, Dân sinh, Dân quyền.
Cháu Con Hồng Lạc điền viên,
Việt Nam muôn thuở b́nh yên phú cường.

Tâm sự chiến sĩ già


Thời gian khắc nếp da mồi,
Thân già, tâm trí khéo nuôi chẳng già.
Dấn thân mấy chục năm qua,
Vào sinh ra tử, bôn ba v́ đời.
Dấu giầy in vết khắp nơi,
Chiến bào thắm đượm t́nh người Việt Nam.
Hưng thời quyền thế không ham,
Bĩ thời gian khổ chẳng làm ô danh.
Hiên ngang tư cách Hùng Anh,
Địch Thù kiêng nể, Dân lành qúy thương.
Trước sau vững một lập trường,
Đấu tranh quang phục quê hương thanh b́nh.


KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG


Sát cánh bên nhau

Quyết tâm vùng dậy đứng bên nhau,
Diệt Cộng cứu Dân thoát khổ đau.
Già Trẻ bền tâm gom góp sức,
Gái Trai quyết chí lập công đầu.
Đấu tranh gian khổ hy sinh trước,
Lạc nghiệp thanh b́nh tận hưởng sau.
Quang phục Quê hương thay nếp sống,
Lo chi non nước chẳng thay mầu!!!

Cùng nhau dựng lại cơ đồ Việt Nam

Bao năm nếm mật nằm gai,
Dấu giầy đo bước sông dài rừng sâu.
Bao năm lận đận ải đầu,
V́ Dân đâu ngại dăi dầu gió sương.
Bao năm bảo vệ quê hương,
Chống loài Quỷ Đỏ Bắc phương bạo tàn.
Đêm ngày chiến đấu hiên ngang,
Giúp Dân xây dựng xóm làng yên vui.
Trớ trêu tai kiếp giống ṇi,
Đồng minh phản bội chơi vơi ngỡ ngàng,
Hoạt đầu lănh tụ hai mang,
Hô quân buông súng đầu hàng cầu vinh.
Ô danh bại Tướng bán ḿnh,
Thế gian nguyền rủa miệt khinh đời đời.
Thương Dân bỏ xác biển khơi,
Xót Quân lao khổ giữa nơi ngục tù.
Hận thù chồng chất thiên thu,
Núi sông tan tác xác xơ t́nh người
Tha phương trăn trở khôn nguôi,
Đồng ḷng hiệp sức muôn người chung lo.
Dẹp tan Cộng Đảng vong nô,
Cùng nhau dựng lại cơ đồ Việt Nam.

Đập tan ṿng oan nghiệt

Bốn Lăm (1945), dân Việt nhằm cung hạn,
Tháng Tám, giặc Hồ kách mệnh (1) Thu.
Đất nước đắm ch́m trong máu lửa,
Không theo Cộng sản, nhập lao tù,
Nào ai dũng sĩ thương ṇi giống,
Đoàn kết vùng lên diệt giặc thù.
Loại bọn vong nô ngu Việt Cộng,
Phục hưng Tổ quốc vững thiên thu.
Dựng nền Dân chủ Tam quyền (2) mạnh,
Văn hoá Đạo, Đời gấp chỉnh tu.
Kinh tế tự do, dân góp sức,
Nhân quyền b́nh đẳng sống an cư.
Phát huy đạo đức Tiên Rồng Việt,
Gieo cấy t́nh thương xoá hận thù.

Little Saigon, Nam California Hoa Kỳ, 26-10-2012

(1) - kách mệnh là chữ cách mạng ghi theo lối viết chữ quốc ngữ cải cách của Hồ Chí Minh vào những năm dầu Thập niên 1940 ở bên Trung Hoa, theo lời kể của các đảng viên Phục Quốc Lạng Sơn lưu vong qua Trung Hoa từ năm 1940 đến mùa Thu 1945 theo cụ Nguyễn Hải Thần Lănh đạo Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội về nước hợp tác với nhóm Việt Minh và Hồ Chí Minh để điều hành nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà từ ngày đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945 tại vườn hoa Ba Đ́nh thành phố Hà Nội.
(2) -Nền Dân chủ Tam quyền phân lập là hệ thống chính trị quản trị đất nước với 3 Ngành độc lập mỗi Ngành đều có uy quyền mạnh riêng để kiểm soát lẫn nhau gồm:
1- LẬP PHÁP (Quốc hội),
2- HÀNH PHÁP (Chính phủ), và
3- TƯ PHÁP (Hệ thống Toà Án).

Ngậm lại giùm

Chính khách thịt xôi gáy quá nhiều,
Dấn thân v́ nước chẳng bao nhiêu.
Thiếu tài vẫn muốn giành vai Chuá,
Kém sắc lại mong thủ phận Kiều.
Gánh đứt bầu đàn lăn lóc vỡ,
Tuồng tan Quân Tướng tả tơi x́u.
C̣n ai tin tưởng mà xoen xoét,
Ngậm lại giùm đi miệng cú diều.
-oOo-
Tḥ ḷ sáu mặt mặc t́nh xoay,
Tráo trở lộn lăn hóa mặt dầy.
Trước khéo bợ thời vai vế lớn,
Nay tài đón gió bạc đầy tay.
Nước nguy gục mặt t́m đường chạy,
Dân khổ quay đầu giả bộ ngây.
Thế sự tới hồi qua vận mới,
Phường hề múa rối lại cầu may!!!


Garden Grove Nam California
Tháng 5-1993
Cảm tác đăng báo Việt ngữ nhân có các bản tin cho thấy có một số nhân sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đặc biệt là Tướng Nguyễn Cao Kỳ di tản kḥi Việt Nam vào ngày Quốc Hận 30-4-1975 lên tiếng kêu gọi người Quốc Gia tỵ nạn xóa bỏ hận thù để H̉A HỢP H̉A GIẢI VỚI VIỆT CỘNG.

                  
Nhớ những mùa phượng nở

 

Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Quân trường thao luyện, tắm mồ hôi.
Nguyện thề cương quyết v́ Dân tộc,
“Hồ thỉ tang bồng” thoả chí trai.
(3)
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Quân kỳ rực rỡ ánh ban mai.
Đoàn Trai bách chiến, oai hùng bước,
Lớp Gái hậu phương, nhoẻn miệng cười

 

Ấu niên

Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Tung tăng vui hát tuổi yêu đời.
Gái, Trai, nhập bọn chung đùa rỡn,
Hí hửng băi trường thoả thích chơi.


Thiếu niện

Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Túm năm tụm bẩy, góc sân ngồi.
Đăm chiêu, lo lắng, tần ngần đợi,
Hồi trống nhập Thi định cuộc đời.
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Sân trường Đại học dập d́u vui.
Ghi danh định hướng, đầy hy vọng,
Cố gắng, vinh quang sẽ có thời.
 

Thanh niện

Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Can qua ngụt lửa bốn phương Trời.
Á, Âu, nghiêng ngửa v́ phe Trục
(1),
Nấm lửa thiêu tàn Thế chiến Hai (2).
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Non sông bừng tỉnh giấc mơ dài.
Nữ, Nam, Già, Trẻ, cùng chung sức,
Dựng lại Quê hương đẹp tuyệt vời.
Nắng Hạ chan hoà, Phượng đỏ tươi,
Hồn thiêng sông núi thúc thôi đ̣i.
Xếp nghiên, cầm súng ra biên ải,
Chống Cộng, bài Phong, cứu giống ṇi.
 

Trung niên

Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Quân trường thao luyện, tắm mồ hôi.
Nguyện thề cương quyết v́ Dân tộc,
“Hồ thỉ tang bồng” thoả chí trai.
(3)
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Quân kỳ rực rỡ ánh ban mai.
Đoàn Trai bách chiến, oai hùng bước,
Lớp Gái hậu phương, nhoẻn miệng cười
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Hoa Kỳ phản bạn, Cộng quân vui.
Minh Dương hèn nhát, miền Nam mất (
4).
Dân tộc ch́m trong thảm họa dài.
Nắng Hạ chan hoà, Phượng đỏ tươi,
Trại giam Việt Cộng, mọc muôn nơi.
Miền Nam Quân, Chính, vương tù tội,
Nước độc rừng thiêng, đọa cuộc đời.
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Bao người liều chết, vượt ra khơi.
Mong t́m hạnh phúc nơi quê lạ,
Nhiều lớp đi rồi, chẳng đến nơi.
Nắng Hạ chan hoà phượng đỏ tươi,
Tưởng rằng Thống nhất sống yên vui,
Chẳng ngờ Việt Cộng gian manh xạo,
Cướp của hại người chết chẳng thôi.
(5)
Nắng Hạ chan hoà phượng đỏ tươi,
Hoa Kỳ ân hận chúng nhân cười.
Giơ-Neo (Genève) hội thào t́m phương cách,
Cứu bạn đồng minh thoát vận xui.
Nắng Hạ chan hoà phượng đỏ tươi,
Chương tŕnh Nhân đạo (H.O.) Mỹ ra đời,
Cứu bao Chiến sĩ đang tù tội,
Thoát cảnh đọa đầy sống thảnh thơi
Thoát cảnh đọa dầy sống thảnh thơi,
Định cư xứ Mỹ dựng lại đời.
Cháu Con thanh thản chuyên cần học,
Thăng tiến danh phần măi sáng tươi.
(6)
Nguyễn-Huy Hùng và Phu nhân. H́nh chụp năm 1999.
Nắng Hạ chan hoà phượng đỏ tươi,
Lưu vong tỵ nạn đổi thay đời.
Năm năm xây dựng cơ nghiệp mới,
Chín Tám (7) Hè qua gặp vận hời,
Đổi thay quốc tịch thật là vui.
Từ nay căn cước là dân Mỹ,
Cuộc sống tương lai sáng rạng ngời.
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Liên xô Cộng sản ră tơi bời.
Việt Nam bất hạnh c̣n chồng chất,
Bè lũ tàn hung vẫn hại đời.
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Thương Dân, nhớ Nước dạ khôn nguôi.
Nào ai ? Dũng sĩ ḍng Hồng Lạc,
Đoàn kết cùng nhau diệt độc tài.(8)
Nắng Hạ chan hoà, phượng đỏ tươi,
Công, Nông, Trí thức, khắp trong ngoài.
Vùng lên, một dạ thề cương quyết,
Diệt lũ Tam Vô, cứu giống ṇi.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

Corona, Nam California, Hè 2015.

(1) Phe Trục trong Thế giới Đại chiến 2 gồm: -Đức và Ư ở bên Âu châu; -Nhật ở bên Á châu.

(2) Ngày 9 tháng 5 năm 1945, bên Âu châu, Đức và Ư thua quân Đồng minh. Nhưng ở bên Á châu, tới tháng 8 năm 1945, vua Nhật mới chịu tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện, sau khi Hoa Kỳ thả 2 trái bom nguyên tử tàn phá đất nước Nhật. Trái thứ nhất ngày 6 tháng 8 năm 1945 tại Hiroshima, trái thứ hai ngày 9 tháng 8 năm 1945 tại Nagasaki.

(3) Tác giả tốt nghiệp Thiếu Úy Hiện dịch Khoá 1 Trường Vơ bị Quốc gia Việt Nam vào ngày 1-6-1949.

(4) Tướng Dương văn Minh được Quốc hội nền Đệ nhị Cộng Hoà tại miền Nam VN ủy quyền làm Tổng Thống vào buổi tối ngày 27 tháng 4 năm 1975, thay thế Tổng thống Trần văn Hương từ chức v́ áp lực chính trị. Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tướng Minh đọc tuyên cáo ra lệnh toàn Quân lực VNCH ngưng chiến đấu để quy hàng Cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam.

Sau ngày Quốc hận 30-4-1975, tác giả nguyên là Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà nên bị bạo quyền Cộng hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam giam cầm đầy đọa 13 năm trong các trại tập trung cải tạo lao động khổ sai trên cả 3 miền đất nước Việt Nam.

(5)-Sau khi chiếm toàn miền Nam Việt Nam Cộng sản Bắc Việt dổi tên nước (gồm cả miền Bắc Trung Nam) thành Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam, đổi tiền miền Nam, đánh Tư sản mại bản, quốc doanh tất cả các xí nghiệp tư nhân bắt chủ nhân đi cải tạo tư tưởng, phá các Nghiă trang Quân đội của Quân đội thuộc Việt Nam Cộng Hoà, bắt mọi quân nhân đi tập trung cải tạo trong các trại tập trung nơi rừng thiêng nước độc vô thời hạn, đóng của tất cả các cơ sở kinh doanh tư nhân để lập Hợp tác xă do bạo quyền độc quyền điều hành để kiểm soát bao tử ngưới dân,...

(6)-Bản thân tác giả phải đi cải tạo 13 năm, từ 15-6-1975 cho đến cuối tháng 2-1988 nhờ Hoa Kỳ can thiệp mới được tha về sống đoàn tụ với gia đ́nh tại Saigon. Đến tháng 6-1992 mới được Phái đoàn Hoa Kỳ tại Saigon gọi phỏng vấn và được chấp nhận cho làm các thủ tục xuất cảnh rời Việt Nam vào sáng ngày 5-8-1992 đi định cư vĩnh viễn trên đất nước Hoa Kỳ theo diện H.O.10 (Humanitarian Operation)

(7) Tác giả cùng cả gia đ́nh đến Hoa Kỳ vào ngày 7-8-1992 định cư vĩnh viễn theo diện tỵ nạn Cộng sản với tư cách THƯỜNG TRÚ NHÂN có thẻ Xanh, đến tháng 8-1997 đủ hạn 5 năm như quy định được nộp đơn xin thi vào Quốc tịch Hoa Kỳ, đă dự thi, đă được chấm đậu và được tuyên thệ chính thức trở thành Công dân Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ vào ngày 5 tháng 6 năm 1998 tại Los Angeles Nam California.

(8) Tác giả dấn thân làm Chủ Tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Nam California 2 nhiệm kỳ liên tiếp từ 1996 đến 2000.

Năm 1994. Nguyễn-Huy Hùng phát biểu trong tiệc gây quỹ cho Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, Nam California tại Thị xă Westminster, Little Saigon, Nam California.

 

Tết Mậu Th́n 1988, toàn gia đ́nh đoàn tụ mừng Tết lần dầu tiên tại Saigon sau 13 năm chủ gia đ́nh phải đi tù cải tạo.

 

Lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ trước khi khai mạc buổi tiệc, từ phải qua trái): Ái Nữ Ngọc-Lan đứng cạnh Cha Nguyễn-Huy Hùng (người đặt tay phải trên ngực nơi trái tim lúc chào cờ), và các khách tham dự tiệc gây quỹ.

 

Phi trường Tân Sơn Nhất Saigon Việt Nam sáng ngày 5-8-1992, gia đ́nh chuẩn bị lên máy bay đi định cư tỵ nạn tại Hoa Kỳ.

 

Tới phi trường CEDAR RAPIS, IOWA Ho Kỳ ngày 7-8-1992

Gia đ́nh Nguyễn Huy Hùng tại Cư Xá Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.Phu nhân đang mang thai cô gái út và sẽ chào đời vào ngày 26 tháng 9 năm 1965

 

 

tâm thành tạ ơn
ThanksGiving

Cha Mẹ đưa Ta nhập cuộc đời,
Dạy theo Chính Đạo, nhớ ơn Trời.
Ơn Thần, ơn Phật, ơn Thiên Chúa,
Ơn kính Tổ Tiên, ơn dưỡng nuôi.
Trời định cho Ta nhận kiếp Người,
Biết yêu, biết ghét, biết đua đ̣i
 Biết trung, biết hiếu thờ Cha Mẹ,
Biết lấy ngọt bùi reo khắp nơi.
Thầy Bạn giúp Ta hiểu được đời,
Hiểu Nhân, hiểu Nghĩa, hiểu Ḷng người.
Hiểu điều Lương thiện, điều Hung ác,
Hiểu Luật bù trừ mỗi cuộc chơi.
Thất bại dạy Ta kinh nghiệm đời,
Dạy khôn, dạy khéo xét dùng người.
Thực hư, trường đoản, tung tùy thế,
Giục hoăn, cương nhu, hạ đúng nơi.
Dân Mỹ giúp Ta đổi cuộc đời,
Cứu Ta ra khỏi ách tôi đ̣i.
Thoát ṿng Cộng sản quân tàn bạo,
Ơn nghĩa muôn đời nhớ chẳng phai.
Nhân Nghĩa Ta theo hợp Đạo Trời,
Công bằng, Bác ái đẹp ḷng người.
Thanh liêm, Chính trực tâm an lạc,
Thẳng bước đường đời chẳng hổ ngươi.
Ḍng máu Ta mang một giống ṇi,
Rồng Tiên bất khuất trước muôn loài.
Nữ Nam hiệp lực xây giềng mối,
Tổ quốc an b́nh sống thảnh thơi.
Nhờ Trời Phật độ hưởng phần hên,
Thoát ách “TAM VÔ” Cộng bạo quyền.
Được Mỹ Đồng Minh cho tỵ nạn,
Tuổi già hạnh phúc sướng như Tiên.

Hemet, Riverside, Nam Califonia,
Mùa Lễ Tạ Ơn Thanksgiving năm 2012.

 

NGÀY T̀NH YÊU

Tháng Hai,mười bốn, NGÀY T̀NH YÊU,
 Nhân loại đua nhau sắm thật nhiều.
Hồng thắm, kẹo tim, đồ kỷ niệm,
Trao nhau bầy tỏ NỖI NIỀM YÊU.
Quà tặng thay ta nói đủ điều :
Dù cho Dâu Biển đổi bao nhiêu,
T́nh ta muôn thuở không phai lạt,
Sướng khổ sang hèn, quyết vẫn yêu.
Yêu Vợ, yêu Chồng, yêu Mẹ Cha,
Yêu Anh, Em, Chị, yêu Ông Bà.
Yêu Bồ, yêu Bạn, Thầy, Cô giáo,
Yêu cả muôn loài như chính Ta.

MẾN TẶNG BẠN ĐỜI YÊU QUÍ CỦA TÔI

Yêu quá Tiên nương LỰU bạn đời,
Đêm ngày sánh bước trải muôn nơi.
Cùng nhau tích cực gầy Nhân Đức,
Đóng góp t́nh thương với mọi người.
Con Cháu một giàn Trai Gái đủ,
Hiếu hoà thuận thảo sống yên vui,
Vinh sang, Gian khổ cùng chia sẻ,
Tuổi Hạc T́nh Già thêm thắm tươi
.

Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ.

Tháng 2-1993.

DUYÊN LÀNH

Gặp nhau gắn bó thuận duyên trời,
Việc nước, việc nhà luôn sánh đôi.
T́nh nghiă vợ chồng thêm thắm thiết,
Thương yêu hạnh phúc trọn đường đời.

Saigon, Tết Nhâm Th́n 27-1-1952.
MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

 

H́nh kỷ niệm vợ chồng chung vui bên nhau cái Tết đầu tiên sau 28 tháng thành hôn (Tết Nhâm Th́n 27-1-1952) tại Saigon, Phu nhân Nguyễn-Huy Hùng đang mang thai con trai đầu ḷng Nguyễn-Huy Long.

 

NIỀM HẠNH PHÚC CỦA TUỔI GIÀ

Ơn Trời cho được CHÍN Con,
Năm Trai bốn Gái, hiền ngoan, thức thời.
Thông minh, tháo vát, lắm tài,
Học hành thành đạt, vào đời hiển vinh.
Lại thêm bầy Cháu xinh xinh,
Tinh khôn, lễ độ, gia đ́nh quư thương.
Nhiều Cô Cậu đă ra trường,
Kỹ sư, Bác sĩ, Doanh thương… đủ nghề.
Tương lai rạng rỡ mọi bề,
Công danh sự nghiệp đề huề vinh sang.
Tuổi già cảm thấy hân hoan,
Phương châm giáo dục hoàn toàn thành công.
Đúng theo nề nếp Tổ Tông,
Theo khuôn đạo đức giống ḍng Việt Nam.
Không v́ lợi, chẳng gian tham,
Thực thi Nhân Nghiă uyên thâm đạo Trời.
Đem Hạnh phúc đến mọi người,
Là xây đường dẫn về nơi Niết Bàn.

Corona, Riverside, Nam California.
Cảm tác nhân Lễ Tạ Ơn Thanksgiving 2015.

TÂM T̀NH HUYNH ĐỆ CHI BINH

 

                     Cựu Thiếu Tưóng Tôn Thất Xứng       Cựu Đại Tá Nguyễn-Huy Hùng
                        12-2-2006, Montreal, Canada.        2008 tại Hemet, Nam California.

BÀI XƯỚNG CỦA TÔN THẤT XỨNG

Nhớ bạn

Cho tôi một tách cà phê đen
Uống để thâu đêm nhớ bạn hiền
Tính sổ xem đời c̣n mấy đứa
Mấy thằng khốn nạn, mấy thằng điên
Mấy thằng cải tạo ra miền Bắc
Dăi nắng dầm mưa chẳng hẹn về
Hận núi Hoàng Liên mây xám ngắt
Nam Hà cấm cố mưa lê thê
Mấy thằng bị đày ra biên ải
Xương bỏ đầu non, xác cuối đồi
Một phút sa cơ ngh́n năm hận
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
(1)
Mấy thằng vong quốc vượt trùng dương
Vạn dặm xa vời biệt cố hương
Gươm báu chín tầng mài dưới nguyệt
Tóc xanh dầu dăi nắng pha sương
Đêm nay uống cạn tách cà phê
Để nhớ quê hương, nhớ bạn bè
C̣n sống ngày nào c̣n chiến đấu
C̣n đem thân thế hẹn mai về.

TÔN THẤT XỨNG
Montréal, 01-01-2004
(1)
từ xưa tới nay, mấy ai đi ra trận mà có dịp quay trở về.

Bài họa của Nguyễn Huy Hùng


Làm sao quên


Cho tôi một tách cà phê đen
Uống để thâu đêm nhớ bạn hiền
Tính sổ xem đời c̣n mấy đứa
Mấy thằng khốn nạn, mấy thằng điên
Mấy thằng cải tạo ra miền Bắc
Dăi nắng dầm mưa chẳng hẹn về
Hận núi Hoàng Liên mây xám ngắt
Nam Hà cấm cố mưa lê thê
Mấy thằng bị đày ra biên ải
Xương bỏ đầu non, xác cuối đồi
Một phút sa cơ ngh́n năm hận
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
(1)
Mấy thằng vong quốc vượt trùng dương
Vạn dặm xa vời biệt cố hương
Gươm báu chín tầng mài dưới nguyệt
Tóc xanh dầu dăi nắng pha sương
Đêm nay uống cạn tách cà phê
Để nhớ quê hương, nhớ bạn bè
C̣n sống ngày nào c̣n chiến đấu
C̣n đem thân thế hẹn mai về.

TÔN THẤT XỨNG
Montréal, 01-01-2004
(1)
từ xưa tới nay, mấy ai đi ra trận mà có dịp quay trở về.

Bài xướng của Tôn Thất Xứng

Nhắn nhủ

Mai có ai về nước Việt không!
Cho tôi gởi tặng đóa hoa hồng
Cài lên mái tóc người em gái
Nhắn hộ đôi lời tôi nhớ mong .
Hồi tưởng một chiều khăn gói đi
Không người đưa tiễn bước chia ly
Mưa buồn phố Huế rơi như lệ
Khóc với Hương giang hận những ǵ!
(1)
Từ đấy lưu vong tận xứ người
Thăng trầm vinh nhục cố nhân ơi!
Bỗng nghe tiếng hát bên sông gọi
Sao khách chửa về thôn Vĩ chơi!
(2)
Tiếng hát trong như nước ngọc tuyền
Cao như thông Ngự.. lănh cung tiên
(3)
Buồn như liễu Tịnh...hồ than thở (4)
Thiên-Mụ mây ngừng, trăng đứng yên (5)
Tôi vội dừng chân để lắng nghe
Rưng rưng mắt lệ nhớ hương quê
Yêu ai không biết, ḷng như đă
Hẹn với Nam đô một sớm về
(6)
Tiếng hát bên sông cứ vọng hoài
Mà hờn vong quốc măi khôn nguôi
Xót thương đất nước c̣n nghiêng ngửa
Dân tộc chưa vơi nỗi ngậm ngùi.
Tôi muốn van em năm tháng đợi
Biển hồ ngăn cách có xa xôi
Chí trai sớm nguyện cùng sông núi
Gánh vác sơn hà ai với tôi!

Mộng Lệ An 2004
(l) Hương giang = sông Hương ở cố đô Huế
(2) thôn Vĩ = thôn làng Vĩ-Dạ
(3) thông Ngự = thông núi Ngự-B́nh
(4) Tịnh hồ = hồ Tịnh-Tâm trong thành nội
(5) Thiên-Mụ = chùa Thiên-Mụ
(6) Nam dô = kinh đô miền Nam = Sàig̣n

Bài Họa của Nguyễn Huy Hùng

Chờ mong

Ngàn dặm xa quê ai biết không?
Từ khi đất Việt ngập cờ hồng
Trẻ già lận đận trai như gái,
Sống cảnh đọa đầy hết ước mong.
Thất thế sa cơ phải bước đi,
Có đâu ai muốn cảnh chia ly.
Sơn hà xă tắc vương vương lệ,
Nuốt hận nh́n nhau biết nói ǵ!
Bể khổ long đong một kiếp người,
Nào ai chia xẻ bạn đường ơi!
T́nh thương vắng bóng con tim gọi,
Quỷ Đỏ bạo hành như giỡn chơi!
Đất nước ch́m trong cảnh ngục tuyền,
Dương trần lẫn lộn quỷ và tiên.
Xă hội bon chen từng hơi thở,
Giả điếc giả câm cũng chẳng yên.
Thế giới ta bà ai có nghe,
Oán than rên siết khắp đồng quê.
Sói lang hăm hại dân chưa đă,
C̣n rước Tầu sang, triệu Bác về.
Cầu khẩn cao xanh chẳng đoái hoài,
Hận thù chồng chất lúc nào nguôi.
Bao giờ đạo đức thôi nghiêng ngửa,
Dứt cảnh oan khiên hết ngậm ngùi.
Mấy chục năm rồi kiên nhẫn đợi,
Nhân tài tiêu diệt bọn thịt xôi.
Đồng tâm hiệp lực bồi sông núi,
Giải phóng lên đường sẽ có tôi.
Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng
Little Saigon, Nam California 2004

Bài xướng của Tôn Thất Xứng

Không

Hoa buồn, hoa không nói
Có nói cũng bằng không
Tôi buồn, tôi không hỏi
Có hỏi cũng như không
Vô thường sắc bất dị không (1)
Có không, không có cũng ngần ấy thôi

Kỷ niệm ngày họp Văn Lâm Xă Brossard
Canada 29-8-1999
Cảm tác được giải nhất thi Thơ và được tặng bức tranh
Hoa Sen
(1) Kinh Bát Nhă

Bài họa 1 của Trần Dzoăn Thường
Có hoa không muốn nói (1)
Không nói có làm không.
Có buồn cũng không hỏi,
Có hỏi cũng bằng không.
Cơi đời vạn sự có-không,
Có-Không-Không-Có liên hồi đó thôi
Pasadena,TX 15-10-2006
(1) Người đẹp ít lời


Bài họa 2 của Nguyễn Huy Hùng

Gặp thời mà không nói,
Biết lắm cũng như không.
Chưa tường mà không hỏi,
Học măi cũng như không.
Mệnh trời, ai biết, ai không?

Biết hay không biết, cũng đành phận thôi!!!
California, 15-10-2006
Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng
 

Bài họa 3 của Trần Dzơn Thương

Biết thế nên không nói,
Biết nói cũng bằng không.
Nói biết nên không hỏi.
Tùy cơ, biết nói không.
Biết mệnh trời: Ấy nói không!
Ăn không nói có riêng ḿnh biết thôi.
Pasadena, TX 16-10-2006
NGUYÊN THIỆN TRẦN DZOĂN THƯỜNG
 "NHỮNG THĂNG TRẦM KHÓ QUÊN TRONG CUỘc ĐỜI"

 

 

 Khi bạn cảm thấy quá mệt mơi v́ cuộc sống, hăy miễm cười để cảm nhận t́nh yêu mới sẽ lại đến ḿnh. Không thể đón nhận t́nh yêu cuộc sống khi trong ḷng bạn ngập tràn trong thù hận hay đớn đau. Và một nụ cười sẽ xóa đi tất cả ...
 
 

Bà xướng của Tôn Thất Xứng

Ước mơ

Ngậm ngùi khóc nước viết lời thơ
Gởi đến đồng bào đôi ước mơ:
Tám chục triệu dân Nam ái quốc
Thái b́nh thịnh trị như xa xưa.
Cùng nhau tái dựng đạo cương thường
Nam Bắc chung lưng chống bạo cường
Chống Cộng phỉ độc tài, đảng trị
Buôn dân nô lệ, bán quê hương.
Đời người ai có chết hai lần!
Ai được mang tiền xuống cơi âm
Chả phụng nem công rồi cũng hết
Giàu nghèo lúc chết cũng tay không.
Có chăng c̣n lại tiếng tham ô
Lăng tẩm không hơn một nấm mồ
Xe ngựa nghênh ngang thêm xấu hổ
Đời người giấc mộng có chi mô.
Sao c̣n chưa ngộ có như không!
Mà măi lợi danh vướng cổ tṛng
Dâng đất cho Tầu Mao cộng đỏ
Đau ḷng tiên tổ, tủi non sông.
Sao c̣n ỷ mạnh hiếp dân hoài!
Sao chẳng v́ dân xây mộng đời
Tay nắm tay nhau vùng đứng dậy
Đuổi đầu Dũng, Mạnh, Triết vô tài.

TÔN THẤT XỨNG
Montréal, 20-04-2007

 

Bài họa của Nguyễn Huy Hùng

Hành động

Nước Nam hùng vĩ cảnh nên thơ,
Ḍng giống Tiên Rồng sống mộng mơ.
Thịnh trị thanh b́nh vui tiếng quốc,
Danh lừng Lạc Việt tự ngàn xưa.
Bỗng dưng xuất hiện Quỷ vô thường,
Mù quáng chạy theo lũ bạo cường.
Áp đặt Tam Vô (*) chuyên chính trị,
Cương thường đảo lộn loạn quê hương.
Luân thường đạo lư xụp suy lần,
Lang Sói bạo hành đốt Phúc Âm.
Hoang dă luật rừng giăng khắp cơi,
Toàn dân cùng cực với Ba Không (*).
Oai phong tự đắc lũ tham ô,
Mượn tiếng Hồ lang dưới đáy mồ,
Diệu vơ giương oai nanh vuốt hổ,
Đọa đầy ṇi giống, miệng Nam Mô.
Dân hùng Việt Tộc thấy hay không?
Chẳng lẽ ngồi yên chịu cổ tṛng.
Dũng cảm vùng lên diệt Quỷ Đỏ,
Cùng nhau bồi đắp lại non sông.
Tội chi nhịn nhục chịu đau hoài!
Để bọn sài lang măi hại đời.
Đồng loạt bên nhau cùng đứng dậy,
Dẹp tan bè lũ hạm vô tài.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Nam California, 22-4-2007.
(*)Vô gia đ́nh, Vô Tổ quốc, Vô Tín ngưỡng.

 

Bài xướng của Tôn ThấtX ứng

Bất khuất

Xưa tuổi trẻ cầm gươm diệt cộng,
Nay về già bút tống khứ Hồ,
Trước sau nguyện với Nam đô,
Tuốt gươm múa bút chống nô lệ Tầu.
Xót sông núi biển dâu đại họa,
Hận cộng Hồ đày đọa dân lành,
Bày tṛ giai cấp đấu tranh,
Thừa sai Mao, Mác ô danh Lạc Hồng.*
"Ốc mượn hồn" Hồ, Đồng xảo trá,*
Chiếm miền Nam cướp phá lộng hành,
Trại giam giây kẽm rào quanh,
Mượn tên cải tạo ngụy danh tù đày .
Hồ bán nước phân thây trăm mảnh,
Hồ buôn dân tội đánh ba đời,
Tội đồ bán nước buôn người,
Tru di chín họ như thời thịnh Lê. *
Nguyện v́ nước ta thề rửa nhục,
Khoác chinh y từ lúc c̣n thơ,
Bao năm chinh chiến đâu ngờ,
Đồng Minh phản bội cuộc cờ nát tan.
Dấu binh lửa tạm tàn chưa tắt,
Chống cộng Hồ bất khuất ngh́n thu,
Dưới trăng mài kiếm diệt thù,
Đợi ngày khởi nghĩa phục thù cứu dân.

Montréal 10-03-2007
*Thừa sai = kẻ đóng vai tṛ như Hồ chí Minh thi hành lệnh ông chủ Tầu (Mao) và Nga (Staline)
*Ốc mượn hồn = bề ng̣ai th́ cộng sản Hồ, Đồng cho là người Việt nhưng bề trong thực chất là theo Tầu (Hán) nhằm chực hiện mưu đồ bành trướng lănh thổ Trung Hoa ,và Đệ tam Quốc Tế Cộng Sả
*Tru di cửu tộc = Giết 9 họ.Năm 1473, vua Lê nói : Người nào dám đem một thước sông, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc th́ bị giết chín họ.
Nguyễn-Huy Hùng Chủ Tịch Khu Hội Cựu Tù nhân chính trị Việt Nam Nam California phát biểu trong dịp Cộng đồng Việt Nam Nam California tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc Hận Tháng Tư Đen tại Westminster, Little Saigon, Nam California năm 1998.

Bài họa của Nguyễn Huy Hùng

Quyết tâm

Đă rơ mặt gian manh Việt Cộng,
Hăy vùng lên táng tống giặc Hồ.
Xóm làng hiệp lực Thành đô,
Ra tay diệt bọn vong nô lụy Tầu.
Cứu Dân tộc thoát cơn thảm họa,
Quyết cùng nhau biến đọa thành lành.
Khử trừ giai cấp đấu tranh,
Dẹp tan Quỷ Đỏ tiếm danh Lạc Hồng.
Để diệt lũ Cộng nô man trá,
Dụng Trí Nhân bộc phá tiến hành.
Giúp Dân vượt khỏi khúc quanh,
Cương thường tái tạo chính danh nghiă đầy.
Đập cho Cộng Quỷ thành trăm mảnh,
Diệt lũ gian manh đánh hại đời.
Triệt Hồ ly nhập xác người,
Hết đường múa mép như thời Mác Lê.
Sáu chục năm rồi Dân khổ nhục,
V́ tin Hồ bịp lúc ngây thơ.
Tưởng rằng v́ nước… đâu ngờ!
Dấn thân nhập cuộc thí cờ… xác tan!
Dù cuộc chiến hôi tanh đă tắt,
Dù Hồ già đă khuất ngh́n thu.
Nước non càng đậm hận thù,
Nên Ta phải quyết diệt thù cứu Dân.

Nam California
Ngày 17-3-2007 (Saint Patrick’s Day) cũng là kỷ niệm sinh nhật tác giả 78 tuổi.

Bài xướng của Tôn Thất Xứng

Anh đi

Cuối tháng tư đen cộng sản về
Đô thành ngùi ngậm, mưa lê thê
Gió khua cành lá me vàng rụng
Phố vắng khách du hận năo nề.
Ngày ấy sao mà lắm đắng cay
Thuyền anh vượt biển khuất trời tây
Em c̣n măi đứng đầu sông ngóng
Nước vẫn xuôi ḍng, mây trắng bay.
Xuân, Hạ qua rồi, Thu lại Thu
Anh nuôi chí lớn diệt tan thù
Chân trời góc biển anh nào nhớ
Cái thuở ban đầu như mộng du.
Thiên hạ xôn xao đời đổi đời
Sàig̣n quê mẹ khổ, than ôi!
Dép râu nón cối nhiều hơn bọ
Vườn cũ hoa tàn lá tả tơi.
Một lũ cộng Hồ chẳng biết ai!
Riêng em cô quạnh tháng năm dài
Suốt ngày xuôi ngược lo cơm áo
Tâm sự vơi đầy nói với ai!
Chẳng lẽ quê ḿnh măi thế ru!
Cộng Hồ vô đạo vẫn tham, ngu
Nam Quan, hải đảo dâng Tầu đỏ
Lệ đẫm sơn hà vạn cổ thu

Montreal, năm Đinh Hợi
Tháng tư 2007.

Bài họa của Nguyễn Huy Hùng

Ta sẽ về

Vận hạn phải đi, Ta sẽ về!
V́ đời tạm gác chuyện phu thê.
Thăng trầm lận đận nơi quê lạ,
Nợ nước chồng vai trĩu nặng nề.
Biết rơ dân lành chịu đắng cay,
Đêm ngày bươn bả chạy Đông Tây.
Tập trung thần dược mong về sớm,
Năm tháng thay mùa như gió bay.
Mỗi độ lá vàng báo tiết Thu,
Ḷng thêm sôi sục hận quân thù.
T́nh nhà nợ nước luôn ghi nhớ,
Đang sửa soạn về dứt viễn du.
Quỷ Đỏ gây bao cảnh hại đời,
Nhà tan của mất như mây trôi.
Nhiễu nhương xă hội toàn sâu bọ,
Đảng ủy sang giầu, dân tả tơi.
Việt Cộng bạo tàn chẳng giống ai,
Thân nhân, đồng chí, hại nhau dài.
Bạn đời cũng loại như thay áo,
Khát máu vô loài đâu biết ai!
Hoà b́nh chiến thuật biến êm ru, (*)
Triệt loại lần hồi bọn Cộng ngu.
Đất Việt không c̣n bầy Qủy Đỏ,
Thanh b́nh hạnh phúc toả thiên thu.
Nam California, năm Đinh Hợi
Ngày 24 tháng 4 năm 2007.
(*) Sách lược DIỄN BIẾN HOÀ B̀NH được thực hiện bấy lâu nay, Việt Cộng rất sợ nên đang t́m mọi cách chống đỡ.

D̉NG ĐỜI QUA NHỮNG NĂM CON KHỈ

 


Voọc Chà Vá chân nâu ở Bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng Việt Nam.

2016 Bính Thân

Xuân mới hy vọng mới

Thêm một năm THÂN đến với đời,
Thăng trầm thế sự lắm buồn vui.
Thầy tṛ Cộng sản đang lâm nạn,
Đại chúng vùng lên liên tục đ̣i.
Dân chủ Nhân quyền cho mọi giới,
Tự do tín ngưỡng khắp nơi nơi.
Một ḷng diệt bọn gian manh Đỏ,
Dựng lại quê hương đẹp tuyệt vời.

-oOo-

Cầu xin Ơn Trên Thượng Đế gíúp mọi người thành công.
Little Saigon, Quận Cam, Nam California,
Tết Bính Thân ngày 8-2-2016.

2004 Giáp Thân

Tết Giáp Thân nhớ Xuân Át  Măo 1975

Hăm chín năm qua Xuân Đại Thắng,
Giặc Hồ Cộng Đảng hưởng quang vinh.
Dân Nam bị gạt hy sinh mạng,
Thế giới mắc lừa trợn mắt xanh.
Hăm chin năm qua Xuân Đại Thắng,
Dân nghèo, Dân khổ, Đảng sang giầu.
Chia nhau Cán hưởng thời hoan lạc,
Đại chúng vẫn cầy thay sức trâu.
Hăm chin năm qua Xuân Đại Thắng,
Buôn dân, bán nước, hại người nghèo.
Cộng nô phản quốc ḷi chân tướng,
Đại chúng chịu chung cảnh đói meo.
Hăm chín năm qua Xuân Đại Thắng,
Tự do Dân chủ Nhân quyền đâu?
Độc tài tham những đua nhau vét,
Thống nhất, toàn dân thêm khổ sầu!
Hăm chin năm qua Xuân Đại Thắng,
Máu xương Việt Cộng chẳng tiêu hao.
Dân lành vô tội theo nhau chết,
Hạnh phúc Nhân quyền chẳng thấy đâu?
Hăm chín năm qua Xuân Đại Thắng,
Người theo Chính nghĩa phải lưu vong.
Chưa quên Trách nhiệm c̣n dang dở,
Diệt Cộng cứu Dân mới thoả ḷng.

Tết Giáp Thân 2004
Little Saigon Nam California

 

1992 Nhâm Thân

Xuân Hy Vọng

Mai vàng xoè cánh đón Nhâm Thân,
Pháo đỏ reo vang rước Hỷ Thần.
Xuân lộc dạt dào hương nhựa sống,
Không gian chan chứa ánh kim ngân.
Đông Tây hoà hiệp xây Dân chủ,
Nam Bắc
(1) giao thương tạo hợp quần.
Trời Đất xoay vần qua vận mới,
Đại Gia đoàn tụ hội Long Vân
(2).

Phú Nuận ngày 4-2-1992

(1) Hai khu kinh tế, Bắc bán cầu gồm các nước Tây phương đă phát triển văn minh giầu có. và Nam bán cầu gồm các nước chậm tiến chưa phát triển về công nghiệp nên c̣n nghèo đói.
(2) ngày hội ngộ với 2 con Long và Vân bên Hoa Kỳ.
Vào trước Tết gia đ́nh nhận được thông báo là đă được lên danh sách phỏng vấn để đi định cư bên Hoa Kỳ theo chương tŕnh nhân đạo (Humanitarian Operation) theo đơn xin đă nộp từ đầu năm 1989.

 

Câu Đối Tết Nhâm Thân 1992

Nhâm Thân đến, vui vẻ chan ḥa hương vận mới
Chúa Xuân về, hân hoan rực rỡ ánh vinh quang

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

 

1980 Canh Thân

Xuân lưu đày

Xuân vẫn là Xuân, Ta vẫn Ta,
Trại nào cũng vẫn cảnh rừng già.
Lăng xăng ngoài dậu công an đỏ,
Lặng lẽ trong rào cải tạo gia.
Khỉ Cú trẽn trơ nh́n nước đổ,
Anh hùng sầu muộn nhớ thời qua.
Mưa phùn gợi nỗi thương Dân Tộc,
Sương giá khơi lo vận Nước Nhà.

Tết Canh Thân tại K-2, trại Thanh Phong, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

***

1968 Mậu Thân

Cộng nô Hồ tặc gian manh bội ước


Hochiminh qua nét vẽ biếm họa của họa sỉ Walter Toscano 2014

Hưu chiến đầu năm đă hứa rồi,
Dân lành mừng rỡ đón Xuân vui.
Không ngờ Hồ tặc gian manh phản,
Bội ước xua quân đánh mọi nơi.
Máu lửa ngụt trời tṛn tháng Tết,
Hận thù chồng chất chẳng sao nguôi.
Mọi người đoàn kết diệt tan giặc,
Cuộc sống b́nh an được phục hồi.

Tân Sơn Nhất, Saigon, Tết Mậu Thân 1968.

 

1956 Bính Thân

???

Bính Thân đón Tết mọi người vui,
Đất nước miền Nam đang chuyển thời.
Phong kiến Thực dân đều biến hết,
Cộng Hoà Dân Chủ sẽ vào đời (1).
Do Ngô Tổng Thống anh minh lập,
Tam quyền phân lập khắp nơi nơi.
Kinh tế rập khuôn theo nước Mỹ,
Quyết tâm chống Cộng cứu nhân loài.

Saigon, Tết Bính Thân 1956
(1) Lễ đăng quang tân Tổng Thống VNCH dự trù vào ngày 26-10-1956.
Lúc đó tác giả đang là Thiếu Tá Trưởng Pḥng Mật Mă Trung Ương Bộ Chỉ huy Viễn Thông thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam, Chủ tịch Phong trào Cách Mạng Quốc gia của Binh chủng Truyền Tin.

 

1944 Giáp Thân

???

Khói lửa mịt mù Thế chiến hai,
Đồng Minh, Phe Trục
(*) đấu tơi bời.
Âu, Phi, Đức quyết lùa quân chiếm,
Úc, Á, Nhật tràn cướp đất đai.
Thuộc địa dân lành thêm chủ mới,
Gọng ḱm nô lệ ghép thành đôi.
Thực dân cấu kết t́m phương gỡ,
Nhược tiểu vùng lên lợi dụng thời.

Lạng Sơn, Tết Giáp Thân 1944.
(*) Đồng Minh gồm các nước Âu Châu, Bắc Mỹ và Nga. Phe Trục gồm Đức, Ư bên Âu Châu, và Nhật bên Á Đông.
Lúc đó hàng ngày không quân Mỹ từ bên Tầu bay qua Lạng Sơn và các tỉnh khác tại miền xuôi bỏ bom bắn phá cầu, đường sắt, nhà ga, và nơi đồn trú của quân Nhật xen lẫn trong thành phố nơi dân cư ngụ, nên dân lành chết oan rất nhiều.
Tại Lạng Sơn chiếc cầu sắt bắc trên đoạn sông Kỳ Cùng chẩy ngang qua giữa thị xă, bị máy bay Mỹ đánh xập mất mấy nhịp làm giao thông nghẽn tắc, phải bắc cầu phao nổi trên mặt sông cho người và xe hơi qua lại, v́ thế các đoàn xe lửa không thể tiếp tục chạy từ ga chính tại phiá Nam thị xă Lạng Sơn lên các thị xă Đồng Đăng, Na Chầm, Thất Khê như trước được nữa.

 

 

Tương lai của dân tộc Việt

Tội nghiệp tuổi thơ chửa thức thờ́,
Chiến tranh nhiễu loạn vẫn đuà vui.
Chẳng hay đất nước đang cần Trẻ,
Rèn luyện Tâm Thân hiệp Đạo Trời.
Khôn lớn đấu tranh giành Độc lập,
Cứu dân thoát khỏi ách tôi đ̣i,
Phục hưng Dân chủ cho ṇi giống,
Nhân quyền lan toả khắp nơi nơi.

NGUYỄN-HUY HÙNG
Hướng đạo sinh VOI HOẠT BÁT

Ánh sáng ḍng đời
T́nh Yêu, Hy Vọng, B́nh An

l’Amour, l’Espérance, la Foi, la Paix.
Love, Hope, Faith, Peace.
 

Rực trời Ánh Sáng T́nh Yêu,
Soi đường nhân loại thấy điều nghĩa nhân.
Giúp nhau khắp nẻo đường trần,
Quư thương b́nh đẳng không phân giống ṇi.
Trời cho ta nhận kiếp người,
Ánh Sáng Hy Vọng ngời tương lai.
Muốn đời tươi đẹp dài dài,
Trau dồi trí thức luyện tôi mọi điều.
Học hành cực nhọc bao nhiêu,
Cũng đừng thối chí chớ xiêu nản ḷng.
Miệt mài sẽ đạt thành công,
Lộc Tài Hạnh phúc mênh mông đường đời.
Công Danh vang dội nơi nơi,
Họ hàng Gia tộc Nhân loài ngợi khen.
Lung linh Ánh Sáng Đức Tin,
Tu Thân, tích Đức, tọa Thiền tịnh Tâm.
Tri hành đạo lư uyên thâm,
Dựng xây quả Phúc, gây mầm Vị Tha.
Đừng ham quyền tước cao xa,
Tránh gây oan nghiệp, thoát sa Luân Hồi.
Tiếp tay cứu giúp nhân loài,
Tạo niềm Trung Tín cho đời thăng hoa.
Đất Trời rộng đẹp bao la,
Vượt qua Thế Giới Ta Bà B́nh An
.

Hemet, Nam California,
Cảm tác nhân Mùa Ph
ật Đản Năm 1993.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

Ngày hiền mẫu

( Mother’s Day theo tục lệ Hoa Kỳ quy định
Là ngày Chúa Nhật thứ 2 của tháng 5.
Riêng tặng những ai đang c̣n Mẹ )

Tháng Năm, phượng nở ve ca,
Quây quần con cháu tặng hoa Mẹ Hiền.
Trong nhà Mẹ chính là Tiên,
Nghiă t́nh đâu thể dùng tiền chuốc mua.
Từ trong bụng Mẹ ta ra,
Nhập ṿng thế tục chan hoà nhiễu nhương.
Mẹ lo dưỡng dục quư thương,
Đêm ngày bảo vệ khỏi vương lụy trần.
Cưng ta hơn cả bản thân,
Nhường cơm xẻ áo chẳng cần đắn đo.
Mẹ như sông rộng biển hồ,
T́nh thương man mác trải vô tận cùng.
Đời người có thủy có chung,
Mẹ già, nhẫn nại phục tùng dưỡng nuôi.
Đến khi cưỡi hạc về trời,
Đền ơn bằng tiếp giúp người kém may.
Tu thân tích đức đêm ngày,
Đắp xây quả phúc cao dầy vô biên.
Bao dung trọng nghiă hơn tiền,
Bền tâm reo cấy thiện duyên đạo trời.
Cơi Trên thanh thản Mẹ vui,
Cháu Con hiếu thảo sống đời vị tha.

Corona, Nam California, Hoa Kỳ,
Mother’s Day Sunday 10 May 2015
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

 

Mẹ tôi

Mẹ là bóng mát cạnh bên Cha,
Tận tụy nuôi con giữ nếp nhà.
Hiếu Nghiă Tín Trung luôn giữ gốc,
Danh thơm Hiền Mẫu khéo tề gia.
Mẹ là bóng mát cạnh bên Cha,
Hiền hậu đoan trang nết thật thà.
Thời thế vượng suy không biến đổi,
Gương trong Hiền Nội gốc Nho gia.
Mẹ là bóng mát cạnh bên Cha,
Kiên nhẫn dậy con nối nghiệp nhà.
Dũng cảm dấn thân v́ đất nước,
Rạng danh Hiền Nữ Việt Nam ta.
Mẹ là bóng mát cạnh bên Cha,
Chia xẻ t́nh thương đến mọi nhà.
Để lại trong con gương sáng quư,
Ngàn năm h́nh Mẹ chẳng phai nhoà.

Corona, Nam California, Hoa Kỳ,
Mother’s Day Sunday 10 May 2015

Tặng bạn đời yêu quư

Bên nhau Sáu Sáu năm vui buồn,
Duyên nợ Trời cho được chín Con.
Bĩ cực, cùng chia cơn khổ lụy,
Vượng thời, chung hưởng khúc hân hoan.
Bể dâu biến đổi, t́nh không đổi,
Thế sự xoay vần, nghĩa chẳng hoen.
Phước Tổ chan hoà gương chí hiếu,
Lộc Trời ban thưởng sánh bằng non.

Corona, Nam California, Hoa Kỳ,
Mother’s Day Sunday 10 May 2015

Nguyễn Huy Hùng và Phu nhân tại Chùa Bát Nhă đường Sullivan thành phố Santa Ana, Nam Cali.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

 

Số mệnh con người

Nhân Duyên, Sự nghiệp, Mệnh do trời,
Kèn cựa bon chen cũng thế thôi.
Tích Đức, Tu thân, xây quả Phúc,
Trọn đời thanh thản sống An Vui.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Tết Nhâm Ngọ 12-2-2002.

Theo tục lệ Hoa Kỳ là ngày Chúa Nhật thứ ba trong tháng 6

Riêng tặng những ai đang c̣n cha

 

Tháng Sáu vui Hè kính nhớ Cha,
Hàng năm tháng Sáu, Trẻ bên Già.
Chia nhau chiếc bánh mừng thương Bố,
Sương gió cuộc đời xạm nếp da.|
Tháng Sáu vui Hè kính nhớ Cha,
V́ Dân v́ Nước phải bôn ba.
Đêm ngày gian khổ không sờn chí,
Tóc bạc lưng c̣ng vẫn thiết tha.
Tháng Sáu vui Hè kính nhớ Cha,
Canh khuya thao thức vọng quê nhà,
Chiến binh hoài băo c̣n dang dở,
Vững chí đường dài chẳng ngại xa.
Tháng Sáu vui Hè kính nhớ Cha,
Bao năm gian khổ chẳng phiền hà.
Nghiă, Nhân, Trung, Tín, luôn ǵn giữ,
Gương sáng ngàn thu chẳng nhạt nḥa.

Corona, Nam California, 21-6-2015.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG.

 

TÂM T̀NH CHIẾNSIĨ

 

Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng cảm tác tặng các Chiến hữu Truyền Tin, nhân dịp họp mặt tại Khu Little Saigon Nam California kỷ niệm 60 năm thành lập Binh chủng Truyền Tin Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Tuổi hạc phong sương vẫn vững ḷng,
V́ Dân, chống Cộng chịu long đong.
Thiếu thời, việc nghĩa từng chung sức,
Niên tráng, truyện đời quyết góp công.
Dũng cảm dụng thời xây nghiệp lớn,
Trớ trêu Trời định biến thành không.
Quên ḿnh gian khổ gầy công đức,
Con Cháu mai sau hưởng phước ṛng.

Westminster, Father’s Day 2011

KÍNH THƯƠNG BỐ

(Kính tặng Bố Nguyễn-Huy Hùng của chúng con)

Thời gian khắc nếp da mồi,
Thân già, phong thái Bố tôi chẳng già.
Dấn thân mấy chục năm qua,
Vào sinh ra tử bôn ba v́ đời.
Dấu giầy in vết nơi nơi,
Chiến bào thấm đượm t́nh ngườiViệt Nam.
Đắc thời quyền thế không tham,
Thất thời gian khổ chẳng làm ô danh.
Hiên ngang tư cách hùng anh,
Bạn, thù kính nể, dân lành quư thương.
Danh thơm ngào ngạt gia đường,
Vợ Con hănh diện noi gương Bố Già.

KHIẾT NGUYỆT THU-VÂN

Little Saigon, Ngày Father’s Day 2011

 

Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng thăm Chùa Đài Loan
Tết Bính Tuất 29-1-2006 tại Los Angeles County, Nam California


Ḍng đời nghiệp chướng bao la,
Tu tâm tich đức thoát xa luân hồi.
Không ham không hận thảnh thơi,
Ngày đêm thanh thản, an vui bốn mùa

NGỌN NẾN T̀NH THƯƠNG

Cùng nhau thắp nến soi đường,
Cho nhân loại thấy t́nh thương của Trời.
Cùng nhau thôi thúc ḷng người,
Dang tay cứu nạn thoát nơi đọa đầy.
Cùng nhau góp lửa hun mây,
Đốt tan băng giá, trồng cây ân t́nh.
Cùng nhau dâng đuốc Thánh Linh,
Xoá màn u tối, khai minh cuộc đời.
Cùng nhau gom nắng hồng tươi,
Hâm ḍng nhân ái, khơi ng̣i vị tha.
Cùng nhau vun tưới tinh hoa,
Cho hương danh Việt chan ḥa Thế Nhân.
Cùng nhau hăng hái hợp quần,
Nối ṿng tay lớn kết thân Trẻ Già,
Cùng nhau chung sức ngợi ca,
Thiện tâm, Chính đạo bao la chẳng cùng.
Cùng nhau kính trọng thủy chung,
Bảo toàn sĩ khí Anh Hùng Việt Nam.
Cùng nhau diệt bọn gian tham,
Diệt bầy Quỷ Đỏ đang làm hại Dân.
Cứu Đồng bào thoát phong trần,
Phục hưng Đạo đức tinh thần Rồng Tiên.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

Corona, Nam California, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ

 

KÊU GỌI HẢO TÂM

Little Saigon Radio tại quận Orange phát động chương tŕnh xin quà
tặng cho trẻ nghèo ở trong nước Việt Nam nhân dịp Lễ Giáng sinh 1993.

Nhân thế reo mừng Chúa Giáng sinh,
Truyền thông mời gọi góp ân t́nh.
Trẻ nghèo vui hưởng ơn mưa móc,
Mọi giới một ḷng giúp chúng sinh.
Nghĩa cử bao la gương bác ái,
Vị tha hội tụ giáng hiền tinh.
Thiện tâm vun đắp đời căo cả,
Tạo hoá bù trừ bước hiển vinh.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Garden Grove, tháng 12-1993

***

TUYỆT THỰC CHONF61 ĐÀN ÁP TÔN GIÁO

Trên đường Bolsa, Thành ph Westminster,

Nam Cali tháng 12-1993

Đồng tâm già trẻ dựng cơ đồ,
Nghiă sĩ hiên ngang loại Cộng nô.
Cầu nguyện niềm tin thắng bạo lực,
Liên minh Tôn Giáo phất cao cờ.
Nhịn ăn tranh đấu đ̣i Dân chủ,
Bỏ ngủ quyết giành lấy Tự do.
Dân Việt kiêu hùng trừ phản tặc,
Quân Cam khí thế chống phe Hồ.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

***

GIÀ TRẺ CÙNG DẤN THÂN

Fountain Valley, Mile Square Park 19-11-1994

Công viên một dặm nắng hây hây,
Già trẻ vui cười tay nắm tay.
Đi bộ chung lo quyền tỵ nạn,
Góp tiền tiếp trợ người không may.
Dấn thân chia sẻ niềm đau khổ,
Hiệp lực lùa tan cảnh đọa đầy.
Nam Nữ dâng cao gương thiện nguyện,
Đất Trời rực rỡ Cờ Vàng bay

 

Từ trái qua phải: Các Bồ Câu NGUYỄN-HUY HÙNG, ĐẶNG VĂN PHI (cầm bảng) BÙI TRỌNG HUỲNH (Hội trưởng Hội Ái hữu Truyền Tin Nam California)

4 người đội mũ từ trái qua phải: Bồ Câu NGUYỄN-HUY HÙNG, Bồ Câu LẠI ĐỨC NHUNG, Linh Mục PHAN PHÁT HƯỜN, Bồ Câu không nhớ tên.

 ***

2015, THƠ LƯU NIỆM NHỮNG NĂM MÙI


Sơn Dương (Dê núi)

2015 ẤT MÙI

TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT ĐẬP TAN BÈ LŨ CỘNG NÔ

Tết đến già thêm một tuổi đời,
Đêm ngày chồng chất lắm buồn vui.
Hai mươi năm lẻ xa đất nước,
Vận động đấu tranh cứu giống ṇi.
Dân tộc vẫn ch́m trong khổ lụy,
Hận thù Cộng phỉ chẳng sao nguôi.
Nữ Nam Việt tộc mau đoàn kết,
Diệt bọn gian manh lũ hại người.

Corona, Nam California.
Tết Ất Mùi ngày 19-2-2015.

 

VUI TUỔI GIÀ

Mới đấy mà nay Tám Sáu rồi,
Nhớ thời trai trẻ trải muôn nơi.
Mấy năm du học bên Âu, Mỹ,
Tôi luyện binh thư thấy cũng vui.
Về nước hành quân lùng diệt Cộng,
Y như dân Thượng rượt săn mồi.
Xuân này tuổi hạc, cầu thêm Chắt,
Hạnh phúc Phật Trời tặng thưởng Tôi.

-oOo-

Khấu đầu đa tạ Phật Trời đă ban cho
nhiều Ơn Phước.

Corona, ngày 10-1-2015.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG


Hai Vợ Chồng già chụp vào dịp Xmas 2012
tại Hemet Nam California.

&&&

2003 QUÍ MÙI

 

Cảm tác nhân dự Lễ Khánh thành Tượng đài Chiến sĩ Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng Ḥa đă hy sinh cho Tự do Dân chủ Nhân quyền của Dân tộc Việt Nam từ trước 30-4-1975.

Bài Phụng họa vận của Cụ HẢO-TÂM về bài thơ “ANH HÙNG TỬ KHÍ HÙNG BẤT TỬ”. Cụ Tên thật là Trần Thiện Tâm, cựu Trung Tá Ngành Hành chánh Tài chánh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, 83 tuổi vào năm 2003, em ruột của Nữ sĩ VÂN NƯƠNG (góa phụ của cố Đại sứ Lê Ngọc Chấn chết trong trại tù tập trung của Việt Cộng

 

“ANH HÙNG TỬ, KHÍ HÙNG BẤT TỬ”

Quận Cam nắng Hạ chan ḥa,
Bên nhau Việt Mỹ trẻ già hân hoan.
Cờ Hoa xen lẫn Cờ Vàng,
Tung bay mở hội nghiêm trang đón mừng.
Tượng hai Chiến sĩ Anh Hùng,
Hiên ngang bất tử đứng cùng thời gian.
Gương hy sinh rạng mây ngàn,
Bao năm chiến đấu gian nan v́ đời.
Tự do sáng tỏa nơi nơi,
Nhân quyền Dân chủ người người hưởng chung.
Trọng thay nghiă khí kiêu hùng,
Khác da khác giống nhưng cùng ước mơ.
Mơ toàn nhân loại an ḥa,
Công bằng, bác ái, nhà nhà ấm no.
T́nh thương dâng ngát muôn hoa,
Ḥa đồng Sắc Tộc, Mầu Da, Giống Ṇi.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Nam California,Ngày 27 tháng 4 năm 2003.

 

ĐẠO LÀM NGƯỜI

Câu thơ tri kỷ hợp ḥa
Trao nhau tâm huyết ngày già lạc hoan.
Ngàn năm máu đỏ da vàng
Trăn năm tô đậm thêm trang sử mừng
Biết bao nghĩa sĩ oai hùng
Nặng t́nh Dân Nước thách cùng nhân gian
Quản chi lội suối băng ngàn
Tên bay đạn vụt nguy nan cơi đời…
Thanh b́nh ước tạo khắp nơi
Kề vai sát cánh với người niềm chung
Quyết tâm nhất chí anh hùng
Ấy là chính khí phải cùng say mơ
Văn minh lễ sống dung ḥa
Thương Yêu kiến tạo mọi nhà đều no…
Dối gian giết tróc ba hoa
Kia Cộng đó Thánh Nồi da xáo Ṇi !!!

HẢO-TÂM,

Virginia, ngày 4 tháng 5 năm 2003.


Từ trái qua phải: Nguyễn-huy Hùng (K-1), Lê Như Hùng (K-14) tác giả bài hát Vơ Bị Hành Khúc của Trường Vơ Bị Quốc gia Việt Nam.

***

HOÀI CỐ NHÂN

Thượng Tọa Thanh Long(*) đă măn phần,
 Khuôn Thiền Giác Ngạn vắng Hiền quân.
Bốn Mùa khổ hạnh xây công đức,
Tám Tiết tu thân diệt Lục Trần.
Dứt kiếp luân hồi về cơi Phật,
Lià thân cát bụi hết trầm luân.
Danh thơm Đạo đức lưu muôn thuở,
 Gương sáng Từ bi rạng Thế nhân.

Mùa Thu Tân Mùi 1991, Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

(*) Thượng Tọa Thích Thanh Long, trước 30-4-1975 là Giám đốc Nha Tuyên úy Phật Giáo QLVNCH. Ngài thân quen với tác giả Nguyễn-Huy Hùng từ hồi c̣n làm Tuyên úy tại Bộ Tư lệnh Địa phương quân và Nghiă quân từ năm 1965 đến 1967. Ngài cũng phải đi cải tạo 12 năm, giữa năm 1987 mới được tha về cư trú tại Chùa Giác Ngạn do chính Ngài đă có công xây dựng lên từ trước năm 1975. Sau bao năm tháng tù đầy, Ngài suy yếu bệnh hoạn đến khoảng giữa tháng 10 năm Tân Mùi 1991 th́ qua đời, nhục thể được hoả táng ngày 20 tháng 10 năm Tân Mùi 1991 và lưu tại tháp thờ xây ngay trong phiá phải sân Chùa Giác Ngạn

1979 KỶ MÙI

TÂN LẬP ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Nắng hạn khô da nứt nẻ đồng,
 Mưa nguồn lũ cuốn, khổ bần nông.
Cầm hơi lao động, lưng ca sắn,
Khắc phục bệnh thời, nắm lá xông.
Hung hăn, Cai tù hăm hở nạt,
Hững hờ, Cải tạo lạnh lùng trông.
Rừng hoang đất sỏi, chen vồng mía,
Núi trọc hầm vôi, đá chất chồng.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Hè 1979, Phân trại K5, trại Tân Lập.
Tỉnh Vĩnh Phú, Bắc phần Việt Nam

TRUYỆN THĂM NUÔI

Gặp nhau bốn mắt tṛn xoe,
Máu dồn tê mặt, lệ nhoè khoé mi.
 Nghẹn ngào chẳng biết nói ǵ,
Không gian trùm phủ mây ch́, gió Đông.
Vươn tay tính nắm tay chồng,
Bàn tre ngăn cách, đành trông ngậm ngùi.
Oai phong Cán bộ rung đùi,
Mặt vênh lên giọng nhắc lời Nội quy.
“LẾU” ai vi phạm, tức th́,
 Chồng vào kỷ “NUẬT”, Vợ về cấm thăm.
Vợ chồng đưa mắt hiểu ngầm,
Ngập ngừng hỏi truyện những năm vắng nhà.
Truyện sinh sống tháng ngày qua,
Truyện con thay đổi học xa, học gần
(*).
Truyện bè bạn, họ hàng thân,
Truyện đời đổi mới cận lân thế nào?
Xa xôi bóng gió đổi trao,
Mập mờ tiếng lóng xen vào báo tin.
 Hiểu ra thời thế đảo điên,
Vợ, Con, tủi cực triền miên tháng ngày.
Xót xa nuốt lệ bó tay,
Gượng khuyên lao động hăng say với người.
Từ rày vạn dặm xa xôi,
Gửi quà Bưu kiện tiếp bồi cũng xong.
Cần luôn can đảm vững ḷng,
 Giữ ǵn sức khoẻ đợi trông ngày về.
Hạn thăm mươi phút vừa kề, Cán hô :
“Ra NĂNH quà, về khẩn trương!”
 Chia tay chồng vợ luyến thương,
Vội vàng ôm đại giữa đường, hôn nhau.
 Cán trông hờ hững hối mau,
Rơ ṇi Cộng sản, biết đâu… nghĩa t́nh!!!

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Mùa Đông 1979
Phân trại K-5, trại Tân lập, Vĩnh Phú.
(*) Hỏi mánh xem có ai vượt biên trốn được ra nước ngoài không?

1967 ĐINH MÙI

???

Tết đến năm nay thật đẹp Trời,
Cúc Mai rộ nở ánh vàng tươi.
Quân Dân cầu nguyện Thanh b́nh sớm,
Nam Bắc hiệp thương quyết dựng thời.
Dân chủ Nhân quyền cho mọi giới,
Tự do B́nh đẳng khắp nơi nơi.
Quê hương biến đổi lan tràn phước,
Đất nước vượng cường đại chúng vui.

Saigon, Tết Đinh Mùi 1967.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG.

1955 ẤT MÙI

MIỀN NAM TRƯNG CẦU DÂN Ư

Đất Việt từ khi bị cắt hai (1),
Miền Nam xuất hiện lắm anh tài.
Hiệp nhau thành lập Phong trào mới,
CÁCH MẠNG QUỐC GIA đổi thế thời.
TRƯNG CẦU DÂN Ư
(2) thay Vua cũ (3),
Đưa Thủ Tướng (4) lên để thế ngôi.
Dựng nước CỘNG HOÀ như Mỹ quốc,
Toàn dân ghi nhớ ơn muôn đời
(5).

Saigon, 23 tháng 10 năm 1955.
MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

(Lúc đó tác giả đang là Thiếu Tá Trưởng Pḥng Mật Mă Trung Ương tại Bộ Chỉ huy Viễn Thông Bộ Tổng Tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng H ̣a, được chiến hữu Truyền Tin các cấp thuộc các đơn vị Trung Ương bầu làm Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia của Binh chủng Truyền Tin.)

(1).- Hiệp định Genève kư ngày 21-7-1954 chia đất nước Việt Nam thành 2 miền Nam Bắc tại Vĩ tuyến 17 dọc theo sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị.
Miền Bắc thuộc quyền cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam với tên là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Phạm văn Đồng làm Thủ Tướng.
Miền Nam thuộc quyền quản trị của Chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Cựu Hoàng Bảo Đại làm Quốc Trưởng và ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng. Lúc đó Quốc gia Việt Nam c̣n là thành viên của Liên Bang Đông Dương gồm Việt, Miên, Lào do nước Pháp cai trị.
(2).-Đây là mấy câu hát rao giảng trên các đài phát thanh Quốc gia trên toàn miền Nam Việt Nam về ngày trưng cầu dân ư, tác giả không nhớ toàn bài:

“23 tháng 10 là ngày trưng cầu dân ư,
23 tháng 10 là ngày phá tan ngai vàng.
Đứng lên toàn quốc, viết trang sử mới….”
(3).- Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam lúc đó là cựu Hoàng Bảo Đại, tên húy là Nguyễn Vĩnh Thụy.

(4).-Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm do Quốc trưởng Bảo Đại chỉ định làm Thủ Tướng vào ngày 16-6-1954với toàn quyền quyết định mọi việc Quốc gia không phải tham khảo ư kiến Quốc trưởng trước như các Thủ Tướng tiền nhiệm. Nhưng măi đến ngày 7-7-1954 ông Ngô Đ́nh Diệm mới tŕnh diện Chính phủ và chính thức thực thi quyền Thủ Tướng.

(5).- Kể từ sau ngày VIỆT NAM CỘNG HOÀ ra đời 26-10-1956, nghi thức chào cờ chính thức được quy định là sau khi hát bài Quốc Ca “TIẾNG GỌI CÔNG DÂN” th́ phải hát bài “SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG”. Bài hát này do nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bích sáng tác (ông đă qua đời vào năm 2001).

 

SUY TOÂN NGOÂ TOÅNG THOÁNG

Ai bao năm từng lê gót nơi quê người
Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do
Người cương quyết chống cộng
Bài phong kiến bóc lột Diệt thực dân đang giắt reo tàn phá
Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời
Gương hy sinh ngàn muôn tiếng không hề phai
Toàn dân quyết kết đoàn cùng chung sức với người
Thề đồng tâm say đắp cho ngày mai
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Xin thượng đế ban phước lành cho người
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng
Thống
Chung đắp say nền thống nhất sơn hà
 

Dấu triện (seal) của Phủ Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hoà.

 

 

 

1943 QUƯ MÙI

TUỔI TRẺ VIỆT NAM DẤN THÂN

Phe Trục(1) tung hoành khắp Á Âu,
Diệt Phong đả Thực(2) trên toàn cầu.
Cứu dân nhược tiểu qua nô lệ,
Độc lập Tự do khỏi cúi đầu.
Thuộc địa tiêu tùng toàn Thế giới,
Nhân quyền lan toả cả Năm Châu.
Việt Nam tuổi trẻ mau đoàn kết,
Quang phục quê hương vững mạnh giầu.

Lạng Sơn, Tết Qúy Mùi 1943.
NGUYỄN-HUY HÙNG
(1).- Phe Trục trong Thế giới Đại Chiến Hai gồm ĐỨC và Ư ở bên Âu Châu và NHẬT ở bên Á Đông.
(2).-Tiêu diệt Phong Kiến Trung Hoa và đả phá Thực Dân: Anh, Pháp, Nga, Tây-Ban-Nha, Hà-Lan …

ƯỚC MƠ TUỔI THƠ

Thiếu niên tuổi mới qua mười,
Nhập đoàn Hướng Đạo, học, chơi thỏa t́nh.
Thiên nhiên bao quát đẹp xinh,
Muôn loài sinh động, chuyển ḿnh thời gian.
Xuân sang nhựa sống dâng tràn,
Hè về hoa nở, rừng chan chứa mầu.
Thu qua lá chuyển sang nâu,
Đón mùa Đông lạnh mây sầu lê thê.
Đường dài sải bước mải mê,
Luyện rèn Trí Đức, xây quê mạnh giầu.
Nề chi sương gió, biển dâu,
Noi gương Tiên Tổ, mưu cầu Tự do.
Cho Dân sung túc ấm no,
Thanh b́nh, Độc lập, ước mơ đạt thành.

Tết Quư Mùi (5 tháng 2 năm 1943)
Chùa Tiên, phố Thổ, Lạng Sơn.

 

“Một ngày là Hướng Đạo Sinh,
Cả đời là Hướng Đạo Sinh”
(Scout one day, Scout for life)
Noel 1970, Trại Trưởng Voi Hoạt Bát (Đại Tá Nguyễn-Huy Hùng) tại Trại Họp Bạn Đội Trưởng Thiếu Nhi Quân Đội trong rừng Chí Linh, Vũng Tầu.

 

 

 

TRƯỜNG ĐỜI VỚI NHỮNG BÀI THƠ KHÓ QUÊN

 

Chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa

Thề trọn đời hy sinh dấn thân v́ Quốc gia Dân tộc Việt Nam.

 

 

 

THU ẤT MÙI  2015

NIỀM RIÊNG

Thu sang rừng lá thay mầu,
Suối trong rỉ rả khe sâu nhạc buồn.
Nắng chiều rọi bóng cô đơn,
Nao nao tim thắt từng cơn nỗi nhà.
Quê hương dưới ách Quỷ Ma,
Độc tài chuyên chính ba hoa lộng quyền.
Buôn dân bán nước tổ tiên,
Gian tham bóc lột dân hiền khổ đau.
Thiếu ăn thiếu thuốc cơ cầu,
Ngày đêm lam lũ hơn trâu kéo cầy.
Bạo quyền tham nhũng phây phây,
Lập bè kết đảng đọa đầy lương dân.
Đua nhau hưởng thú hồng trần,
Ngày đêm hoan lạc phù vân sang giầu.
Học đ̣i nếp sống Nga Tầu,
Thực dân Phong kiến, cưỡi đầu dân đen.
Quốc dân đâu vắng người hiền,
Sao không vùng dậy đứng liền bên nhau?
Quyết tâm bền chí đương đầu,
Dẹp bầy lang sói tóm thâu sơn hà.
Dựng nền Dân chủ Tự do,
Cho toàn dân sống ấm no thanh b́nh???

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Little Saigon, Quận Cam, Nam California, Mùa Thu 2015.

THU ĐINH HỢI 1947
THÁNG TÁM 1945 CÁCH MẠNG HAY QUỐC NẠN

Cách mạng Bốn Lăm (1945) tạo đổi đời,
Cương thường đảo lộn khắp nơi nơi.
Cha Con Ông Cháu thành đồng chí,
Già Trẻ Thầy Tṛ chung thứ ngôi.
Thế giới đại đồng không Tổ quốc,
Công Nông chuyên chính chẳng t́nh người.
Chiến tranh Quốc Cộng tràn oan nghiệt,
Cộng đảng tàn hung hại giống ṇi.
Ngă Tư Vọng, Bạch Mai Hà Nội,
Tết Trung Thu 1947.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Lúc dó tác giả là thư kư của Ban Chỉ huy Đại đội 4 Vệ binh Bắc Kỳ đồn trú tại Ngă Tư Vọng, Bạch Mai thành phố Hà Nội.

 

THU GIÁP NGỌ 1954

NIỀM ĐA ĐẤT NƯỚC BỊ CHIA HAI

 

Tháng Bẩy Năm Tư (7-1954) thật nghiệt oan,
Giơ-Neo (Genève) thế giới họp bàn tṛn.
Chia đôi đất Việt nơi Bến Hải,
Nam Bắc đôi đường, bao oán than.

-oOo-

Triệu người bỏ Bắc chạy vào Nam,
Xa lánh Cộng quân Hồ tặc(1) tham,
Cướp đất giết người xây dựng Đảng.
Tam Vô(2) chuyên chính chẳng ai ham.

Saigon, Tết Trung Thu 1954
MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
.
Lúc đó Tác giả đang là Thiếu Tá phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam.

(1) Theo Hiệp định Genève quy định th́ đất nước Việt Nam bị chia thành 2 nước Bắc Việt và Nam Việt do 2 chính phủ theo 2 chế độ chính trị khác nhau quản trị.

Miền Bắc dưới quyền thống trị của Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà. Miền Nam thuộc quyền quản trị độc lập của chính phủ Quốc gia Việt Nam do Cựu Hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng.

Người dân nào đang cư ngụ tại miền Bắc Vĩ tuyến 17 không muốn sống dưới chế độ hà khắc độc tài chuyên chính đảng trị của Hồ Chí Minh th́ được quyền tự do di chuyển vào miền Nam sinh sống lập nghiệp và được chính quyền Pháp thi hành Hiệp định Genève cung cấp phương tiện chuyển vận rời miền Bắc vào miền Nam trong ṿng 300 ngày kể từ ngày Hiệp định kư kết là 21-7-1954.

Các Cán binh Việt Cộng đang hoạt động tại miền Nam Vĩ tuyến 17 bắt buộc phải di chuyển hết ra miền Bắc, nhưng chỉ một số ít rút đi theo quy định của Hiệp định c̣n một số lớn được lệnh của Hồ Chí Minh cải danh thành thường dân ở lại miền Nam hoạt động bí mật.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản do Liên Xô Nga lănh đạo theo thể chế chính trị chủ trương TAM VÔ (Vô gia đ́nh, Vô Tổ quốc, Vô Tôn giáo) Anh em bốn bể một nhà.

 

THU BÍNH THÂN

MIỀN NAM VUI HƯỞNG THU THANH B̀NH

Không gian bàng bạc ánh trăng mơ,
Vạn vật mênh mông ảo ảnh mờ.
Đèn giấy long lanh vờn bóng nguyệt,
Sáo diều vi vút thả hồn thơ.
Bánh chay lài toả hương d́u dịu,
Trà mạn sen dâng ư dật dờ.
Thấp thoáng quân cù (1) quay tán gió,
Dập d́u trai gái hát bông lơ (2).

Saigon, Tết Trung Thu 1956
MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

Không có Tổng tuyển cử thống nhất 2 miền Nam Bắc như quy định bởi Hiệp định Genève 1954, Chính phủ Quốc gia miền Nam thay đổi chế độ thành VIỆT NAM CỘNG HOÀ theo mô thức chính trị của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Lúc đó tác giả là Thiếu Tá làm việc tại Bộ Chỉ huy Viễn thông thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
-(1) những h́nh người bằng giấy trong đèn Trung Thu, ngoài Bắc gọi là “đèn kéo quân”, trong Nam gọi là “đèn cù”.
-(2) ngoài Bắc có lệ “hát trống quân” đối đáp giữa trai và
gái vào dịp Tết Trung Thu.

 

THU ĐINH SỬU 1998

HÂN HOAN TIEP1 NHẬN CUỘC ĐỔI ĐỜI

Rừng lá thay mầu Thu bước sang,
Mừng đời tỵ nạn lật thêm trang.
Hân hoan tuyên thệ thành dân Mỹ,
Quê mới tương lại rực rỡ vàng.

Los Angeles Nam California Hoa Kỳ
Vào Thu 1998

Sau 5 năm sống trên đất Hoa Kỳ với tư cách Thựng trú nhân tỵ nạn chính trị tại khu Little Saigon Nam California, tác giả đă dự thi được chấm đậu và tuyên thệ trở thành Công dân Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại Los Angeles vào mùa Thu 1998.

Nguyễn-Huy Hùng và Phu nhân
tháng 8-1998 tại Fountain Valley Nam California Hoa Kỳ.

 

THU ĐINH HỢI 2008

VIỄN XỨ XƯỚNG HỌA THƠ MÙA THU

 

 BÀI XƯỚNG CỦA TÔN THẤT XỨNG

NHỚ THU XƯA

Thu đến cho ta những chạnh ḷng
Trăng buồn nhớ nước thuở xưa trong
Vườn sau tuyết nhuốm hoa màu trắng
Ngơ trước sương pha lá đỏ hồng
Cơi Bắc: Tàu Mao xâm lấn đất
Bờ Nam: Hồ cộng đọa đày dân
Bao giờ thu được như xưa để
Tôi, Bác chung vui chén rượu nồng .

TÔN THẤT XỨNG
Montreal, mùa Thu năm 2008

Bài họa của Nguyễn Huy Hùng

DƯ ÂM THU

Mấy chục Thu qua vẫn vững ḷng,
Tiếp tay gạn nước đục nên trong.
Cụng ly tâm sự bên hàng trúc,
Cạn chén ưu tư cạnh khóm hồng.
Đoàn kết tạo thời xoay vận nước,
Nắm tay lập thế cứu lương dân
Dẹp tan bầy quỷ vong nô Cộng,
Việt tộc chia nhau tách rượu nồng.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Nam California, chiều thu 21 Nov 2008

Bài họa của Trần Dzoăn Thường

THU 2008

Mỗi độ thu về mỗi mủi ḷng
Nhà tan nước mất tâm nào trong
Trông lên chức sắc sợ xanh mặt
Ngó xuống dân đen ứa máu hồng
Độc lập như mèo: dấu hiến đất *
Tự do dâng biển: có đau không
Trời cao biển rộng nào đâu thấu
Bụng dạ vui chi mà rượu nồng.

DZOĂN THƯỜNG, Pasadena 22-11-2008
*Ngạn ngữ: Dấu như mèo dấu c..

Bài họa của Sao Biển NguyễnMinh Châu

Thu mang đến ta nỗi buồn ḷng
Thương nhà nhớ nước mỏi ṃn trông
Thu nơi đây b́nh minh sương trắng
Thu quê nhà luôn có nắng hồng.
Mùa Thu chết lá rụng về đất
Rời cơi trần người sẽ về đâu?
Mong ngày nào trở về quê để
Gởi tro tàn nơi đất ấm nồng!
Thu đây rất đẹp mà xứ lạ
Cảnh Thu nhà vương vấn hồn ta.

NGUYỄN MINH CHÂU, TĐ3 Sói biển

 

THU NHÂM TH̀N

ĐẬP TAN V̉NG OAN NGHIỆT

 

Bốn Lăm (1945), dân Việt nhằm cung hạn,
Tháng Tám, giặc Hồ “kách mệnh” (*) Thu.
Đất nước đắm ch́m trong máu lửa,
Không theo Cộng sản, nhập lao tù!!!
Nào ai dũng sĩ thương ṇi giống,
Đoàn kết vùng lên diệt giặc thù.
Loại bọn vong nô ngu Việt Cộng,
Phục hưng đất nước mạnh thiên thu.

Little Saigon, Nam California Hoa Kỳ

10-10-2012.

(*) “kách mệnh” là danh từ CÁCH MẠNG mà đại chúng được nghe phát ra từ miệng của gian tặc hồchíminh tại Hà Nội vào tháng 8-1945 tại vườn hoa Ba Đ́nh trong buổi Lễ Tuyên ngôn Độc Lập do Việt Cộng tổ chức.

Thánh Gióng, Phù Đổng Thiên Vương

 

THƠ XUÂN NHỮNG NĂM CON NGỰA

2014 GIÁP NGỌ

 

Hy Vọng Ngưa Về Dân Việt Tháng

Mong rằng “MĂ ĐÁO sẽ THÀNH CÔNG”,
Quét sạch CỘNG NÔ hết XÍCH GÔNG.
Nhất quyết vùng lên hưng phục quốc,
Dẹp tan Việt Cộng giữ non sông.
Trẻ già Nam Nữ cùng chung sức,
Mọi giới Sĩ Nông quyết một ḷng.
Gầy dựng quê hương giầu vững mạnh,
Phát huy đạo đức giống Tiên Rồng.

2002, NHÂM NGỌ

Xuân Vùng Lên

Phần tư thế kỷ đă trôi qua,
Nam Bắc đôi nơi họp một nhà.
Khói lửa tương tàn thôi giáng họa.
Đói nghèo tham nhũng lại bùng ra,
Nhân dân gian khổ xây giềng mối,
Việt Cộng chuyên quyền phá Quốc gia.
Con cháu Tiên Rồng ḍng bất khuất,
Vùng lên quét sạch lũ gian tà.

-oOo-

Cùng nhau dựng lại sơn hà,
Trồng cây Dân chủ reo hoa Nhân quyền.
Công bằng Bác ái làm nền,
Phát huy Nam Nữ b́nh quyền tự do.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Little Saigon, Nam California.
Xuân Nhâm Ngọ, ngày 1-2-2002.
 

1990, CANH NGỌ
Tuổi đời 61 tự hào

CANH NGỌ duổi dong đă giáp ṿng,
Sáu mươi mốt tuổi vẫn long đong.
Mười lăm năm Thiếu nương Thầy Mẹ,
Bốn sáu mùa Trung trải đoạn trường.
Dũng cảm tạo thời xây nghiệp lớn,
Trớ trêu mệnh định ră như không.
Ngày đêm nhẫn nại gầy công đức,
Con Cháu ngàn sau hưởng phước ṛng.
CANH NGỌ duổi dong đă giáp ṿng,
Sáu mươi mốt tuổi vẫn long đong.
Mười lăm năm Thiếu nương Thầy Mẹ,
Bốn sáu mùa Trung trải đoạn trường.
Dũng cảm tạo thời xây nghiệp lớn,
Trớ trêu mệnh định ră như không.
Ngày đêm nhẫn nại gầy công đức,
Con Cháu ngàn sau hưởng phước ṛng.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Phú Nhuận, ngày 21-1-1990
(Giao thừa năm Canh Ngọ)
Đúng ngày cuối năm âm lịch Kỷ Tỵ, gia đ́nh tác giả Nguyễn-Huy Hùng nhận được Hộ Chiếu do Nhà nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam cấp cho đi định cư vĩnh viễn tại Hoa Kỳ. Nhận được Hộ chiếu rồi, c̣n phải chờ Đại diện Hoa Kỳ tại Saigon gọi đến phỏng vấn để xét và quyết định có chấp thuận cho đi hay không. sáng Mồng Một Tết MẬU TH̀N 1988 tại nhà riêng, Quận Phú Nhuận, thành phố Saigon. Gia đ́nh hội ngộ đông đủ lần đầu tiên sau 13 năm Trưởng Gia đ́nh phải đi tù tập trung cải tạo trên cả 3 miền đất nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam chuyên chính độc đảng bạo tàn sau ngày Quốc hận 30-4-1975.

 

THÔNG GIA CHÚC TẾT CANH NGỌ

Saigon đón Tết nhớ phương xa,
Rộn ước mau mau họp một nhà.
Long Mă tinh thần hy vọng lớn,
Bên nhau cất chén chúc vinh hoa.

Ngày 23 tháng Chạp Quư Tỵ tiễn ông Táo.
MAI THẠCH LƯ THÁI VƯỢNG
(trước 30-4-1975 làm Tổng Thư Kư Bộ Nội Vụ, sau 30-4-75 đi tù cải tạo 12 năm)  Xmas 1992 tại Santa Ana, Nam California, Hoa Kỳ

LƯ THÁI VƯỢNG và Phu nhân (Trái, sui trai)
NGUYỄN-HUY HÙNG và Phu nhân (sui gái phải).

 

 

Mậu Tùng Nguyễn Huy Hùng cảm họa 3 đề khác nhau

T̀NH

Đẹt đùng pháo nổ khắp gần xa,
Canh Ngọ hân hoan phước đến nhà.
Nâng chén hồng đào mừng Lư-Nguyễn,
Xuân sang hạnh phúc ngát hương hoa.

NHÀ

Ngày giờ đoàn tụ chẳng c̣n xa,
Con Cháu chờ mong đợi trước nhà.
Hy vọng đang theo Canh Ngọ đến,
Đất Trời rực rỡ ánh muôn hoa.

NƯỚC

Quăng đường gai góc đă rời xa,
Mai, Cúc, Hường, Lan ngát mọi nhà,
Mă đáo công thành Canh Ngọ báo,
Tự do Dân chủ rộ mùa hoa.

Phú Nhuận, ngày 20-1-1990 cuối năm Quư Tỵ MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG

1978 MẬU NGỌ

XUÂN TÙ KHÔNG ÁN

Núi đá rừng chồi đất Tổ đây,
Bao năm Cách mạng vẫn như vầy.
Xóm làng xơ xác dân nghèo đói,
Đồng ruộng khô cằn thú lất lây.
Triền núi cheo leo khu cải tạo,
Ven sông thưa thớt xóm dân gầy.
Đón Xuân ra sức trồng khoai sắn,
Mừng Tết c̣ng lưng ép miá cây
(1).

K-1, Trại Tân Lập, Vĩnh Phú,
(1)Tù ép mía để cất rượu cho Trại trao đổi với Hợp tác xă lấy thịt heo cho cán bộ và tù ăn Tết.

 

 

1996, BÍNH NGỌ

XUÂN MIỀN NAM NHIỄU NHƯƠNG CHÍNH TRỊ

Xuân về rực rỡ nở muôn hoa,
Đón Tết loay hoay sửa soạn nhà.
Đối lập quậy đ̣i Hiến pháp mới,
Chính quyền chấp nhận bỏ JUNTA
(1).
Bỏ luôn mô thức Cộng Hoà Mỹ,
Chuyển hướng theo khuôn nước Pháp già.
Hy vọng đây là phương sách tốt,
Quê hương b́nh ổn hơn năm qua.

-oOo_

Quân Dân đoàn kết cùng xây dựng,
ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ quyết phải ra.

Tân Sơn Nhất, Saigon, Tết Bính Ngọ,

(1)Sau cách mạng 1-11-1963 Hội đồng Quân nhân Cách mạng đă trao cho dân sự điều hành đất nước để thành lập chính thể mới nhưng không thành công, Hội đồng Quân nhân Cách mạng lại phải nhận trách nhiệm điều hành đất nước theo phương thức JUNTA chính quyền gồm có Hội đồng Lănh đạo Quốc gia và Hội đồng Hành pháp Trung Ương, với sự yểm trợ của một đảng chính trị lớn tại miền Nam, nhưng v́ Đảng này lợi dụng vị thế đó để thao túng cài người của ḿnh vào các cơ quan chính quyền Trung Ương và Điạ phương Tỉnh Quận để điều hành đất nước theo ư ḿnh nên bị các đảng chính trị khác chống đối xuống đường liên tục đ̣i Hội đồng Quân nhân Cách mạng phải soạn thảo Hiến pháp quy định mô thức chế độ chính trị mới thay cho Hiến pháp Đệ Nhất Cộng Hoà theo mô thức Hoa Kỳ đă bị hủy bỏ ngay từ sau ngày Cách mạng 1-11-1963 thành công.

Saigon, Tết Giáp Ngọ, 3 tháng 2-1954

Kể từ đầu năm 1950, Việt Minh được Trung Cộng và Liên Sô Nga yểm trợ tổ chức trang bị huấn luyện thành lập các Đại đơn vị cấp Sư đoàn tại miền biên giới Việt Nam-Trung Hoa. Đến đầu năm 1953, lại tăng cường thêm cố vấn, vũ khí và nhân công ồ ạt đánh chiếm vùng Sơn La, Lai Châu, vây hăm khu chiến ḷng chảo Điện Biên Phủ do Pháp thiếp lập, và tất cả các mặt trận khác trên toàn cơi Đông Dương. Pháp không được Mỹ hỗ trợ nên thất thế. Tại chính quốc Pháp các chính phủ bị liên tiếp thay thế v́ sự đ̣i hỏi của dân chúng ép phải t́m giải pháp hoà giải với Việt Cộng để chấm dứt chiến tranh Đông Dương.

Ngày 4 tháng 8 năm 1953, Liên Xô đề nghị triệu tập một Hội nghị Ngũ Cường, có Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa tham dự, để giải quyết các tranh chấp tại Á Châu vào cuối tháng 9-1953.

Ngày 8 tháng 10 năm 1953 Chu Ân Lai tuyên bố Trung quốc muốn đóng góp vào việc củng cố nền hoà b́nh ở Viễn Đông và trên Thế giới.

Ngày 27-10-1953 Thủ tướng Laniel tuyên bố Pháp sẵn sàng nắm mọi cơ hội t́m Hoà b́nh cho Đông Dương, Quốc hội Pháp biểu quyết ủng hộ việc t́m một giải pháp chính trị qua thương thuyết.

Ngày 29-11-1953, Tướng Navarre Toàn quyền Đông Dương và Tướng Cogny Tư lệnh quân Pháp tại Bắc Việt đến thăm Khu chiến ḷng chảo Điện Biên Phủ và chỉ định Đại tá Christian De Castries làm Tư lệnh Điện Biên Phủ. Đồng thời tại Oslo Thụy Điển, Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của báo Expressen của Norway, là sẵn sàng cứu xét mọi đề nghị của Pháp, nhưng chỉ thương thuyết với Pháp (có ư nói là không thương thuyết với Chính quyền Quốc Gia Việt Nam do cựu Hoàng Bảo Đại đang làm Quốc Trưởng).

Ngày 6-12-1953 tại Thái Nguyên, Bộ Chính trị Đảng Lao Động VN và các chuyên gia Trung Cộng đồng ư đánh Điện Biên Phủ, và ngày 10-12-1953 ra lệnh cho 2 Đại đoàn 304 và 316 cùng với 1 Trung đoàn của vùng châu thổ sông Hồng Hà, tiến về Điện Biên Phủ.

Ngày 1-12-1953, khi gặp ông Heath Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam th́ Bảo Đại có ư không chịu để Pháp thương thuyết với Việt Minh. Nhưng đến ngày 11-12-1953, Bảo Đại lại yêu cầu Thủ tướng Nguyễn văn Tâm từ chức để giao cho Hoàng thân Bửu Lộc thành lập chính phủ đoàn kết quốc gia để có thể thương thuyết với Pháp và nói truyện với Hồ Chí Minh về hy vọng hoà b́nh. Chính phủ Bửu Lộc được thành lập xong vào ngày 11-1-1954 và nhiệm chức vào ngày 16-1-1954.

Ngày 14-12-1953, Hồ Chí Minh tuyên bố nhận lời thương thuyết với Pháp.

Ngày 26-12-1953, Liên Xô đề nghị họp Tứ Cướng tại Berlin (Đức) vào ngày 25-1-1954, đề nghị này được chấp thuận, và Tứ Cường đă họp đúng ngày đó và kéo dài tới ngày 18-2-1954. Trong dịp này, Molotov của Nga đề nghị họp Ngũ Cường (thêm Trung Cộng) để giải quyết tất cả các vấn đề trên Thế giới. Hoa Thịnh Đốn, Tứ Cường đồng ư mời TrungCộng tham dự Hội nghị Genève, khai mạc ngày 26-4-1954 để bàn cả vấn đề Triều Tiên và Đông Dương.

Ngày 13-3-1954, sau 3 tháng vây hăm, theo chỉ thị của Cố vấn Trung Cộng, Việt Minh bắt đầu tấn công Điện Biên Phủ, chiếm căn cứ hoả lực Béatrice.

Ngày 14-3-1954, Pháp thả Tiểu đoàn 5 Nhẩy dù xuống tăng cường Điện Biên Phủ.

Ngày 15-3-1975, Việt Minh chiếm căn cứ hoả lực Gabrielle.

Ngày 20-3-1975, Tướng Paul Ely Tổng tham mưu trưởng Pháp qua Hoa Thịnh Đốn xin tiếp viện không hiệu quả.

Ngày 28-3-1954, phi trường Điện Biên Phủ ngưng hoạt động v́ bị Việt Minh khống chế bằng pháo binh do Trung Cộng viện trợ chỉ huy.

Ngày 30-3-1954, Điện Biên Phủ bị tấn công lần thứ hai và kéo dài cho đến ngày 24-4-1954.

Ngày 3-4-1954, thêm 1 Tiểu đoàn Nhẩy dù Pháp nhẩy xuống tăng cường Điện Biên Phủ. Chủ nhật 4-4-1954, Tổng Thống Eisenhower

quyềt định dứt khoát không can thiệp vào chiến tranh Đông Dương.

Ngày 7-4-1954, Pháp thả thêm Tiểu đoàn 2 Nhẩy dù xuống tăng viện Điện Biên Phủ.

Ngày 15-4-1954, Đại tá De Castries Tư lệnh căn cứ Điện Biên Phủ được thăng cấp Thiếu Tướng.

Ngày 25-4-1954, Hoa Kỳ chính thức từ chối lời yêu cầu can thiệp vào Đông Dương của Pháp.

Ngày 26-4-1954, tại Genève khai mạc Hội nghị về Triều Tiên và Đông Dương, phái đoàn Trung Cộng do Chu Ân Lai cầm đầu gồm 200 người gồm toàn nhân vật quan trọng thuộc quân đội, An ninh t́nh báo, và ngoại giao.

Ngày 1-5-1954, Vơ Nguyên Giáp cho lệnh tấn công đợt 3 vào Điện Biên Phủ cho tới ngày 7-5-1954.

Ngày 2-5-1954, Mỹ, Britain và Pháp đồng ư công thức Hội nghi do Liên Xô đề nghị, sẽ có 9 phe tham dự, kể cả Việt Minh và Quốc gia Việt Nam.

Ngày 4-5-1954, phái đoàn Phạm văn Đồng và phái đoàn Nguyễn Quốc Định sau thay bởi Trần văn Đỗ đến Genève.

Ngày 6-5-1954, Đồi A-1 Điện Biên Phủ bị Trung đoàn 174/316 tràn ngập. nhiều căn cứ và khu trung tâm Điện Biên Phủ lọt vào tay Việt Cộng. Ngày 7-5-1954 Genève nhận được tin Điện Biên Phủ thất thủ.

Ngày 8-5-1954 khai mạc Hội nghi Genève vào lúc 2200 giờ và tiếp tục cho đến không giờ ngày 21-7-1954 kết thúc bằng kư bản Hiệp Ước Đ́nh Chiến chia hai nuớc Việt Nam thành 2 quốc gia với 2 chế độ chính trị khác nhau và ranh giới là sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị nằm trên Vĩ Tuyến 17.

 

1942, NHÂM NGỌ

Xuân ước mơ tuổi thơ

Thiếu niên tuổi mới qua mười,
Nhập đoàn Hướng Đạo, học, chơi thoả t́nh.
Thiên nhiên bao quát đẹp xinh,
Muôn loài sinh động, chuyển ḿnh thời gian.
Xuân sang nhựa sống dâng tràn,
Hè về hoa nở, rừng chan chứa mầu.
Thu qua lá chuyển sang nâu,
Đón mùa Đông lạnh mưa sầu lê thê.
Đường dài sải bước mải mê,
Quyết tâm rèn luyện yêu quê yêu người.
Ngày đêm tập giúp ích đời,
Xin nơi giầu có giúp nơi khốn cùng.
Noi gương nghĩa sĩ anh hùng,
Đấu tranh giành lại non sông Tiên Rồng.
Họp ba miền Bắc Nam Trung,
Phục hưng Độc lập Công bằng Tự do.
Nơi nơi sung túc ấm no,
Thanh b́nh, Dân chủ, ước mơ đạt thành.

Chùa Tiên, phố Thổ, Lạng Sơn,
Tết Nhâm Ngọ, 15-2-1942
.

Một Kỷ niệm thích thú, Phu nhân NGUYỄN-HUY HÙNG bế cậu con Trai được sanh ra trong năm Giáp Ngọ 1954 (cùng tuổi Ngọ của Bố Canh Ngọ 1930).

 

 

 

 

THƠ XUẬN NHỮNG NĂM RẮN (TỴ

2013- QUƯ TỴ

D̉NG TÂM SỰ TẾT

Rồng đi Rắn đến cảnh xoay vần,
Vong quốc quê người tái lập thân.
Mượn Tết gửi sang lời chúc thọ,
Cháu con vinh hiển rạng danh phần.
Thương dân tranh đấu phải đi đầu,
Diệt bọn vong nô lệ thuộc Tầu.
Tái tạo công bằng, hưng chánh đạo,
Toàn dân hoan hỉ sống bên nhau.
Việt Cộng tam vô sống lố lăng,
Chuyên quyền tham nhũng phá non sông.
Trẻ già đoàn kết ra tay diệt,
Dựng lại uy danh giống Lạc Hồng.
Toàn dân chung sức lái con tầu,
Sắc tộc hợp đoàn sát cánh nhau.
Bảo vệ non sông hải phận Việt,
Cờ vàng chính nghiă rạng năm Châu.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Little Saigon Nam California,
Tết Quư Tỵ Ngày 10 Feb 2013

2001 TÂN TỴ

Xuân ước mong đầu thiên niên kỷ

Rồng Rắn mở màn Thiên kỷ Ba,
Đào Mai đua nở nắng chan ḥa.
Gia đ́nh đoàn tụ chờ Xuân đến,
Đoàn thể quây quần đợi Tết qua.
Xứ Mỹ chứa chan hương hạnh phúc,
Quê Nam cuồn cuộn bóng tà ma.
Anh hùng cứu nước c̣n đơn chiếc,
Hào kiệt v́ Dân được mấy nhà!
Bao giờ Hào kiệt mới ra?
Tiếp tay tranh đấu để mà cứu Dân.
Cho ṇi giống hết phong trần,
Thoát tay Cộng đảng bất nhân bạo tàn!

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Fountain Valley, Nam California, Tết Tân Tỵ, 2001

 

CÁC BÀI HỌA CỦA THÂN HỮU

 

1-    GIÁO SƯ ẢO GIẢN PHAN NGÔ

Hoan hỷ đón mừng Thiên kỷ Ba,
Ṿng tay mở rộng để cầu hoà.
Quên thù, bỏ oán, theo đường mới,
Cứu nước, thương ṇi, giải nạn qua.
Đất khách dễ mê ḷng chiến sĩ,
T́nh nhà khó chống lực tà ma.
Bại, Thành, ai luận Anh Hùng kệ,
Quyết xuất, hy sinh cứu nước nhà.
Đă là Hào kiệt phải ra,
Trùm chăn như thế ai mà cứu Dân?
Dấn thân, chi sợ phong trần,
Nêu cao hai chữ Nghiă Nhân diệt tàn.

Pasadena, Nam California

2-Tung Tướng Vĩnh Lộc

Thiên kỷ Hai rồi đă đến Ba,
Đâu đâu chẳng thấy đặng an hoà.
Gia đ́nh không những chờ Xuăn đến,
Nước Tổ c̣n thêm vướng can qua.
Mỹ quốc có chi mà hạnh phúc,
Nam bang c̣n lại vẫn phong ba.
Thế nước đàn bà xông trận tuyến,
Chờ chi Hào kiệt vướng chân ra.

Houston, Texas

3-Đại Tá Bùi Đặng

Hành chanbh1 tài chánh

VẬN NƯỚC ĐẾN RỒI

Th́n, Tỵ, mở màn Thiên kỷ Ba,
Cúc, Lan chào đón nắng Xuân hoà.
Gia đ́nh xum họp vui đời mới,
Đoàn thể hợp quần hưởng Tết Ta.
Đất Việt chứa chan hương hạnh phúc,
Trời Nam rực rỡ ánh dương sa.
Anh hùng phục quốc liều thân xác
(*),
Hào kiệt v́ Dân đă đứng ra.
Vận nước đến hồi hưng phục thịnh,
Toàn dân đoàn kết diệt qủy ma.
Đời Ta, Thời thế, cam chuốc hận,
Đời Trẻ, tương lai hưởng An ḥa
.

Garden Grove, Nam California
(*) Lư Tống là một trong những Anh Hùng cứu quốc. Lái máy bay từ Thái Lan xâm nhập Saigon rải truyền đơn, vào ngày Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton thăm Hà Nội

1997, ĐINH TỴ

XUÂN TỪ BIỆT XỨ NƠI ĐẤT BẮC XĂ HỘI CHỦ NGHĨA

Muỗi vắt họp bầy vui đón Xuân,
Đầm lầy khe úng đỉa bâu chân.
Tù đua sản xuất nâng thành tích,
Cán thúc ghi công xét định phần.
Đôi mẩu ngựa già xào muối hột,
Vài khoanh măng đắng nấu xương gân.
Đồng bào đâu thấy ḷng nham hiểm,
Thế giới nào hay dạ bất nhân.

K-1, Liên trại 1, xă Việt Cường (Yên Bái)
Tết Đinh Tỵ 1977.

 

1965, ẤT TỴ

XUÂN CẢI CÁCH HẬU CACH MANG 1-11-63

Miền Nam sôi động sửa sang nhà,
Loại tệ “Gia Đ́nh Trị” quốc gia.
Sự nghiệp ḍng Ngô mờ tan biến,
Công danh Tướng Tá rực đầy hoa.
Quốc dân thôi thúc thêm Dân chủ,
Quân đội hoan nghênh đổi Cộng Hoà.
Đoàn kết Sĩ phu cùng góp sức,
Đồng tâm Trí thức quyết tham gia.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Phú Nhuận, Gia Định Xuân Ất Tỵ 1965.

 

1953, QUƯ TỴ

XUÂN MỪNG HỘI NGỘ

Quảng Yên rực rỡ ánh vinh sang,
Phố biển dềnh dang những quán hàng.
Bà Cháu Mẹ Con mừng hội ngộ,
Xóm giềng thân hữu chúc an khang.
Lăng xăng bầy trẻ khoe áo mới,
Lặng lẽ giàn hoa trổ cánh vàng.
Dân chúng tưng bừng vui đón Tết,
Quân binh hoan hỉ đàn ca vang.
Phố Tranh, Quảng Yên, Tết Quư Tỵ

14-2-1953

1941, TÂN TỴ

XUÂN BUỒN VẮNG CHA

Xuân đến gia đ́nh vắng bóng Cha,
Buồn thiu vẫn phải sửa sang nhà.
Mẹ lo chợ búa mua đồ cúng,
Con dọn ban thờ trang trí hoa.
Tục lệ lưu truyền không thể bỏ,
Văn minh chuyển biến phải hài hoà.
Cha theo Phục Quốc ra biên ải,
(*)
Con thức hằng đêm đếm ngày qua.

Chùa Tiên, phố Thổ, Lạng Sơn.

Tết Tân Tỵ, 27-1-1941

(*) Đêm Chủ nhật 22-9-1940, Sư đoàn 5 của quân đội Nhật do Trung Tướng Nakamura chỉ huy, vượt biên giới Ải Nam quan, tấn công các vị trí quân Pháp tại Lạng Sơn và Đồng Đăng. Ngày 23-9-1940 chiến lũy Đồng Đăng thất thủ.

Ngày 24-9-1940 quân Pháp tại thị xă Lạng Sơn đầu hàng. Lực lượng KIẾN QUỐC QUÂN của ông Trần Trung Lập được Kỳ Ngoại Hầu Cường Để được quân Nhật hỗ trợ, kêu gọi thanh niên Việt Nam tham gia để lập chính quyền quản trị Lạng Sơn thay thế Thực dân Pháp. Thân phụ của tác giả là ông Nguyễn-Huy Tŕnh đă cùng nhiều người dân Lạng Sơn khác hưởng ứng gia nhập đoàn Kiến Quốc Quân (sau này thường gọi là Phục Quốc Quân Lạng Sơn).

Nhưng sau đó, vào ngày 15-10-1940, Nhật và Pháp kư thoả ước, Sư đoàn 5 của Nhật sẽ rút khỏi Lạng Sơn để chuyển qua cảng Hải Pḥng. V́ thế Kiến Quốc Quân không c̣n được yểm trợ nữa, nên vào ngày 17-11-1940, phải bỏ thị xă Lạng Sơn giắt nhau chạy sang Quảng Châu bên Tầu lưu vong. Một số do ông Hoàng Lương và Lương văn Ư chỉ huy rút đi ngay. C̣n một số do các ông Trần Trung Lập và Đoàn Kiểm Điểm chỉ huy, t́nh nguyện ở lại lập chiến khu kháng Pháp, trong đó có Cha của tác giả.

Đến ngày 28, 29-11-1940, quân Pháp tái chiếm Lạng Sơn và Đồng Đăng, nhóm này mới rút ra khỏi thị xă Lạng Sơn vào lúc 2 giờ sáng đêm 27 rạng sáng 28-11-1940 để vào chiến khu. Cả đêm hai Cha Con không ngủ nằm hàn huyên dặn ḍ mọi việc gia đ́nh, đến lúc 2 giớ sáng có người tới gơ cổng gọi đi. Tác giả tiễn chân Cha ra tận cổng, xin Cha cho đi theo nhưng không được chấp nhận, đành phải ở lại nhà với Mẹ và 2 người em.

Sau đó ít lâu th́ chiến khu của Kiến Quốc Quân bị quân Pháp vây hăm và tàn sát. Một số bị chết, một số bị bắt giam rồi bị đưa ra toà án binh của Pháp xét xử và lănh án tử h́nh. Mọi người đă bị xử bắn cùng lượt với ông Trần Trung Lập thủ lănh vào ngày 28-12-1940. Không biết cha của tác giả chết trong hoàn cảnh nào, v́ không có mặt trong những nhóm trở về nước vào cuối năm 1945

1-H̉N VỌNG PHU trên đỉnh núi Tam Thanh tại Thị Xă Lạng Sơn.-2-Cảnh sông Kỳ Cùng khúc chẩy xuyên qua Thị Xă Lạng Sơn, ở khoảng Phố Thổ phía Nam thành phố bên bờ trái ḍng sông nơi có Ga Xe Hỏa và Mai Pha bên bờ phải ḍng sông nơi có sân bay dùng chung cho cả máy bay Quân sự lẫn Dân sự.

THƠ XUÂN NHỮNG NĂM RỒNG

 

TRIỆU ĐÓA HỒNG DÂNG QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Dâng tổ Rồng Tiên triệu đoá hồng,
Cơi Trời Tổ thấy Việt Nam không?
Đêm ngày vất vả trong nghèo đói,
Năm tháng đọa đầy giữa bất công.
Việt Cộng bạo tàn lo rút riả,
Lương dân yếu thế chịu long đong.
Bốn phương Nghiă sĩ đang vùng dậy,
Xin Tổ linh thiêng độ vững ḷng.


Nhớ ngày Giỗ Tổ HÙNG VƯƠNG 10 tháng 3 Âm lịch

Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ.

Ngày giỗ tổ Hùng Vương hay c̣n gọi là "Lễ hội Đền Hùng" là một ngày lễ trọng đại của Việt Nam. Lễ được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, Việt Tŕ, Phú Thọ. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc nhằm mục đích tưởng nhớ đến công ơn các Vua Hùng đă có công dựng nước. Theo truyền thuyết th́ Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ người Việt, phụ mẫu của các Vua Hùng.

Thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử dân tộc. Chính thời kỳ này đă xây dựng nên một nền tảng của dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống yêu nước. Ngày nay nhân dân ta lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ tổ và cùng nhau về thăm đền Hùng để tửơng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên của dân tộc Việt Nam.

Ngày giỗ tổ Hùng Vương đă được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam thể hiện rơ đạo lư "uống nước nhớ nguồn" hay "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" như một tinh thần văn hóa Việt Nam . Trong dân gian có lưu truyền câu ca dao nhắc nhở nhau về Ngày Giỗ Tổ:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba."

(Phỏng theo Bách Khoa Toàn thư Wikipedia) Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ người Việt, phụ mẫu của các Vua Hùng.

Thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử dân tộc. Chính thời kỳ này đă xây dựng nên một nền tảng của dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống yêu nước. Ngày nay nhân dân ta lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ tổ và cùng nhau về thăm đền Hùng để tửơng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên của dân tộc Việt Nam.

Ngày giỗ tổ Hùng Vương đă được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam thể hiện rơ đạo lư "uống nước nhớ nguồn" hay "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" như một tinh thần văn hóa Việt Nam . Trong dân gian có lưu truyền câu ca dao nhắc nhở nhau về Ngày Giỗ Tổ:

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba."

(Phỏng theo Bách Khoa Toàn thư Wikipedia)

1. Con Rồng Cháu Tiên: Theo truyền thuyết, người Việt xuất hiện khoảng 5000 năm trước. Ông Lạc Long Quân, thuộc ḍng dơi Rồng, lấy bà Âu Cơ, thuộc ḍng dơi Tiên, đẻ được 100 người con trong cùng một bọc. Khi họ trưởng thành, 50

"NHỮNG THĂNG TRẦM KHÓ QUÊN TRONG CUỘc ĐỜI"

người con theo mẹ lên núi và 50 người con theo cha xuống vùng đồng bằng gần biển sinh sống. Mổi năm họ đoàn tụ với nhau một lần. V́ sự tích đó, người Việt được gọi là ḍng giống Tiên Rồng. Sách sử cũng chép rằng ông Lạc Long Quân thuộc ḍng họ Hồng Bàng, là ḍng họ đầu tiên ngự trị nước Việt Nam.

Dragon and Fairy Legend: According to legend, the first Vietnamese existed about 5000 years ago. Lac Long Quan, from the Hong Bang lineage, a man descended from dragons, married Au Co, a woman whose ancestors were fairies. Au Co gave birth to 100 children in one pouch. When the children grew up, 50 of them followed their mother to settle in the mountains, and the other 50 children followed their father to lowlands near the sea. Every year they see each other once. This story explains why history books typically refer to the original Vietnamese desendents as Dragon-Fairy or Hong Bang.

Dragon et Légende féerique: Selon la légende, les premiers Vietnamiens sont apparus il y a environ 5000 ans. Lac Long Quan, un homme descendant de dragons, se maria à Au Co, une femme dont les ancêtres étaient des fées. Au Co donna naissance à 100 enfants en une seule fois. Quand les enfants eurent grandi, 50 d'entre eux suivirent leur mère pour s'installer dans les montagnes, et les 50 autres suivirent leur père dans les basses terres près de la mer. Ils ne se virent qu’une fois l’an. Pour cette histoire, les Vietnamiens s’appellent le Dragon-Fée. Vietnamienne Hông Bang fut la première à dominer le pays.

2. Vua Hùng Vương Lập Quốc: Lạc Long Quân lấy tên nước là Văn Lang và phong con trưởng làm vua, hiệu là Hùng Vương. Con trai của vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mị Nương. Trong thế kỷ qua, người Việt đào được nhiều trống đồng thời cổ xưa có khắc h́nh chim Lạc, chim Hồng, nên người Việt c̣n gọi nhau là ḍng giống Lạc Hồng.

King Hung Vuong established the country: Lac Long Quan named the country Van Lang and put his eldest son on the throne as King Hung Vuong. The sons of the king were given the title Quan Lang, and the daughters were called My Nuong. During the last century, the Vietnamese have dug up many ancient copper drums with Lac birds and Hồng birds engraved on them. This is why Vietnamese also call themselves the Lạc Hồng.

Le Roi Hung Vuong fonda le pays: Lac Long Quân nomma le pays Van Lang et mis son fils le plus âgé sur le trône comme roi Hung Vuong. Les fils du roi reçurent le titre de Lang Quan et les filles furent appelées My Nuong. Au cours du dernier siècle, les Vietnamiens ont déterré de nombreux tambours en cuivre antique portant des gravures d’oiseaux Lac et d’oiseaux Hông. C'est pourquoi les Vietnamiens s’appellent aussi le Hông Lac.

NHÂM TH̀N 2012

XUÂN VÙNG LÊN

Ba mươi năm lẻ đă trôi qua,
Nước hết phân đôi họp một nhà.
Khói lửa tương tàn thôi giáng họa,
Đói nghèo tham nhũng lại bùng ra.
Nhân dân gian khổ xây giềng mối,
Việt Cộng chuyên quyền phá quốc gia.
Con cháu Tiên Rồng ḍng bất khuất,
Vùng lên quét sạch lũ gian tà .
Cùng nhau dựng lại Sơn Hà,
Trồng cây Dân chủ, reo hoa Nhân quyền.
Công bằng Bác ái làm nền,
Phát huy Nam Nữ B́nh quyền Tự do.

Little Saigon Nam California, Hoa Kỳ.

Tết Nhâm Th́n 23-1-2012

CANH TH̀N 2000

XUÂN LẠI VỀ

Xuân lại về đây bên trúc mai,
Lưu vong tỵ nạn dạ u hoài.
Đêm ngày tưởng nhớ quê hương cũ,
Năm tháng trông chờ cảnh thái lai.
Dân Việt đắm ch́m trong bể khổ,
Cộng quân phè phỡn chốn quyền oai.
Nào ai Dũng sĩ thương ṇi giống,
Đoàn kết vùng lên diệt độc tài.

o-o-o

Đoàn kết vùng lên diệt độc tài,
Cho Dân tộc Việt có tương lai.
Tự do chung sức xây đời mới,
Dân chủ, Nhân quyền vẹn cả hai.

Fountain Valley, quận Orange, Tết Canh Th́n, ngày 5-2-2000

(tác giả đang làm Chủ tịch Khu Hội cựu tù nhân chính trị Nam California)

Lễ tưởng nhớ THÁNG TƯ ĐEN do Ủy Ban Bảo vệ Chính nghĩa Quốc gia Nam California tổ chức vào ngày 30-4-1999 tại Moran St. Westminster Nam Califonia.
Trong h́nh, ngồi tại hàng ghế đầu từ trái qua phải: PHẠM VĂN THUẦN Chủ tịch Khu hội Cựu Tù nhân Chính trị Los Angeles, NGUYỄN-HUY HÙNG Chủ tịch Khu hội Cựu Tù nhân Chính trị Nam California, Vợ Chồng Hoàng Thân Ban Đại diện Hoàng tộc ḍng họ Nguyễn (không nhớ tên), 4 người kế theo là các Chức sắc Lănh đạo Ban Đại diện Hội đồng Liên Tôn Nam California.

CÁC BÀI HỌA CỦA THÂN HƯU

 

1-Giáo sư Ảo Gian Phan Ngô

Năm mới Canh Th́n phải có mai,
Lưu vong vẫn nhớ Tết hoài hoài.
Mai là biểu tượng cho ngày Tết,
Thơ ấy huyền ngôn của thái lai.
Nhân loại đang chờ Thiên kỷ mới,
Quốc dân mong đợi bậc quyền oai.
T́nh h́nh sôi sục gần bùng nổ,
Chắc chắn tiêu ma lũ độc tài.

o-o-o

Chắc chắn tiêu ma lũ độc tài,
Vậy nên phải tính đến tương lai.
Là sao tránh được cơn lưu huyết,
Đả phá, dựng xây vẹn cả hai.

PHAN NGÔ
Pasadena, Nam California

 

2.- Trung Tướng Vĩnh Lộc

Xuân về ló dạng chói ngày mai,
Vận hội Thiên niên niệm nhớ hoài.
Đă qua cảnh tượng Trời bi đát,
Sắp đến sắc mầu Đất thái lai.
Dân tộc qua nguy th́ tất biến,
Quân thù xuống tận phải đền oai.
Dũng sĩ sao bằng tay nắm lại,
Chung sức cùng nhau, đó mới tài.

VĨNH LỘC, Houston, Texas.

 

 

  

NHÂM TH̀N 1952

Xuân hân hoan

Nhà nhà tấp nập đón Xuân sang,
Bến Nghé miền Nam nắng dịu dàng.
Thiên hạ tưng bừng mua sắm Tết,
Riêng ta mừng rỡ Vợ bầu mang.
Cầu Trời Phật độ cho trai quư,
Xin Tổ Tiên thương đạt mộng vàng.
Tết đến Trẻ Già vui họp mặt,
Chúc nhau Phước, Lộc, Thọ, Vinh, Khang.

Tết Nhâm Th́n, \
27-1-1952 Saigon.
 (tác giả mới được đặc cách thăng cấp Đại Úy cùng một số sĩ quan khác nhân dịp đón Xuân Nhâm Th́n tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam)

Vợ chồng Nguyễn Huy Hùng cùng nhạc mẫu và em trai và các con Hải (Ngọ 1954), Long (con trai trưởng, Th́n 1952) và con gái Thu Vân (Tỵ 1953), thăm Thảo Cầm Viên Sài G̣n vào mùa Hè năm 1956

GIÁP TH̀N 1964

XUÂN CÁCH MẠNG HẬU 1-11-1963

Cúc Mai rộ nở đón Xuân sang,
Pháo nổ rền vang khắp xóm làng.
Phật giáo vượng thời mừng đón Tết,
Kiêu binh cách mạng nếm vinh sang.
Thành công lănh đạo giành nhau ghế,
Ngơ ngác quân dân nản ngỡ ngàng
(1)
Đất nước nhiễu nhương không quốcsách (2),
Đồng minh thao túng thật bàng hoàng!!!

Phú Nhuận, Gia Định,
Xuân Giáp Th́n 1964
(1) Bản thân tác giả không tham gia nhóm đảo chính nên bị cất chức Cục phó Cục Truyền Tin tại Bộ Tổng Tham Mưu, đưa sang Nha Tổng Thanh Tra Bộ Quốc Pḥng ngồi chơi xơi nước chờ lệnh đưa đi đơn vị tác chiến.

(2) Hội đồng Tướng Lănh đảo chính ra quyết định hủy bỏ Quốc sách Ấp Chiến lược của thời Đệ Nhất Cộng hoà đang góp phần cô lập tiêu diệt Việt Cộng xâm lăng miền Nam Việt Nam rất hữu hiệu.

BÍNH TH̀N 1975

XUÂN ĐỔI ĐỜI

Nước mất c̣n chi Tết với Xuân,
Nhà tan, tổ vỡ, đọa đầy thân.
Nghe tràng pháo nổ ḷng tan nát,
Ngó cánh mai rơi năo bí vần.
Kẻ thắng cuồng vui cười hể hả,
Người thua chua xót hận phân vân.
Chim lồng cá chậu âm thầm chịu,
Tà chính Trời cao sẽ định phân.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Trại Suối Máu, Biên Hoà, Tết Bính Th́n.

 

MẬU TH̀N 1988

Xuân hóan vị

Xuân đến đem Ta khỏi trại tù,
Giă từ lang sói chốn âm u.
Cú, diều, khỉ đột tha hồ hú,
Suối, thác, mưa rừng mặc sức ru.
Thoát cảnh chim lồng đầy tử khí,
Nhập khung ốc đảo đặc quân thù.
Tương lai mờ mịt đời vô vọng,
Hiện tại dật dờ kiếp mộng du.

Phú Nhuận, Saigon, Tết Mậu Th́n.
Cái Tết đầu tiên đoàn tụ bên gia đ́nh sau 13 cái Tết sống cô đơn trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng trên cả 3 miền đất nước Việt Nam.

 

BÍNH TH̀N 1975

XUÂN ĐỔI ĐỜI

Nước mất c̣n chi Tết với Xuân,
Nhà tan, tổ vỡ, đọa đầy thân.
Nghe tràng pháo nổ ḷng tan nát,
Ngó cánh mai rơi năo bí vần.
Kẻ thắng cuồng vui cười hể hả,
Người thua chua xót hận phân vân.
Chim lồng cá chậu âm thầm chịu,
Tà chính Trời cao sẽ định phân.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Trại Suối Máu, Biên Hoà, Tết Bính Th́n.


 

THƠ  XUÂN CÁC NĂM MĂO


 

Xuân tràn đầy hy vọng mới

Canh Dần hung hăn ngợp thiên tai,
Tân Măo hiền lương thoáng vượng thời.
Xuân mới tràn đầy hy vọng mới,
Cộng quân tan ră Dân thay ngôi.
Nhân quyền Dân chủ Tự do thịnh,
Hạnh phúc Công bằng Nhịp sống vui.
Già trẻ gái trai mau sát cánh,
Viết trang sử mới rạng muôn đời.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Nam California, Tết Tân Măo 3 Feb. 2011


 

Bài họa của Tôn Thất Xứng

Năm mới đuổi cop đón mèo

Đuổi Cọp bất lương, hết họa tai,
Đón Mèo thiện ư, thuận thiên thời.
Mừng Xuân dân tộc ba Kỳ nguyện:
Diệt cộng Hồ gian chiếm lại ngôi.
Đuổi bọn Tàu Mao ra khỏi nước,
Dựng cờ Vàng thắm khắp nơi vui.
Tự do, dân chủ, dân quyền trị,
Việt sử oai danh vạn vạn đời.

TÔN THẤT XỨNG (K-1)Montréal,

Xuân Tân Măo

Bài họa của Trần Dzơan Thường

Tân Măo đổi đời

Mấy chục năm dài những ách tai
Bởi chưng cộng sản nghịch cơ thời.
Tam vô chủ nghiă th́ tay tổ
Các Mác, Lê Nin cũng bỏ ngôi.
Địa ngục trần gian dân khốn khổ,
Thiên đường hạ giới cán mừng vui.
Tự do, Độc lập vâng lời chệt!.
Tân Măo năm nay ắt đổi đời.

DZOĂN THƯỜNG
Pasadena, Tết Tân Măo 03-02-2011

 

 

1999 Kỷ Măo

Xuân vững niềm tin

Thay tiết đổi mùa Xuân lại qua,
Không gian ẩn hiện bóng quê nhà.
Ngày đêm khắc khoải t́nh Dân Tộc,
Năm tháng bồn chồn nợ Quốc gia.
“Ra sức cứu Dân” ghi xuống cốt,
Kiên tŕ diệt Cộng” khắc trên da
Lưu vong tại thế lâu mà chóng,
Phục quốc đường về ngắn chẳng xa.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG


Giáo Sư Ảo Giản Phan Ngô (trái), Nguyễn Huy Hùng (phải) nhân dịp Cộng Đồng
VN Nam California tổ chức họp mặt đón Tết Kỷ Măo 1999 tại thành phố Westminster.

 

 

CÁC BÀI HỌA VÀ H̉A ĐIỆU CỦA THÂN HỮU

Giáo sư Phan Ngô

Vũ trụ xoay vần ngày tháng qua,
Lưu vong tẩu quốc xót t́nh nhà.
Ba lần tù ngục v́ Dân tộc,
Mấy bận gian truân bởi Quốc gia.
Lư tưởng Quốc Dân luôn khắc cốt,
Tinh thần phản Cộng măi ghi da.
Kiên tŕ tranh đấu không ngơi nghỉ,
Cách mạnh thành công ắt chẳng xa.

ẢO GIẢN PHAN NGÔ
Pasadena, đt lưu vong, 15-12-1998.

 

2-Đại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh

Đă mấy Xuân rồi những Tết qua,
Đào, Mai đua nở, cảnh quê nhà.
Niềm thương vương vấn v́ Dân tộc,
Nỗi nhớ dâng trào vị Quốc gia.
Đất nước ngàn trùng mây khó tới,
Non sông vạn dậm gió sao đa.
Gịng đời lữ thứ như chong chóng,
Mộng ước: Ngày về sẽ chẳng xa.

NGUYỄN QUỐC QUỲNH
Orlando, Florida

 

3.- Phạm Hoài Việt

Xuân xuân, Tết tết, hững hờ qua,
Cố hương thăm thẳm bặt tin nhà.
Người đi trĩu nặng t́nh dân tộc,
Kẻ ở đau ḷng cảnh phá gia.
Nhớ nước niềm đau ghi khắc cốt,
Thương nhà tủi hận thấu làn da.
Ngắm Xuân chợt thấy ḷng phơi phới,
Ngày về chiến thắng chẳng c̣n xa.

PHẠM HOÀI VIỆT
Southern Texas.

 

4.- Vơ Hữu Quyền Thi Giang

( Chủ nhiệm Nguyệt San Góp Gió ở Seattle, Washington State )

Lần lữa Xuân về Tết lại qua,
Quê xưa mờ ảo bặt tăm nhà.
Ly hương mang nặng t́nh Dân tộc,
Một gánh sơn hà nợ Quốc gia.
Hận nước đồng tâm ghi khắc cốt,
Thù nhà ghim chặt trên xương da.
Toàn dân trông đợi giờ hưng khởi,
Quang phục ngày về chẳng mấy xa.

VƠ HỮU QUYỀN THI GIANG
Renton, Tiểu Bang Washington

5.- Mai Thạch Lư Thái Vương

( Ḥa điệu của thông gia)

Hào hùng Xuân ư với t́nh quê,
Nguyện để Cộng đồng hết cách chia.
Vơ bị bớt đi phường bị thịt,
Văn đàn ch́m xuống những đàn hề.
Đuốc soi phục chính Nam truyền Bắc,
Thép luyện trừ gian Đông gọi Tây.
Đoàn kết vùng lên thay quốc vận,
Vàng căng sọc đỏ rộn đường về.

MAI THẠCH LƯ THÁI VƯỢNG

Santa Ana, ngày 15-12-1998 

 

1997 ĐINH MĂO

XUÂN TÙ TÚNG

Nắng sưởi rừng mai trổ cánh vàng,
Trại tù Thủ Đức đón Xuân sang.
Nữ Nam đồng cảnh thân đầy đọa,
Già trẻ cùng chung phận bẽ bàng.
Quốc sách nhục h́nh không sờn chí,
Luật rừng gian khổ vẫn hiên ngang.
Mười hai năm hạn, kiên tŕ đợi,
Đại nghiă V́ Dân, dạ vẫn mang.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Tri Z30D, Hàm Tân, Thun Hi, Tết Đinh Măo 1987.

1975 ẤT MĂO

Xuân Máu Lửa

Bắc Việt xua quân xé Hiệp Hoà,
Giành dân lấn đất tạo can qua.
Đồng Minh
(1) phản bội xoa tay chạy,
Lănh tụ hoạt đầu nhấp nhổm ra.
Chính khách thịt xôi khua đục nước,
Tiểu nhân đón gió lộ h́nh ma.
Đồng bào đau khổ tan tành của,
Chiến sĩ lầm than ră nát nhà.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Tân Sơn Nhứt, Saigon, Tết Ất Măo 1975.
Việt Cộng pháo kích bắn hỏa tiễn để đánh chiếm các thành phố Việt Nam Cộng Ḥa, dân chúng phải bồng bế nhau chạy di tản về phía Saigon để tránh nạn.

 

XUÂN QUƯ MĂO

Xuân nghịch cảnh

Mèo, Hổ giành nhau chốn tịnh thiền,
Sói, Lang gây rối cơi thần tiên.
Cộng nô len lỏi gây chia rẽ,
Phản chiến tung hoành phá kết liên.
Chuyên chính độc tài muôn hướng loạn,
Tự do Dân chủ mọi phương yên.
Xuân về, tiền tuyến quân binh mệt,
Tết đến, hậu phương chợ búa phiền.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Cư xá Sĩ quan trại Trần Hưng Đạo
Tết Quư Măo 1963 Đạo hữu Thiên Chúa giáo và Phật Giáo đua nhau xuống đường chống Tổng Thống Ngô Đỉnh Diệm v́ áp dụng chính sách Gia đ́nh trị.

Một nhóm Tướng Tá do Tướng Dương văn Minh cầm đầu được Hoa Kỳ xúi giục âm mưu đảo chánh, và thực hiện vào ngày 1-11-1963. Ngày 2-11-1963 anh em ông Diệm và Nhu bị thảm sát trong xe bọc thép trên đường dẫn độ từ Nhà Thờ Cha Tam trong Chợ Lớn về Bộ Tồng Tham Mưu tại Tân Sơn Nhất, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hoà.

XUÂN QUƯ MĂO

Xuân nghịch cảnh

Mèo, Hổ giành nhau chốn tịnh thiền,
Sói, Lang gây rối cơi thần tiên.
Cộng nô len lỏi gây chia rẽ,
Phản chiến tung hoành phá kết liên.
Chuyên chính độc tài muôn hướng loạn,
Tự do Dân chủ mọi phương yên.
Xuân về, tiền tuyến quân binh mệt,
Tết đến, hậu phương chợ búa phiền.

MẬU TÙNG NGUYỄN-HUY HÙNG
Cư xá Sĩ quan trại Trần Hưng Đạo
Tết Quư Măo 1963

Đạo hữu Thiên Chúa giáo và Phật Giáo đua nhau xuống đường chống Tổng Thống Ngô Đỉnh Diệm v́ áp dụng chính sách Gia đ́nh trị.
Một nhóm Tướng Tá do Tướng Dương văn Minh cầm đầu được Hoa Kỳ xúi giục âm mưu đảo chánh, và thực hiện vào ngày 1-11-1963. Ngày 2-11-1963 anh em ông Diệm và Nhu bị thảm sát trong xe bọc thép trên đường dẫn độ từ Nhà Thờ Cha Tam trong Chợ Lớn về Bộ Tồng Tham Mưu tại Tân Sơn Nhất, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hoà.

1951 Tân Măo

Xuân Tây du

Đất Pháp Xuân sang tuyết mịt mờ,
Cô pḥng lữ khách sưởi hồn thơ.
Than reo lách tách ḷng ray rứt,
Lửa nhẩy bập bùng bóng ngẩn ngơ.
Quốc Cộng chiến tranh dân đói khổ,
“Nồi da xáo thịt” nước vong nô.
Bao giờ hoà hợp xây Dân chủ,
Đất nước thanh b́nh sống Tự do!

NGUYỄN-HUY HÙNG
Coetquidam, Pháp, Tết Tân Măo 1951.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
H́nh chụp năm 1988, sau 13 năm bị đọa đầy trong các tại tập trung cải tạo của Cộng sản Việt Nam
.

 

 

Những ḍng kư ức tù

Tập thơ của KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG, ghi lại những cảm xúc trong suốt thời gian bị cầm tù tại Việt Nam sau ngày Quốc hận 30-4-1975.

Thời gian khổ hạnh này được chia ra: 13 năm lao động khổ sai qua 9 Trại tập trung cải tạo của Đảng Cộng sản và bạo quyền Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam, trên cả 3 miền đất nước, và 4 năm chờ đợi tại Saigon làm thủ tục để được cùng gia đ́nh đi định cư vĩnh viễn tại Hoa Kỳ theo chương tŕnh nhân đạo (Humanitarian Operation) để xây dựng lại cuộc đời mới trong xă hội Tư bản hoàn toàn Tự do, Dân chủ, B́nh quyền.

Tập thơ gồm 48 bài, được phân ra thành 6 đoạn với các tiêu đề riêng, dựa theo thời gian lũy tiến bị giam cầm tại mỗi địa phương khác nhau :

1.- Những giây phút ngỡ ngàng chơi vơi không quên được, gồm 6 bài.

2.- Khúc quanh đau thương, gồm 13 bài. 3.- Thê thảm kiếp tù không án, gồm 9 bài.

4.- Kiếp lưu đầy trên đất Bắc Xă hội Chủ nghiă, gồm 6 bài.

5.- Tia sáng cuối đường hầm, gồm 6 bài.

6.- Nhà tù lớn Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam, gồm 8 bài.

Những bài thơ này trích từ cuốn hồi kư HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM đă phát hành vào tháng 5-2004, hiệu chỉnh đôi chút và gom riêng thành tập thơ với tựa đề NHỮNG D̉NG KƯ ỨC TÙ. Việc làm này hoàn tất vào đúng ngày 4 tháng 7 năm 2005, Lễ Độc Lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ lần thứ 229.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

***

1-NHỮNG GIÂY PHÚT NGỞ NGÀN CHƠI VƠI KHÔNG QUÊN ĐƯỢC

 

30 -4-1975

Ngày Quốc Hận của dân tộc Việt Nam

Big MINH (*) hàng, thế là xong!
Nghe lời tuyên cáo mà ḷng nát tan.
Thất thần, cổ nghẹn, lệ tràn,
Tim rung loạn nhịp, thời gian đọng ch́m.
Bàng hoàng như gẫy cánh chim,
Không gian đảo lộn, khó t́m lối ra.
Thôi rồi! mất nước mất nhà,
Bao năm chiến đấu bôn ba ích ǵ?
Sóng lùa Dân chủ trôi đi,
Tự do biến mất c̣n chi cuộc đời!
Xuôi tay phó mặc ông Trời,
Chờ coi đảng cướp thị oai thế nào?
Xem bầy phản bội ra sao,
Vinh thân hay cũng phải vào ngục đen?
Cộng hoà Chiến sĩ chẳng hèn,
 Lột quân trang phục vứt bên lề đường.
Tản đi khắp nẻo Quê hương,
Không hàng Việt Cộng, như phường tiểu nhân…

Quận Phú Nhuận, thành phố Saigon.

(*) Dương văn Minh được Hoa Kỳ dùng biệt danh “Big Minh”, để phân biệt với các Tướng khác trong Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng có tên là MINH. 15-6-1975

Chơi vơi giữa ḍng sóng đỏ

Bánh tro Đoan Ngọ vàng trong,
Anh hùng thất thế đành ḷng nộp thân.
Vợ con lo lắng tiễn chân,
Hoang mang, ngơ ngác, tần ngần lệ rơi.
Tháng Tư đại nạn đổi đời,
V́ Dân nay phải vào nơi đọa đầy.
Tự do giă biệt từ đây,
“Chim lồng cá chậu” biết ngày nào ra?
Chơi vơi đâu chỉ riêng Ta,
Toàn Dân Nam Việt lệ nhoà đau thương.
Kiêu binh Cộng sản đầy đường,
Bợ thời phản bội khối phường tiểu nhân.
Từng quen luồn cúi kiếm danh,
 Nhiễu nhương lật lọng ôm chân kẻ thù.
Bọn th́ đội lốt nhà tu,
Xúi người khác Đạo gây thù hại nhau.
Con buôn chính trị hoạt đầu,
Vội mang “băng đỏ” “dép râu” làm hề.
Lăng xăng mừng Cách mạng về,
Tung tăng bợ đỡ, nâng “hê”, nộp tiền.
Du côn, đứng bến, nằm hiên,
Bỗng dưng đời đổi nắm quyền trị dân.
Cướp đường, trộm chợ, phu khuân,
Hoá thành Cách mạng áo quần bảnh bao.
Ủy ban Quân quản ra vào,
Tiền hô hậu ủng, Cờ sao đỏ đường.
Đổi đời rối loạn Âm Dương,
Đảng đoàn, chồn cú, ma vương hoành hành.
Khắp nơi xú uế hôi tanh,
C̣n đâu không khí trong lành Tự do.
Sài-g̣n đổi ra Thành Hồ,
Mặc t́nh bè lũ Tam Vô hại đời !!!

Saigon, 5 tháng 5 Âm lịch, Quư Măo.

(*)15-6-1975 là ngày cuối cùng, Việt Cộng buộc các Sĩ quan và Công chức Việt Nam Cộng hoà phải tŕnh diện đi học tập cải tạo tư tưởng thời gian một tháng, trước khi được xét định cho trở thành người công dân của nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam. 

16 -6-1975

Bắt đầu cuộc đổi đời

Nửa đêm lệnh gọi “hành quân”,
Gập chăn, cuốn chiếu, xuống sân xếp hàng.
Nối đuôi nhau đứng hoang mang,
Va-li lếch thếch, túi quàng bên vai.
Nghe tên gọi bước ra ngoài,
Tập trung thành Đội ba mươi mốt người.
Dồn lên từng chiếc xe hơi,
Bít bùng, ngột ngạt, đứng ngồi chen nhau.
Lao nhao bàn tán x́ xào,
Đoán xem chuyển đến nơi nào, gần xa?
Người sành tin tức ba hoa,
Chắc là Phú Quốc, phải ra bến tầu.
Xe lăn mỗi lúc một mau,
Ḅ lên, lao xuống, biết đâu mà ṃ!
Lắc qua, lắc lại ṿng vo,
Lanh quanh tới sáng tờ mờ mới ngưng.
Sương mai phủ kín cây rừng,
Rào gai xiêu vẹo, tầng tầng b́m leo.
Xuống xe, gối mỏi lăn quèo.
Lồm ngồm ḅ dậy, tiếp nhau xuống hàng.
Quơ quờ t́m kiếm hành trang,
Leo qua rào kẽm vào Làng Tập Trung…

Sáng sớm ngày 16-6-1975.
Trại Long Giao, tỉnh Long Khánh

 

Một tháng học làm người xă hội chủ nghĩa

Long Giao vốn trại của Ta,
Ngày nay đời đổi hoá ra Làng Tù.
Lâu ngày chẳng được trùng tu,
Tan hoang, nên phải lu bu sửa hoài.
Tay không bứt cỏ, bẻ gai,
Nhổ tranh, bới đất trồng khoai, trồng ḿ.
Đá xanh vun đắp lối đi,
Sửa nhà, dựng vách, pḥng khi đổi mùa.
Tiết Trời đang chuyển sang mưa,
Nắng ngày gay gắt, sương khuya lạnh lùng.
Tập trung đủ mặt anh hùng,
Tùy theo cấp bậc nhốt từng khu riêng.
Nấu ăn, chia Đội luân phiên,
Mỗi khu hỏa vụ lo trên trăm người.
Nước dùng, kéo đáy giếng khơi,
Hàng ngày lănh gạo, đồ tươi về làm.
Thực đơn nghe báo mà ham,
Nay gà, mai lợn, mốt tôm, kia ḅ.
Lănh về ai nấy ngẩn ngơ,
Con gà hai kí, phát cho trăm người.
Vứt lông, bầm nát xong xuôi,
Nêm tiêu, xả, muối, bỏ nồi nước ninh.
Lúc chia vận trí thông minh,
Khoắng đều cái nước như x́nh múc ra.
Người hai muổng xả kho gà,
Trộn cơm Đại Mễ (1) ăn mà độ thân.
Đổi đời phải luyện tập dần,
Miếng ăn ít ỏi, chia phân đồng đều,
Nếu không kẻ ít người nhiều,
Lời qua tiếng lại, sinh điều chẳng hay.
Ngày ngày khắc vạch lên cây,
Đếm dư trăm ngấn (2) mà Thầy chửa ra.
Hẳn là phải đợi đến già,
Chờ hồi xương mục, chẳng tha cũng về !!!


Trại Long Giao, tỉnh Long Khánh
.
(1) Gạo của Trung Cộng tiếp tế cho VC.
(2) Trăm ngấn là 100 ngày = hơn 3 tháng.  

 

Tháng 9-1975

Mùa nhồi sọ bắt đầu

Bỗng dưng trại mở Căng Tin,
Tha hồ Tù viếng, miễn tiền đủ chi.
Trứng, ḿ, sữa bột, bánh quy,
Đồ  ăn đóng hộp, hệt y chợ trời.
Kẻ giầu mặc sức mua xơi,
Bỏ cơm trại phát cho người nghèo ăn.
Mở màn khích lệ tinh thần,
Cho Tù “hồ hởi” dấn thân học hành.
Chờ đoàn Cán Ngố nổi danh,
Từ Hà Nội đến, tung hoành múa môi.
Giữa mùa gió băo tơi bời,
Bọn người thắng trận đến nơi khoe tài.
Đêm buồn, tầm tă mưa rơi,
Đoàn Tù “khắc phục” đội Trời xem phim.
Bước đầu thử thách con tim,
Xem tinh thần “Ngụy”(1) nổi ch́m ra sao?
Có người dại miệng x́ xào,
Bị kêu gặp ‘Cán thuốc lào” thẩm tra.
Hung tin sốt dẻo tung ra,
Phạt “cùm”, dằn mặt “phe Ta” khỏi lờn.
Để mà suy nghĩ thiệt hơn,
“ Kiến trong miệng chén” c̣n chuồn đi đâu?
-oOo-

Loạt bài nhồi sọ bắt đầu,
Phê b́nh Đế quốc sang giầu dă man.
Thế thời Tư bản đang tàn,
Sóng Thần Cách Mạng dâng tràn khắp nơi.
Khôn ngoan nên biết thức thời,
Cúi đầu theo Đảng sống đời Cộng nô.
Noi gương các cụ Mao Hồ,
Làm con cái nước Liên Sô anh hùng.
Dại, ngu, giữ giống Tiên Rồng,
 Làm sao hội nhập Đại Đồng Tam Vô?
Rầng rầng tay vỗ hoan hô,
“Đỉnh cao trí tuệ” tha hồ ba hoa.
Công, Danh, Cộng Đảng chói loà,
Nhân dân đổ máu, Đảng ta kiêu hùng.
 Đảng ta nhân đạo khoan hồng,
“Ngụy” tha tắm máu, tập trung học nghề.
Bao giờ “tiến bộ” th́ về,
Tiếp tay xây dựng lại quê hương nhà.
 Giờ đây chinh chiến đă qua,
Bắc Nam đoàn tụ một nhà thương nhau.
Thời gian học tập chẳng lâu,
Yên tâm cố gắng cho mau đạt thành.
Gia đ́nh vô sự yên lành,
Các con vẫn được học hành như xưa.
 Vợ theo lao động “thi đua”,
Tham gia sản xuất, đợi cha, đợi chồng.

-oOo-
Bọn hèn xuất hiện lập công,
Mở lời phụ họa tố Ông, tố Bà.
Nghẹn ngào oán hận Mẹ Cha,
Lệ tuôn tức tưởi xin tha tội ḿnh.
Đáng thương cho lũ bạc t́nh,
Bạn bè xa lánh, miệt khinh măn đời.
Lúc nguy mới rơ ḷng người,
Vàng thau lẫn lộn, lửa thui hiện h́nh.
Rớt vào tay bọn súc sinh,
Dần dà mới thấy cực h́nh bủa vây.
Tinh thần căng thẳng đêm ngày.
Đọa đầy kiệt sức bỏ thây rừng già.
Rồi đây sẽ sáng mắt ra,
Đừng nghe Vẹm (2) nói ngọt mà vội tin…

 
Trại Long Giao, tỉnh Long Khánh
KHIẾT CHÂU NGUYỄN HUY HÙNG
(1) Cộng sản Bắc Việt gọi Quân nhân, Công chức Hành chánh Việt Nam Cộng hoà là Ngụy Quân, Ngụy Quyền.
(2) Tiếng lóng do dân chúng Bắc Việt dùng từ năm 1946 để chỉ Việt Minh, sau khi Việt Minh phản bội tiêu diệt hết các Đảng Chính trị Quốc gia trong Chính phủ Liên Hiệp không chịu theo Cộng sản.

 

2- KHÚC QUANH ĐAU THƯƠNG

Tháng 10 – 1975

Những giây phút hoang mang

Hành trang chuẩn bị xong rồi,
Tập trung từng Đội đứng ngồi đợi xe.
Xôn xao chuyện gẫu bên hè,
Nôn nao chẳng biết chuyển về nơi đâu?
Cao nguyên? Phú Quốc? Cà Mâu?
 Côn Sơn? Quảng Đức? Rừng sâu? Đồng bằng?
Có nguồn tin nhảm đồn xằng,
Tập trung về trại Sóng Thần, Lễ tha!
Ngây thơ quá đỗi thật thà,
Đấu tranh giai cấp, “Ngụy” là mục tiêu.
Phải cần trừ khử thật nhiều,
Hành cho tiều tụy đủ điều khổ đau.
Đầy cho nếm mọi thảm sầu,
Sức cùng lực tận, chớ đâu thả về.
Bao giờ tàn tạ ê chề,
Nửa người nửa ngợm u mê, mới ḥng.
Đảng ta nhân đạo khoan hồng,
Cho không phải bỏ xác trong rừng già.
Khi nào c̣n xương bọc da,
Đảng cho đoàn tụ để mà chôn nhau.

--oOo-
 Rầm rầm xe tải ập vào,
Mặt trời lẳng lặng biến sau cây rừng.
Lên xe nửa sợ nửa mừng,
Gian truân bám hại tới chừng nào đây?
Xe lăn bánh, gió hây hây,
Người đi kẻ ở vẫy tay tiễn chào.
Lâu rồi mới thấy đồng bào,
Dọc hai bên lộ dẫn vào Hố Nai.
Nhà Thờ cửa đóng then cài,
Chẳng như thuở trước, trong ngoài đầy Chiên (*).
 Xót xa thương nhớ vợ hiền,
Làm sao xoay sở có tiền nuôi con?
C̣n Trời, c̣n nước, c̣n non,
C̣n bầy Quỷ Đỏ, Em c̣n gian truân.
Cầu xin Trời, Phật, Linh Thần,
Độ cho Em được yên thân hàng ngày.
 Vững tâm vượt hạn hôm nay,
Trời thương chẳng hại, c̣n ngày gặp nhau.
Thất thời đành chịu lao đao,
Tới đâu hay đó, hơi nào mà lo.

-oOo-
 
Xe ngưng, trời đă tối ṃ.
Đèn pha rọi sáng, điểm cho tù vào.
Ngoằn ngoèo theo giậu kẽm cao,
Nối đuôi hàng một, bước vào khu giam.
 Đặc nhà tiền chế Mỹ làm,
Mái tôn, khung sắt, nền nằm xi măng.
Xưa, dùng nhốt Cộng xâm lăng, Nay,
 bầy Quỷ chiếm lại quăng ta vào.

-oOo-

Thua, đành nhịn nhục nuốt đau,
Thế thời dâu biển biết đâu là cùng?
Nội quy luật lệ tập trung,
 Chín giờ đèn tắt, hạ mùng ngủ yên.
Định tâm vận khí luyện Thiền,
Quên đi bao nỗi truân chiên trong ngày.
Quên đi, những cảnh đắng cay,
Giữ hồn trong sáng đợi ngày Tự do.
Đấu tranh dựng lại cơ đồ,
Cho toàn dân Việt ấm no, phú cường.
Nơi nơi bàng bạc t́nh thương,
Nhân quyền, Bác ái, bốn phương hài hoà.
Ví rằng Trời chẳng thương cho,
Th́ đành bỏ xác nơi bờ rừng hoang.
Thề  không phục bọn bạo tàn,
Cho dù thịt nát xương tan cũng đành.
 Chẳng thành công, phải thành danh,
Mệnh Trời định sẵn, ai giành được sao???

Trại Suối Máu, Tam Hiệp, tỉnh Biên Hoà
(Đồng Nai).
(*) Các giáo dân thường được các Linh Mục gọi là Con Chiên
.

 

 

Kết quả thu hoạch sau đợt hoc tập

Tưởng rằng Cộng sản là vô địch,
 Hăng hái Bác Hồ nhắm mắt theo.
Nửa Thế kỷ qua nước vẫn nghèo,
Nhân dân nguyền rủa, nhục, sầu, chết.

Chuyên quyền độc đảng, Nga hơn Mỹ,
Dân chủ b́nh quyền, Mỹ thắng Nga.
Nam Việt đắn đo, lập Cộng hoà,
Nga, Tầu, lo lắng hè nhau diệt.

Cách mạng theo Nga dân đói rách,
Rập khuôn Âu Mỹ nước phồn vinh.
Tham lam muốn cướp, Đảng hành binh,
Xâm lược miền Nam, mặc sức vét.

Chủ nghĩa Tam Vô phá Quốc gia,
Tự do Dân chủ nước hưng thịnh.
 Độc tài Đảng trị dân thù oán,
Thiển cận làm sao thấy được xa ???

Tháng 9-1975, Trại Long Giao, tỉnh Long Khánh.

 

Tháng 2-1976
Suối Máu, Xuân lưu bút

Mất hết, c̣n chi Tết với Xuân,
Nhà tan, tổ vỡ đọa đầy thân.
Nghe tràng pháo nổ, ḷng tan nát,
Ngó cánh Mai rơi, năo bí vần.
Kẻ thắng cuồng vui cười hể hả,
Người thua chua chát hận phân vân.
“Anh hùng mạt lộ” âm thầm chịu,
Tà, Chính, Trời cao sẽ định phần!

Tết Bính Th́n.
Trại Suối Máu, Tam Hiệp, tỉnh Biên Hoà (Đồng Nai).

 

Tháng 4-1976
Suối Máu, quỷ đỏ thị oai

Mái tôn mưa gơ rào rào,
Luồn chân vách hổng, th́ thào gió ru.
À ơi! thương kiếp sống tù,
Một ngày trong khám, thiên thu ngoài đời.
Bắc, Nam, chung một giống ṇi,
U mê theo quỷ vô loài diệt nhau.
Chung quy chỉ Mẹ Việt đau,
Quê hương ngút lửa, máu đào tràn sông.
Thây dân vô tội đầy đồng,
Tha hồ Việt Cộng dâng công tế Thầy
(*).
Non sông gấm vóc từ đây,
Thành nhà tù lớn, vũng lầy khổ đau.
Coong! Coong! Cồng điểm canh thâu,
Đùng đùng đạn nổ, hay đâu truyện ǵ?
Rầng rầng bộ đội bủa đi,
 Ào vô xục xạo, súng gh́, đèn soi.
Bàng hoàng lưng vă mồ hôi,
Ngỡ rằng Thần Chết đến nơi cướp hồn.
Lệ Trời, tuôn lúc mau hơn,
Ào ào gió thổi từng cơn lạnh lùng.
B́nh minh rồn rập tin hung :
“Đêm qua có kẻ mánh mung vượt rào,
Thiên la Địa vơng vây bao,
Lưới Công An đặc, thoát sao khỏi tṛng?”
Biết rằng đường lắm gai chông,
Cặp tù : Thịnh, Bé, quyết không ngại ngùng.
Vượt rào trốn thoát ngục trung,
Tung hoành cho thoả chí hùng thuở nao.
Phục thay gan dạ anh hào,
Coi đời như giấc chiêm bao vắn dài.
Thời gian chửa kịp nguôi ngoai,
Bỗng dưng thấy Cán dẫn hai tù về.
Mây chiều ảm đạm lê thê,
Mạch tim quặn thắt, tái tê cơi ḷng.
 Oan khiên, chẳng thoát tử vong,
Quỷ đang đợi dịp “thi công” hại người.
Thị oai cho cả trong ngoài,
Thấy quyền sinh sát, gương soi tỏ tường.
Lập toà tuyên xử “khẩn trương”.
Tha hồ ác tặc ma vương đóng tṛ,
Tử h́nh án trữ đầy kho,
Phải đem phân phát sao cho cạn lần.
Nhân danh đại diện nhân dân,
Diệt trừ “giai cấp” đâu cần đắn đo.
Rập khuôn Trung Cộng, Liên Sô,
Không theo chủ nghiă Tam Vô là thù.
Không theo Cách mạng mùa Thu,
Thành phần đối lập khử trừ thẳng tay.
Yêu tinh hiện giữa ban ngày,
Hại người yêu nước, Trời hay chăng Trời?
Rào rào gió giục mưa rơi,
hấm ḷng đất Việt máu người Việt Nam!


Trại Suối Máu, Tam Hiệp, tỉnh Biên Hoà. (*) Liên Sô là quan Thầy của Việt Cộng.

Cuối tháng 6-1976

Trắng đêm trên đất Bắc xă hội chủ nghĩa

Sàn tre vật vă ẩm ê,
Lắng nghe giun dế  tỉ tê nỗi niềm.
Lao sao chuột rúc bên thềm,
Ŕ rầm suối đổ, cú chêm nhịp buồn.
Trăng rừng lạnh lẽo cô đơn,
Sương khuya mờ ảo, gió luồn khe song.
Nhớ con thương vợ năo ḷng,
Chợ đời bạc bẽo long đong một ḿnh.
Thời gian hờ hững vô t́nh,
Không gian khoả lấp bao h́nh thân thương.
Bắc, Nam, chung cảnh đoạn trường,
 Lương dân cùng khốn, quê hương tan tành.
Tung hoành Cộng đảng gian manh,
Bầy tṛ giai cấp đấu tranh hại đời.
Oán than dâng thấu tận Trời,
Ông Cao Xanh hỡi! Nỡ ngồi làm ngơ?
Họa Hồng Thủy đến bao giờ?
 Mới cho dân Việt thấy bờ Tự do ???

 

Phân trại K ḷ gạch, Liên Trại 1, Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn


Tháng 7-1976

Lao động là vinh quang

Khởi đầu “lao động vinh quang”,
Cồng bom
(1) giục giă, xếp hàng giữa sân.
Lệnh kêu từng Đội “xuất quân”,
Vào rừng chặt chổm
(2), vác dần về K (3)
.
Đóng rào, dựng cổng, cất nhà,
Để mà có chốn đi ra đi vào.
Đắp nền Láng ở cho cao,
Kẻo mùa mưa lũ, nước trào vô trong.
Sàn nằm hai dẫy thong dong,
Đầu quay sát vách, khỏi trông thấy ngoài.
Lán (4) ba gian dọc, phân đôi,
Nhốt chung hai đội, trăm người vào ra.
Cấm không tụm bẩy tụm ba,
Truyện tṛ bàn thảo việc nhà, việc chung.
Ngày lo lao động tính công,
Tối ngồi “kiểm thảo” để cùng “sửa sai”.
“Hoạch định phương án” tương lai,
“Thi đua”, “phấn đấu” hàng ngày tiến lên.
Ốm đau “khắc phục” cho quen,
Đội không được phép vắng trên một người.
“Khẩu phần”có đội “Anh Nuôi”,
Lo cho cả trại kịp thời, đúng cân.
Dù ai lao động xa gần,
Đi về sớm muộn, có phần dành riêng.
Giống như Hợp Tác Xă viên,
Anh hùng lao động tại miền Bắc ta.
Thảm thương Đại Tá Cộng Hoà,
Đọa đầy thể ấy, thành ma mấy hồi!!!

 

Phân trại K-1 (khu nhà ngói), Liên Trại 1
Việt Cường, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn.
(1) Bộ đội canh tù lượm được trái bom Mỹ thả xuống miền Bắc không nổ, đem về gỡ ng̣i và lấy hết thuốc nổ ra, rồi treo chiếc vỏ trống lên cây dùng làm kẻng đánh thông báo các giờ giấc sinh hoạt quy định hàng ngày tại trại giam.
(2) Giống tre hoang mọc trong rừng vùng xă Việt Cường, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn.
(3) Mă hiệu Việt Cộng dùng để gọi Phân trại, thí dụ K-1 là Phân trại 1. (4) Lán, là tiếng riêng do Việt Cộng dùng để chỉ một dẫy nhà giam tù.


Ngày 2-9-1976

Thi đua mừng lễ độc lập xă hội chủ nghĩa

Muỗi, vắt, họp bầy đeo khắp thân,
 Đầm lầy, khe úng, điả bâu chân.
Tù, đua lao động nâng thành tích,
Cán, thúc ghi công xét định phần.
Đôi mẩu ngựa già xào muối hột,
Vài khoanh măng đắng nấu xương gân.
Đồng bào đâu thấy ḷng nham hiểm,
Thế giới nào hay dạ bất nhân!!!

Phân trại K1, Liên Trại 1,Việt Cường, Yên

Bái, Hoàng Liên Sơn.

Tháng 10-1976

Địa vỏng xă hội chủ nghĩa

Biết rằng dầy đặc Công An,
Một ḷng đă quyết, nguy nan chẳng sờn.
Cho hùm ăn thịt c̣n hơn,
Sống trong lao nhục, chết ṃn, tủi thân.
Sau đêm tầm tă mưa tuôn,
Tầng tầng rừng chổm, sương buông mịt mờ.
Cùng nhau thực hiện ước mơ,
 Bốn Tù Lâm Sản (*) lủi vô ḷng rừng.
T́m đường trốn thoát khỏi bưng,
Theo sông, vượt biển, tới vùng Tự do.
Cho thiên hạ rơ mưu đồ,
Cộng quân nham hiểm hơn Hồ ly tinh.
Bầy ra đủ thứ cực h́nh,
Đọa đầy Công chức, Chiến binh Cộng Hoà.
Tiếc rằng, đại nạn chửa qua,
Lạc trong rừng rậm, chẳng ra được ngoài.
Cạn lương, t́m rẫy kiếm khoai,
Cộng nô vây bắt, thẳng tay hạ đ̣n.
Không cho phân giải thiệt hơn,
Hiệp bầy đấm đá, hả cơn hận thù.
Theo lời Cách mạng mùa Thu,
Không theo Cộng sản, là thù của dân.
Dù là máu mủ, quyến thân,
Gốc không Vô sản, thành phần hiểm nguy.
Phải cần tiêu diệt hết đi,
Chỉ c̣n vô sản, vô ngh́ với nhau.

Tiến lên theo Đảng dẫn đầu,
Ḥa cùng các nước chư hầu Liên Sô.
Đại đồng Thế giới Tam Vô,
Trở về nguyên thủy, tha hồ Tự do !!!

Phân trại K1, Liên Trại 1, Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn.

(*) Bốn Đại Tá trốn trại là : Vơ Quế (Không quân), Đỗ Trọng Huề (Hành Chánh Tài Chánh), Đặng Phương Thành (Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 12 thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh) và Nguyễn Văn Thi (Pháo Binh). Anh Thành đă bị cán bộ trại cải tạo tra tấn đến chết, nhưng lại phao tin là tự treo cổ lên nóc hầm giam tự tử.

Tháng 11-1976

Khoan hông nhân đạo xă hội chủ nghĩa 

Cồng bom nhức óc đinh tai,
Chó chu thảm thiết báo trời rạng Đông.
Dậy lo thu xếp chăn mùng,
Sẵn sàng tiếp tục thi công kiếp tù.
Sơn lâm chướng khí mịt mù,
Cỏ cây ướt sũng âm u lạnh lùng.
Năo nề ôi! Cảnh tập trung,
 Dầm mưa dăi nắng sức cùng lực tiêu.
Đắng cay, nhịn nhục đủ điều,
Gian lao xốc vác “chỉ tiêu” nặng nề.
Đọa đầy thê thảm ê chề,
Như bầy nô lệ làm thuê khốn cùng.
Đảng là vai chủ nhân ông,
Độc quyền sinh sát lao công tội tù.
Không theo”Bác”
(1) “Đảng” là thù,
Tất nhiên Nhà Nước
(2)
diệt trừ không tha.
Khoan hồng, nhân đạo chỉ là,
Mượn lời Nhân Nghiă, ba hoa bịp đời.
Lừa Nhân Thế mắc nạn chơi,
Khi nào Cộng sản thương… người Quốc gia!!!

Phân trại K1, Liên Trại 1, Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN HUY HÙNG
(1) Việt Minh buộc dân chúng phải gọi Hồ Chí Minh là “Bác” để tỏ ḷng tôn kính.
(2) Danh từ Cộng sản dùng để chỉ Cơ quan cầm quyền quản trị quốc gia dân tộc.

Tháng 12-1976

Rừng hoang

Cô đơn bên những cô đơn,
Phùn (1) bay rát mặt, Bấc (1) dồn buốt da.
 Âm thầm nối bước xông pha,
Ngược ḍng suối cóng xót xa thân gầy.
Rừng giang (2) chằng chịt tầng cây,
Âm u mờ ảo gây gây lạnh hồn.
Đèo cao, khe, dốc dập dồn,
Dạ dầy thôi thúc từng cơn đói ḷng.
Chiêu xuôi, theo ngụm nước trong,
Kèm bi “Thống Nhất”(3) chập chừng khói tan.
Cho quên bao nỗi cơ hàn,
Cho tâm bền vững tính toan sự đời.
Gian truân thầm trách Ông Trời,
Bầy tṛ dâu biển khiến người khổ đau !!
!

K-2 (Phân trại cây khế), Liên Trại 1. Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn.
(1) mưa Phùn là loại mưa nhỏ hạt dầy đặc rơi xuống nhẹ nhàng như sương mù, gió Bấc là gió rất lạnh thổi từ miền Bắc xuống vào mùa Đông tại Bắc Việt Nam.
(2) Giang là một giống tre, có gióng dài rỗng ruột, thân nạc dầy hơn tre và sợi mộc dẻo dai, tước mỏng làm lạt buộc hoặc bện thừng, chăo (rope)…

(3) Các sợi thuốc lào hiệu Thống Nhất, vê dính vào nhau thành một viên to bằng ḥn bi để nhồi vào nơ điếu và đốt hút. Hàng tháng trại phát cho mỗi tù 2 gói nhỏ chừng mấy gram để “bồi dưỡng”.

Tháng 1-1997
Bản chất tiểu nhân

Hiểm nguy, hổ cũng cụp đuôi,
Khốn cùng, bản chất con người bộc ra.
 Xưa kia luồn cúi ba hoa,
Ra vào cửa hậu, nhờ Bà cậy Ông.
Quan cao, nhà rộng mênh mông,
Mánh mung, thâm lạm của công làm giầu.
Cấp trên, nịnh đội lên đầu,
Tùy tùng, khai thác như trâu kéo cầy.
Chậm chân chạy, phải vào đây,
Gian lao đói khổ khác ngày quyền uy.
Tâm đen bần tiện tức th́,
Lộ qua lời nói hành vi đê hèn.
Lưu manh sống cạnh người hiền,
Khác đâu lang sói ở bên đàn cừu.
Lúc sang, kênh kiệu mỹ miều,
Gặp khi hoạn nạn, xoay chiều hại nhau.
Canh ngon, hỏng tại bọ sâu,
Cây tươi, héo chết v́ bầu mối xông.
 Nhẹm đi ấm ức trong ḷng,
 
Viết ra cho đỡ tức hông tuổi già.

K2 (Phân trại cây khế), Liên Trại 1. Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn.


Tháng 1-1977

T́nh người xă hội chủ nghĩa

Xót xa t́nh nghiă đồng bào,
Tha không xử chết, cho vào Tập trung.
Học gương lao động anh hùng,
Tập tành đắp đập, phá rừng, làm nông.
Bao giờ thành thạo reo trồng,
Chăn nuôi, canh tác tinh thông th́ về.
Xung vào Hợp tác xă quê,
Sống theo đời mới đủ nghề kiếm ăn.
Vợ, Con, khỏi phải băn khoăn,
Tội ai nấy chịu, chẳng can hệ ǵ.
Trẻ con vẫn học, vẫn thi,
Vợ theo lao động, hưởng tùy khả năng.
Thoạt nghe phấn khởi tinh thần,
Định tâm cải tạo bản thân đêm ngày.
Rêu rao chính sách thật hay,
Đến khi thực hiện đọa đầy dă man.
Gớm thay bè lũ bạo tàn,
Nỏ mồm lừa bịp thế gian nhân quần !!!

K-2 (Phân trại cây khế), Liên Trại 1, Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN HUY HÙNG


Mùa hè 1997

Kiên chí vũng ḷng

Sa cơ nín thở qua sông,
Lo chi xoáy cuộn, sóng vồng nổi trôi.
Định tâm giữ vững Đạo Trời,
Sống tṛn Nhân Nghiă, bĩ thời sẽ qua.
Bao năm mặc áo Cộng Hoà,
Dấn thân bảo vệ Tự do Nhân quyền.
Thế, Thời, quốc nạn đảo điên,
Có đâu thối chí lăng quên lời thề.
Kiên tŕ nhịn nhục v́ quê,
Đợi ngày thoát hạn sẽ về phục hưng.
Tàn cơn giông tố băo bùng,
Trắng đen phân tỏ: Anh hùng, Tiểu nhân.

K-2 (Phân trại cây khế), Liên Trại. Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn.

 

Cuối tháng 10-1997

T́nh nghĩa đồng tù *

Giúp nhau chuẩn bị lên đường,
Th́ thầm chia sẻ t́nh thương bạn bè.
Mai này cách trở sơn khê,
 Chừng nào có được ngày về gặp nhau?
Bao năm cùng khoác chiến bào,
Sa cơ thất thế cùng vào Tập trung.
Bên nhau hứng chịu băo bùng,
Trăm chiều nhục nhă, cực cùng khổ đau.
C̣n đêm nay nữa bên nhau,
Dặn ḍ nhắn gửi hết câu tâm t́nh.
Ai may sớm gặp gia đ́nh,
Đừng quên tiếp tục công tŕnh dở dang.
Đừng quên Quốc hận đang mang,
Đừng quên những kẻ đầu hàng cầu vinh.
Đừng quên tội phạm chiến tranh,
Là bầy lang sói đang hành hạ dân…

K2 (Phân trại cây khế), Liên Trại 1, Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn.
(*) Những ghi nhớ đêm chia tay Bạn bè tại Phân trại Cây Khế tức là K2, Liên Trại 1 do Quân đội Nhân dân quản lư, để sáng sớm ngày hôm sau lên đường di chuyển sang Trại Tân Lập tỉnh Vĩnh Phú do Công An Nhân Dân Xă Hội Chủ Nghiă quản lư. Đây là đợt đầu tiên gồm khoảng 30 Đại Tá thuộc K-2 và K-3. Liên trại 1, Việt Cường, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn, bị chuyển giao sang cho Nhà tù Công an Nhân dân giam giữ.

 

Đêm đầu trong nhà tù xă hội chủ nghĩa

Tự do thâu gọn một căn nhà,
Cửa sắt ngăn đường chặn lối ra.
Quanh Láng(*) nhởn nhơ toàn bóng Qủy,
Đêm dài lởn vởn đặc h́nh Ma.
Không gian co cụm sau tường gạch,
Không khí bao trùm chục thước vuông.
Sàn gỗ hai tầng, người sáu tấc.
Theo nhau tha thẩn Rệp đầy buồng.
Tù Người, Tù Rệp nằm chung ván,
Tranh đấu ngày đêm chẳng nhịn nhường.
Rệp hút máu Người no để sống,
Người lo diệt Rệp nát như tương.
Người, Rệp, chung nhau cảnh đoạn trường,
Không cùng lư tưởng, hoá không thương.
Rệp chuyên hút máu nên Người diệt,
Để tránh cho đời nọc bệnh vương!!!

Phân trại K1, trại Tân Lập, Tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Việt Nam.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN HUY HÙNG

(*) Danh từ riêng, Việt Cộng dùng để chỉ dẫy nhà giam tù.

Ốc đảo Tân Lập

Từ đây cách trở sơn khê,
Kiếp tù không án, ngày về hẳn xa.
Trầm luân đâu một ḿnh Ta,
Trăm ngàn Chiến sĩ Cộng Ḥa chịu chung.
Bên nhau trong bước đường cùng,
Giữ sao khí phách anh hùng không phai.
Mặc cho Quỷ Đỏ thị oai,
Kệ thây bầy thú vô loài dương uy.
Vượng, Suy, Trời định có kỳ,
“Sắc không, không sắc”, cớ chi nản ḷng ???

Phân trại K1, Trại Tân Lập Tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Việt Nam.

 

Mùa đông 1997

Nỗi ḷng tù không án

Hùng Vương Quốc Tổ thấy không?
Đồng bào cùng giống Tiên Rồng diệt nhau.
V́ không thần phục Nga Tầu,
Không theo Bác Đảng làm trâu kéo cầy.
Sa cơ bắt nhốt vào đây,
Nếm mùi tàn bạo của bầy ác gian.
Đọa đầy cực khổ cơ hàn,
Sức ṃn lực tận tiêu tan xác phàm.
Người v́ Chính Nghiă chịu giam,
Bọn vô nhân đạo lên làm Chủ dân.
Giang sơn gấm vóc tiêu lần,
Nhân tài yêu nước, chung thân ngục tù.
Đ́nh, Chùa, Lăng, Miếu, Nhà Thờ,
Hoang tàn v́ thuyết Tam Vô bạo tàn.
 Nhân dân đói khổ lầm than,
 Bởi bầy Cộng sản ác gian lọc lừa.
Nỡ nào Quốc Tổ làm ngơ,
Để cho lang sói ḍng Hồ hại dân ???

Phân trại K1, trại Tân Lập, Tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Việt Nam.

 

Cách mạng mùa Thu 1945, cứu nước hay hại nước ?

Việt Nam, sông núi trời mây,
Trải bao dâu biển ngày nay vẫn c̣n.
Nhờ ḍng Lạc Việt tinh khôn,
Không tham danh lợi cúi luồn ngoại bang.
Không v́ quyền tước cao sang,
Dẫn đưa dân tộc nhập hàng vong nô.
Như bầy bán nước họ Hồ,
|Phục tùng Quỷ Đỏ Liên Xô nạ ḍng.
Quên đi gốc gác Tổ Tông,
Chạy theo ảo mộng Đại đồng Tam Vô.
Xoá tan ranh giới cơi bờ,
Bắt toàn dân Việt tôn thờ Mác-Lê.
Từ ngày Cách mạng Đỏ về,
Giang sơn khói lửa, dân quê bàng hoàng.
Từ thành thị đến thôn trang,
Phú, Thương, Kẻ Sĩ, hoang mang tảng hồn.
Đấu tranh giai cấp, máu tuôn,
Diệt trừ Tư sản, xác chôn đầy đồng.
Liên minh vô sản Công-Nông,
Tiếm quyền, làm chủ nhân ông hại đời.
Phải chăng vận nước mạt thời,
Khiến cho bọn Quỷ đười ươi lộng hành ???


Phân trại K1, trại Tân Lập, Tỉnh Vĩnh
 Phú, Bắc Việt Nam.

 

Tân Lập địa ngục trần gian

Nắng hạn khô da nứt nẻ đồng,
Mưa nguồn lũ cuốn, khổ bần nông.
Cầm hơi lao động, lưng ca sắn,
Khắc phục bệnh thời, nắm lá xông.
Hung hăn, Cai tù hăm hở nạt,
Hững hờ, Cải tạo lạnh lùng trông.
Rừng hoang đất sỏi, chen vồng miá,
Núi trọc hầm vôi, đá chất chồng.

Phân trại K5, trại Tân Lập. Tỉnh Vĩnh Phú, Bắc phần Việt Nam.

Tết Mậu Ngọ 978

Tù cải tạo thi đua làm cách mang

Ngày trước Bác (*) làm Cách mạng Hồng,
 Công Nông hợp lực cướp non sông.
Diệt Phong, đả Thực, trừ Giai cấp,
Chuyên chính chạy theo mộng Đại đồng.

Nay Đảng lại làm Cách mạng Xanh,
Bắt tù cải tạo phá đồi tranh.
Phát rừng ban núi trồng khoai sắn,
Giải quyết cho qua nạn đói hành !!!

Phân trại K5, trại Tân lập, Vĩnh Phú. Toàn Trại Tân Lập thi đua đầu năm Mậu Ngọ làm Cách mạng Xanh.
(*) Bác Hồ Chí Minh, tay sai của Đảng Cộng sản Quốc tế do Liên Sô lănh đạo
.

Mùa Đông 1979

Truện thăm nuôi

Gặp nhau bốn mắt tṛn xoe,
Máu dồn tê mặt, lệ nhoè khoé mi.
Nghẹn ngào chẳng biết nói ǵ,
Không gian trùm phủ mây ch́, gió Đông.
Vươn tay tính nắm tay chồng,
Bàn tre ngăn cách, đành trông ngậm ngùi.
Oai phong Cán bộ rung đùi,
Mặt vênh lên giọng nhắc lời Nội quy.
“LẾU” ai vi phạm, tức th́,
Chồng vào kỷ “NUẬT”, Vợ về cấm thăm.
Vợ chồng đưa mắt hiểu ngầm,
Ngập ngừng hỏi truyện những năm vắng nhà.
Truyện sinh sống tháng ngày qua,
Truyện con thay đổi học xa, học gần(*).
Truyện bè bạn, họ hàng thân,
Truyện đời đổi mới cận lân thế nào?
Xa xôi bóng gió đổi trao,
Mập mờ tiếng lóng xen vào báo tin.
Hiểu ra thời thế đảo điên,
Vợ, Con, tủi cực triền miên tháng ngày.
Xót xa nuốt lệ bó tay,
Gượng khuyên lao động hăng say với người.
Từ rày vạn dặm xa xôi,
Gửi quà Bưu kiện tiếp bồi cũng xong.
Cần luôn can đảm vững ḷng,
Giữ ǵn sức khoẻ đợi trông ngày về.
Hạn thăm mươi phút vừa kề,
Cán hô : “Ra NĂNH quà, về khẩn trương!”
Chia tay chồng vợ luyến thương,
Vội vàng ôm đại giữa đường, hôn nhau.
Cán trông hờ hững hối mau,
Rơ ṇi Cộng sản, biết đâu… nghĩ t́nh!!!


Phân trại K-5, trại Tân lập, Vĩnh Phú. (*) Hỏi mánh xem có ai vượt biên trốn được ra nước


Mùa Xuân 1990

Thông cảm Đồng Minh phản bội

Ta thông cảm, v́ chiến lược toàn cầu,
Bạn “Cờ Hoa” phải dứt t́nh cuốn gói.
Nghe “Bồ” gọi, vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.
 Bỏ “Be bờ”, diệt Liên Sô tận gốc.
Hai rắn độc, cần loại bớt một con,
Phải phân rẽ Nga, Tầu, nhằm hạ độc.
Biến thời cơ, nên tức tốc thay đ̣n,
Gác lương tâm, kệ bạn đường vương lụy.
Ta kiên tŕ chịu đựng giữa nguy nan,
Âm thầm đợi, cảnh biển dâu đổi dạng…

 

Quyết bền gan vững chí
 

Đồng minh phản bội thoát thân,
 Mặc Ta chịu cảnh phong trần bấy lâu.
Gió sương mưa nắng dăi dầu,
Thảm thương tiều tụy như trân ngựa già.
Âm thầm đếm tháng ngày qua,
Kiên tâm chịu đựng để mà đợi trông
(*).
Qua cơn nước lũ hăi hùng,
 Mài gươm tiếp tục vẫy vùng đó đây.
Xoá màn đêm giữa ban ngày,
Cho Giang sơn Việt tràn đầy t́nh thương.
Tự do rực mọi nẻo đường,
 Nhân quyền toả khắp quê hương an b́nh.
 Cầu xin Quốc Tổ hiển linh,
Độ Trăm Họ thoát cực h́nh Tam Vô.
Sớm khôi phục lại cơ đồ,
Việt Nam Dân chủ Tự do Phú cường. 

Phân trại K5, trại Tân Lập, Vĩnh Phú.

 (*) Lúc đó các gia đ́nh đến thăm nuôi lén báo cho Tù biết là Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Cộng và các nước trong HCR (Cao ủy Quốc tế Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc) đang họp cùng Chính quyền Cộng sản Hà Nội tại Genève, để vừa thương thuyết vừa áp lực Chính quyền Cộng sản Hà Nội phải thả hết Quân Cán Chính Việt Nam

 

4-KIẾP LƯU ĐÀY
TRÊN ĐẤT BẮC XĂ HỘI CHỦ NGHĨA

 

 

Tháng 1-1980

Mút mùa lao khổ

Môi trường cải tạo cheo leo,
Đo rừng Yên Bái, đếm đèo Trường Sơn.
Sắn khô lưng chén thay cơm,
Đọt lang dăm cọng, muối om(*) nửa thià.
 Nắng nung nối bước nhau đi,
Mưa Phùn gió Bấc, lầm ĺ Cán theo.
Vắt kim, điả đói bám đeo,
Muỗi ṃng khát máu mừng reo cả bầy.
Run run những tốp thân gầy,
Bên nhau lặng lẽ đốn cây phá rừng.
Đói, phi bi thuốc môi rung,
Lơ mơ nhả khói, mung lung truyện đời.
Trợn trừng Cán nạt thị oai,
Lăm lăm ṇng thép hăm đ̣i cùm chân.
“Chỉ tiêu tối thiểu định phần,
“NÀM” chưa đạt mức, “NẦN” khân nghỉ hoài.
” Tù trong chịu phép Tù ngoài,
“Ếch ngồi đáy giếng, thấy trời bằng vung”.
Xót thương Chiến sĩ anh hùng,
Sa cơ đành chịu sống cùng bọn ngu !!!

Phân trại K-2, trại Thanh Phong
Huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. (*) Muối hột lớn bỏ vào nước đun sôi cho hoà tan để phát làm nước gia vị.

Tết Canh Thân 1980

Tết buồn giữa ḷng Trường Sơn

Xuân vẫn là Xuân, Ta vẫn Ta,
Khác chăng là ngoại cảnh rừng già.
Lăng xăng ngoài giậu, Công an đỏ,
Lặng lẽ trong rào, Cải tạo gia.
 Khỉ, cú, trẽn trơ nh́n nước đổ,
Anh hùng, sầu muộn nhớ thời qua.
Mưa Phùn gợi nỗi thương Dân tộc,
Gió Bấc khơi lo vận nước nhà!!
!

Phân trại K2, trại Thanh Phong, Huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Thu 1980

Giữa ḷng Trường Sơ
Gói ưu tư

Gió đưa nhẹ lá vàng rơi,
Nghiêng nghiêng nắng ngả bóng đời vào Thu.
Lom khom ven núi đoàn Tù,
Khua dao, múa cuốc, ngất ngư vạn sầu.
Gió sương hun bạc mái đầu,
Rừng hoang chặn lối, thấy đâu đường về.
Âm thầm ngày tháng lê thê,
Mây ngàn thăm thẳm bóng quê mịt mù.
Xuyên trời vụt bóng chim cu,
Làm sao gửi gói ưu tư nghẹn ngào ???

Phân trại K2, trại Thanh Phong, Huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

 

Xuân Tân Dậu 1981

Xớm hoán bù

Sửa đường xuyên xóm Hoán Bù,
Phùn
(1) giăng, Bấc (1) thổi mịt mù rừng hoang.
Xóm tranh mươi mái nghèo nàn,
Thành phần Đảng buộc bỏ làng đến đây.
Xưa kia Cố Nội theo Tây,
Thuộc ḍng “Tư sản” phải đầy cách Dân.
Bốn năm chuyển chỗ một lần,
Thâm sơn cùng cốc, trước gần sau xa.

Quần quây Nam, Nữ, Trẻ, Già,
Bên nhau cả họ tham gia cuốc cầy.
Thiếu nhi tuổi trẻ thơ ngây,
Gom phân, cắt cỏ hàng ngày định công.
Tuổi già sáu chục lưng c̣ng,
Trăn trâu, giữ trẻ, vợ chồng chia lo.
Sắn ngô độn bữa đói no,
Thân choàng áo đụp co ro cơ hàn.
Ốm đau, lá ngải
(2) xông than,
Mệnh chung, vùi xác nghiă trang bià rừng.
 Suy ra, cũng loại tập trung,
San bằng giai cấp ra nông nỗi này.
Sống nay chẳng biết đến mai,
Cuộc đời tăm tối nào ai thấu cùng.
Oán than dâng vọng Thiên Cung,
Hỡi Trời! Thấy cảnh năo nùng này chăng ???

Phân trại K1, Trại Thanh Phong, Huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Toàn Phân trại K-2 phát động đợt “Thi đua” đầu năm Tân Dậu, sửa đường cho xe hơi chạy, từ phân trại K-2 đi phân trại K-3 thuộc Trại Thanh Phong, Như Xuân, Thanh Hoá.

(1) Mưa Phùn là loại mưa hạt nhỏ nhẹ rơi liên tục lất phất bay theo gió như sương mù, gió Bấc là loại gió rất lạnh từ phương Bắc thổi xuống vào mùa Đông.

(2) Ngải Cứu là một loại thảo, mọc xen lẫn trong cỏ hoang, h́nh thù cây và mùi vị thơm hăng hắc giống như rau cúc, nhưng có chất nhựa rất đắng, thường được dân gian Việt Nam dùng làm một trong các vị thuốc Nam. Hoặc bỏ vào nước cùng với lá tre, lá bưởi, lá xả, cỏ mần trầu, đem đun sôi lên dùng làm thuốc xông cho đổ mồ hôi để trị bệnh cảm sốt. Hoặc đem xào nóng trên lửa, rồi cuộn trong miếng vải để chườm trên những nơi có thương tích bầm tím và đau nhức trên cơ thể. Hoặc bỏ vào chậu than đang đỏ rực, cho ngún cháy dần toả ra mùi thơm để lấn át các mùi hôi hám khác trong căn pḥng. Hoặc bằm nhỏ phơi khô, trộn chung với các vị lá thuốc khác bỏ vào nồi nước nấu lên để uống trị các bệnh về nội tạng...

 

Đêm 23-4-1982

Đêm cuối cùng giữa ḷng Trường Sơn

Bâng khuâng nh́n lửa bập bùng,
Đắng cay gửi lại núi rừng Trường Sơn.
Chia tay khe thẳm, thác nguồn,
Xa ĺa muỗi vắt, chim muông, khỉ già.
Quên đi ḷ gạch, đồi trà,
Mặc bầy ve núi reo ca nắng hè.
Nhớ chi nấm mối, măng tre,
Tiếc ǵ mộc nhĩ nấu chè thả sương.
Kệ cây sung mọc ven đường,
Gió rung, trái chín văi vương, kiến ṃ.
Suối trong nương náu cá, cua,
Tha hồ sinh sản cho c̣ kiếm ăn.
Chẳng c̣n đụng rắn, gặp trăn.
Sói lang, chồn cú lăng xăng ngoài rào.
Từ mai giă biệt vùng cao,
Đồng bằng rộng mở đón chào cố nhân !!!

Tâm sự bạn đồng sàng (*)

Thăm thẳm rừng khuya lửa bập bùng,
Màn Trời chiếu Đất, bạn đâu lưng.
Th́ thầm trao đổi niềm tâm sự,
Thoát nạn, đừng quên trách nhiệm chung.

Phân trại K1, trại Thanh Phong
Huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

(*) Trưa ngày 22-4-1982, vào giờ xuất trại lao động chiều, khoảng một trăm người thuộc Phân trại K2 được gọi tên chuyển trại (có 14 Đại Tá), được dồn vào ở trong khu cách ly làm thủ tục. Qua ngày hôm sau 23-4-1982, vào lúc xế chiều, Cán bộ áp tải đi bộ 5 cây số đường rừng rời K2, đến sẩm tối th́ tới K1. Mọi người cùng nằm ngủ qua đêm giữa sân “tập kết” của Phân trại K1 trại Thanh Phong, đợi sáng sớm hôm sau lên xe vận tải di chuyển đi trại khác.Vào lúc khuya, anh em Biệt kích bị giam tại K1 phụ trách phát cơm cho ăn đường, bí mật rỉ tai báo cho biết là gần sáng xe tải sẽ chở ra ga Thanh Hoá để lên tầu hoả Thống Nhất di chuyển về Miền Nam.

Ngày 24-4-1982

Hết lưu đày biệt xứ

Mây ngàn phủ kín thương đau,
Tưởng xa vĩnh viễn, ngờ đâu lại về.
Mừng ôi! Mắt lệ dầm dề,
Tim rung rộn ră đê mê sóng t́nh.
Tầu qua Bến Hải, Gio Linh,
Băng sông Thạch Hăn, đất B́nh Trị Thiên.
Long lanh bao ánh mắt hiền,
 Ngóng Tù cải tạo b́nh yên trở về.
Lưng cong, dựa mái tóc thề,
Trẻ thơ hớn hở, hương quê nồng nàn.
Nắng Hè vương gió Trường Sơn,
Ruộng đồng mầu mỡ, chứa chan t́nh người.
Giạt dào sóng rộn biển khơi,
Buồm trương thẳng cánh mây trời bao la.
Bàng hoàng như sống trong mơ,
Dịp may ập đến, bất ngờ, hân hoan !!!

Trên đoàn tầu Thống Nhất rời Thanh Hoá để trở về Miền Nam.Đoàn tầu rời ga Thanh Hoá vào khoảng 9 giờ tối ngày 23-4-1975, chạy liên tục suốt đêm và suốt ngày TE61Thôm sau 24-4-1975, đến khoảng quá nửa đêm th́ tới ga Gia Rai trong vùng Quận Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải, mọi người xuống tầu và được cán bộ áp tải tháo bỏ c̣ng xích tay hai người làm một, để tiếp nhau chất hành trang lên xe tải di chuyển vào Trại Z30C (trại Hàm Tân).

5-TIA SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM

Xuân tái ngộ miền Nam

Rừng Lá Hàm Tân mai nở vàng,
Đoàn Tù Chính trị vui ca vang.
Xuân qua đất Bắc, trời u ám,
Tết đến Miền Nam, nắng dịu dàng.
Việt Cộng vong nô hành khổ nhục,
Cộng Hoà chiến sĩ vẫn hiên ngang.
Trà Blao (1) nhấm nháp hương đoàn tụ,
Cẩm Lệ (2) ph́ phèo khói nạn tan.

Phân trại K1, trại Z30C, Quận Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải. (1) Trà sản xuất tại Blao tỉnh Lâm Đồng. (2) Thuốc lá sản xuất tại Cẩm Lệ tỉnh Thừa Thiên


Mùa Hè 1983
Nghĩa t́nh chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa

Sa cơ lao khổ bên nhau,
Nắng mưa chia sẻ nhịp cầu đắng cay.
Một mai thoát đại họa này,
Gặp nhau nâng chén mừng ngày Tự do.
Đấu tranh dựng lại cơ đồ,
Cho Dân tộc Việt ấm no thịnh cường.
Công bằng trải khắp quê hương.
Nhân quyền, Dân chủ, T́nh thương hài hoà.
Trẻ già mọi giới hoan ca,
Chung lưng bảo vệ sơn hà Việt Nam.
Đập tan Cộng đảng gian tham,
Trừ loài vong bản từng làm hại Dân.
Diệt phường ác quỷ vô thần,
Phục hưng luân lư, Đạo Nhân Lạc Hồng.

Phân trại K1, trại Z30C, Quận Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.

Mùa Hè 1984

Nhà kỷ luật Z30D

Được Ta (*), bầy muỗi hoan ca,
Đua nhau vồn vă ào ra đón chào.
Thi đua thưởng thức máu đào,
Vo ve khen vị ngọt ngào không tanh.
 Luân phiên hút suốt năm Canh,
Say sưa bội thực lăn kềnh ngay đơ.
Phần Ta, khua đập mệt phờ,
Trắng đêm không ngủ đợi chờ Rạng Đông.
Cổ chân kẹt cứng trong gông,
Ngồi lên nằm xuống, đau hông nhức ḿnh.
Vuốt râu cọp, chịu nhục h́nh,
Mới hay, Thù, Bạn, nhân t́nh khác nhau!!!

Phân trại K1, Trại Z30D (trại Thủ Đức),

Quận Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.

(*) Tác giả Nguyễn-Huy Hùng (Tù tập trung cải tạo thuộc Đội 23) công khai chống lại lệnh phi lư của tên Giám Thị Nhu (Bí thư Đảng bộ trại giam) trước đông đảo bạn tù Nam Nữ thuộc Phân trại K1 đang tắm tại bến phiá trên đập nước, nên đă bị bắt giam vào nhà kỷ luật phạt cùm một chân suốt 7 ngày 7 đêm liền. Sau đó c̣n bị cấm không cho nhận tiếp tế và gặp thân nhân đến thăm nuôi trong thời gian ba tháng.

 

Chiếu cố  Đội 23 ???

Quan tâm mấy Bác đội già,
Giao cho việc nhẹ phát bờ trồng rau.
Gây vườn đu đủ, giàn bầu,
Vườn tiêu, táo Thái, ớt trâu, chuối chà.
 Chia nhau thành Tổ chuyên lo,
Khâu phân sáng vét chuồng ḅ tập trung.
Xe về pha lẫn phân thùng
(2),
Trộn tro, bằm nhỏ cho cung hợp cầu.
Dạng chân, khâu đất dăi dầu,
Cuốc, ban, lên luống, cao sâu tùy thời.
Khâu reo, sẻ rănh đập tơi,
Chổng mông văi giống, cầu Trời đừng mưa.
Rau lên, tiả, giặm cho vừa.
Sới, vun, lặt cỏ, phun ngừa sâu ăn.
C̣ng lưng, khâu nước luôn chân,
Xuống, lên, bờ dốc, trăm lần chửa xong.
Đôi thùng nước trĩu đ̣n cong,
Tưới chưa kịp thấu hết ṿng đă khô.
Âm mưu thâm độc vô bờ,
 Đọa đầy vất vả gấp ba đội thường.
Sáng đi, trưa ở hiện trường
(3),
Tối về tới trại, đèn đường đă lên.
Mưu sâu phân cách dưới trên,
Ngăn ngừa hiểm họa tuyên truyền đàn em.
Đặt điều: -Tránh trẻ quấy phiền,
Những ngày Lễ nghỉ, đội nên ra ngoài.
Nhà Lô bên suối thảnh thơi,
Tha hồ nấu nướng, nh́n trời ngắm mây.
Bẫy chim, câu cá, ṃ trai,
Nuôi gà cải thiện hàng ngày khoẻ hơn.
Biết rằng xảo quyệt gian ngoan,
Phận tù vẫn phải hân hoan tri hành.
Đối đầu Giám Thị lưu manh,
Chuốc thêm khổ nạn, nên đành lặng thinh.
Thế thời đang lúc chuyển ḿnh,
Hoa Kỳ Việt Cộng điều đ́nh việc tha
(4)
,
Cho Tù chính trị về nhà,
Để cùng thân quyến đi ra nước ngoài.
Định cư dựng lại cuộc đời,
Thoát ṿng kiềm tỏa độc tài Cộng nô.

Phân trại K1, trại Z30D, Quận Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.

(1) Từ riêng Việt Cộng có nghiă như quan tâm đặc biệt ban cho ai một ơn huệ nào đó.
(2) Phân người, lấy từ các thùng chứa trong các Láng giam do tù thải ra ban đêm.
(3) Vùng đất quy định cho mỗi đội tù đến lao động hàng ngày.
(4) Tin tức do những người di tản hồi 30-4-1975 đang định cư tại Hoa Kỳ, gửi về thông báo cho thân nhân tù chính trị đang kẹt tại Việt Nam biết.

 

Ngày 18-1-1988

Cùng đường, ta vẫn là ta

Lũ lụt non sông nước đục ngầu,
Đỏ, Xanh, hoà lộn biến thành Nâu.
Vàng ṛng nung lửa càng tinh khiết,
Đen, Trắng, muôn đời vẫn khác nhau.

-o-o-o-

Thời gian chồng chất mái đầu,
Nắng mưa vương tóc ngả mầu muối tiêu.
Giang sơn tan tác tiêu điều,
Toàn dân cùng cực trăm chiều đắng cay,
Thề xưa vẫn nhớ đêm ngày,
Kiên tâm nhịn nhục bấy nay đợi chờ.
Nạn tan tái tạo thời cơ,
Mài gươm tiếp tục ước mơ thuở nào.
Chung vai sát cánh đồng bào,
Diệt bầy Quỷ Đỏ, trương cao cờ Vàng.
Cứu Dân Việt hết lầm than,
Nhân quyền Dân chủ hân hoan mọi nhà.

(Ngày 16-1-1988, tác giả Nguyễn-Huy Hùng bệnh nặng thổ ra huyết tại nhà thăm nuôi Phân trại K-1, được đưa vào Bệnh xá trại cấp cứu. Đến sáng ngày 17-1-1988 mới được xe của trại Z30D di tản đi Saigon, vào nằm Bệnh viện Điện Biên Phủ (Saint Paul cũ) để mổ mắt trái bị cườm không trông thấy đường từ hơn một năm về trước, và điều trị bệnh tim bỏ nhịp, xuất huyết bao tử. Được các bệnh nhân dân sự, cũng là thân nhân tù cải tạo, nằm cùng pḥng giúp đỡ che chở như người thân, nên cảm hứng làm mấy vần thơ trên đây.)

Mùa Xuân Bính Dần 1986

Tập đoàn xă hội chủ nghĩa dổi mới, mở cửa, cởi trói

 Tập quyền theo mẫu Liên Xô,
Chỉ huy kinh tế, bây giờ lao đao.
Mênh mông sóng hận dâng trào,
Căm thù sôi sục đồng bào đứng lên.
Gian manh muốn giữ vững quyền,
 Bầy tṛ “đổi mới” cho yên tạm thời.
Cùng loài Chồn, Cáo, đổi ngôi,
Một ḍng Lang, Sói, hại đời khác chi!
Tam Vô, bất nghiă, bất ngh́,
Mẹ Cha c̣n đấu, xá ǵ người dưng.
Thế thời căng, chẳng đặng đừng,
Phải liều “mở cửa” đón mừng Tây phương.
Liên Sô hăng hái mở đường,
Chạy theo Kinh tế Thị trường cứu nguy.
Tổng Linh
(1) học mót tức th́,
Hô hào “cởi trói” phóng đi theo Thầy
(2).
Yêu cầu đại chúng tiếp tay,
Vạch sai lầm, để Đảng thay chính quyền.
Rặc phường “ngoan cố” tự chuyên,
Gặp nguy, lừa lọc truyên truyền cho qua.
Hệt như miệng lưỡi Hồ già,
Lừa Dân hại Nước mới ra nỗi này.
Bao lần nhận lỗi, sửa sai,
Hứa nhăng hứa cuội, sửa hoài chẳng xong.
Nay c̣n chi nữa mà mong,
Công, Nông, Văn sĩ đồng ḷng đứng lên.
Quyết đ̣i Dân chủ Nhân quyền,
 Đ̣i thay chế độ Nhất Nguyên độc tài.
Ngày tàn hẳn đến nay mai,
Đảng liền đổi giọng lừa ngoài bịp trong.
Hoan hô hoà hợp Tây Đông,
Gia tăng xuất khẩu lao công kiếm tiền.
Bỏ khâu hợp tác (xă) độc quyền,
Cho Tư thương được tự nhiên hành nghề.
Kiều bào, quà gửi thoả thê,
Thân nhân nộp thuế lănh về bán buôn.
Chẳng cần suy tính thiệt hơn,
Miễn sao có, để sống c̣n th́ thôi.
Đang khi Việt Cộng bĩ thời,
Hoa Kỳ thương thuyết xét coi việc Tù.
Đổi trao theo luật bù trừ,
Thả Tù, Viện trợ, Đảng thu món hời.
Hoa Kỳ, Việt Cộng cùng vui,
Tiếng thơm nhân đạo t́nh người dội vang.
Chương tŕnh vui vẻ cả làng,
 Đoàn Tù Cải tao xốn xang đêm ngày.
Đợi tờ lệnh thả đến tay,
Gia đ́nh đoàn tụ dựng xây lại đời.

Phân trại K1, trại Z30D,
Quận Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.
(1) Nguyễn văn Linh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
(2) Gorbachev, Tổng Bí thư cuối cùng của Liên Bang Sô Viết Cộng sản.

 

6- NHÀ TÙ LỚN XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Sài G̣n ngày 15 tháng 2

 

Hết cải tạo (*)

Bệnh hoạn đem Ta khỏi trại tù,
Giă từ lang sói chốn âm u.
Cú, diều, khỉ đột tha hồ hú,
Suối, thác, mưa rừng mặc sức ru.
Thoát cảnh chim lồng đầy tử khí,
Nhập khung ốc đảo đặc quân thù.
Hết thời cải tạo vui đoàn tụ,
Nhấp chén ân t́nh say ngất ngư !!!

Đêm tự do sau 13 năm cải tạo.
(*) Tác giả NGUYỄN-HUY HÙNG đang nằm điều trị tại Bệnh viện Điện Biên Phủ từ ngày 17-1-1988. Bỗng dưng vào khoảng 3 giờ chiều ngày 15-2-1988, cán bộ Công an đi theo canh chừng suốt ngày đêm, đưa cho tờ Lệnh tha ra khỏi trại cải tạo, về đoàn tụ với gia đ́nh tại Tư gia số 206A, đường Lê văn Sĩ, Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon. Không c̣n là tù cải tạo, tác giả Nguyễn-Huy Hùng liền xin Bác sĩ điều trị cho xuất viện ngay để về nhà vào lúc 5 giờ chiều cùng ngày.

 

Mùa Thu Mậu Th́n 1988

Tự do xă hội chủ nghĩa

Ngoài nơi lao lư vẫn thân tù,
Báo Quận, tŕnh Thành, mệt ngất ngư.
Xê dịch xa nhà cần giấy phép,
Buôn bưng, bán lẻ, phải chi xu.
Đêm ngày ŕnh rập, dân cḥm xóm,
Năm tháng theo ḍ, mật vụ khu.
Độc Đảng độc quyền, Dân chủ nhỉ ???
Tam Vô chuyên chính, Tự do ư ???

Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon.

Tết Kỷ Tỵ 1989

Mừng sắp qua bỉ vận (*)

Kỷ Tỵ hân hoan đón Lục Tuần,
Cháu Con hớn hở chúc mừng Xuân.
Thế t́nh nghiêng ngửa, tâm bền vững,
Tạo hoá vần xoay, tuổi thọ lần.
Tổ Họ Nguyễn-Huy, ḍng Nghiă Sĩ,
Quê Cha Phù Đổng, đất Linh Thần.
Sắp qua bĩ vận đời thay đổi,
Sẽ tới vượng thời tái lập thân
.

Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon.

(*) Đầu năm 1989, sau khi đă thoả thuận với Hoa Kỳ, nhà nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam ra quyết định thông báo cho các tù cải tạo trên 3 năm đă được tha về đoàn tụ với vợ con, được nộp hồ sơ xin cùng gia đ́nh đi định cư vĩnh viễn tại một quốc gia nào đó ngoài đất nước Việt Nam, theo Chương tŕnh Nhân đạo H.O. (Humanitarian Operation).

 

Mùa Thu Kỷ Tỵ 1989

Nhà nước chiếu cố !!!

Nay Phường, mai Quận ghé thăm,
Ân cần dọ hỏi, ăn làm ra sao?
Xuân, Thu, thêm cán cấp cao,
Trên Thành (1), ngoài Bộ (2), cũng vào viếng chơi.
Ngọt ngào khuyên dụ đủ lời,
Tuổi cao cần phải nghỉ ngơi dưỡng già.
Bắc Nam nay đă một nhà,
Đảng đang “đổi mới” quốc gia thịnh cường.
Ra đi sống kiếp tha phương,
Thân già lận đận gió sương xứ người.
Tránh sao khỏi phận tôi đ̣i,
Làm thuê vất vả để nuôi thân già.
Chi bằng ở lại quê nhà,
Xin con “di tản” cấp cho tiền xài.
Thân già sung sướng như Trời,
Bôn ba thêm mệt cuộc đời ích chi.
Ậm ờ cho quỷ khỏi nghi,
Đợi tờ Hộ Chiếu, quyết đi nước ngoài.
Cho con cháu có tương lai,
Cho ḿnh chuẩn bị một mai trở về.
Diệt bầy Cộng, dựng lại quê,
Cho Dân Tộc được mọi bề Tự do.
Sống trong hạnh phúc ấm no,
Nhân quyền, Dân chủ, nở hoa sáng ngời.

Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon. (1) Cán bộ đại diện Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. (2) Cán bộ đại diện Bộ Công An của nhà nước tại Hà nội.


Đêm giao thừa 21-1-1990 Canh Ngọ

Mỏi mắt chờ hộ chiếu xuất cảnh

Mỗi năm Xuân đến mắt thêm ḷa,
Sương gió cuộc đời khắc nếp da.
Thời Tiết tới kỳ chồi vẫn nẩy,
Thiên nhiên biến hóa lá c̣n ra.
Ṿng xoay năm tháng, mơ dang dở,
Luân chuyển đêm ngày, mộng lướt qua.
Thế giới chuyển ḿnh hừng khí thế
(*)
,
Sáu mươi mốt tuổi hẳn chưa già !
!!

Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon. (*) Liên bang Sô Viết Cộng sản sau thời gian đổi mới, đang bị phân hoá để tan ră. Cũng trong thời gian này, đúng ngày cuối năm âm lịch Kỷ Tỵ, gia đ́nh tác giả Nguyễn-Huy Hùng nhận được Hộ Chiếu do Nhà nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghiă Việt Nam cấp cho đi định cư vĩnh viễn tại Hoa Kỳ. Nhận được Hộ chiếu rồi, c̣n phải chờ Đại diện Hoa Kỳ tại Saigon gọi đến phỏng vấn để xét và quyết định có chấp thuận cho đi hay không.

 

Mùa Thu Tân Mùi 1991

Hoài cố nhân

Thượng Tọa Thanh Long(*) đă măn phần,
Khuôn Thiền Giác Ngạn vắng Hiền quân.
Bốn Mùa khổ hạnh xây công đức,
Tám Tiết tu thân diệt Lục Trần.
Dứt kiếp luân hồi về cơi Phật,
Lià thân cát bụi hết trầm luân.
Danh thơm Đạo đức lưu muôn thuở,
Gương sáng Từ bi rạng Thế nhân.

Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon.

(*) Thượng Tọa Thích Thanh Long, trước 30-4-1975 là Giám đốc Nha Tuyên úy Phật Giáo Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Ngàøi thân quen với tác giả Nguyễn-Huy Hùng từ hồi c̣n làm Tuyên úy tại Bộ Tư lệnh Địa phương quân và Nghiă quân từ năm 1965 đến 1967. Ngài cũng phải đi cải tạo 12 năm, giữa năm 1987 mới được tha về cư trú tại Chùa Giác Ngạn do chính Ngài đă có công xây dựng lên từ trước năm 1975. Sau bao năm tháng tù đầy, Ngài suy yếu bệnh hoạn đến khoảng giữa tháng 10 năm Tân Mùi 1991 th́ qua đời, nhục thể được hoả táng ngày 20 tháng 10 năm Tân Mùi 1991 và lưu tại tháp thờ xây ngay trong phiá phải sân Chùa Giác Ngạn.

Câu đối Tết

Nhâm Thân đến, ṭan Thế Giới chan ḥa hương vận mới.
Chúa Xuân về, khắp Năm Châu rực rở ánh vinh quang.

Tết Nhâm Thân ngày 4-2-1992

Xuân hân hoan
 

Mai vàng xoè cánh đón Nhâm Thân,
Pháo đỏ reo vang rước Hỷ Thần.
Xuân lộc dạt dào hương nhựa sống,
Không gian chan chứa ánh kim ngân.
Đông Tây
(1) hoà hiệp xây Dân chủ,
Nam Bắc
(2) tương giao tạo hợp quần.
Trời Đất xoay vần qua vận mới,
Đại gia đoàn tụ hội Long Vân
(3).

Phường 10, quận Phú Nhuận, Saigon.

(1) Liên Bang Sô Viết Cộng sản tan ră để thành lập Liên Bang Nga, các nước Cộng sản Đông Âu cũng bỏ chế độ Cộng sản, đổi h́nh thức sinh hoạt chính trị theo chế độ Tự do Dân chủ Tư bản của Liên Bang Hoa Kỳ và các nước Tây Âu.
(2) Khu kinh tế Bắc Bán Cầu gồm các nước giầu có nền kinh tế phát triển hiện đại, và Khu kinh tế Nam Bán Cầu gồm các nước nghèo chậm tiến mới đang bắt đầu phát triển.
(3) Hội Rồng Mây theo các Cụ xưa dùng để miêu tả trạng thái hạnh phúc vui sướng tột đỉnh của trường hợp thành đạt vẻ vang cao sang trong xă hội.

 

Sáng ngày 5-8-1992

Giả biệt nhà tù lớn xă hội chủ nghĩa Việt Nam

Bỏ nước ra đi dạ vấn vương,
Cộng nô kỳ thị phải lên đường.
Thương Dân lận đận đầy oan nghiệt,
Xót Bạn lao đao nặng đoạn trường.
Hạnh phúc Tự do hừng Thế giới,
Khổ đau kềm kẹp phủ Quê hương.
Lưu vong quyết tạo thời cơ mới,
Trở lại cùng Dân diệt bạo cường.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

B́nh minhThu Nhâm Thân 5-8-1992.


Ảnh chụp cả gia đ́nh đón Tết Kỷ Tỵ ngày 6-2-1989 tại nhà riêng số 206 A , Quận Phú Nhuận, Saigon.

****

-Nguyễn Huy Hùng

 

 

 

 

 

PHIÊN T̉A LONG AN

(Thân mến gởi về  Đồng Bào Việt Nam mọi giới, mọi lứa tuổi - nhất là Tuổi Trẻ. Riêng cho đảng tà quyền Việt cộng)

 

Năm Mười Ba, tháng Năm, ngày Mười Sáu
Thêm một vết nhơ trên mặt ác quyền !
Cộng sản Việt Nam diệt người tranh đấu
Đuổi cộng Tàu, đ̣i rừng đảo ranh biên 

Kẻ bán nước xử tù người giữ nước
Hỏi phiên ṭa nào nghịch lư thế không ?
Đảng Việt cộng đớn hèn nhưng bạo ngược
Đă dâng Tàu cơ nghiệp của Cha Ông ...

Nên kết tội những người con tổ quốc
Khi họ hiên ngang dũng cảm chống Tàu
V́ sợ lộ tội tày trời: BÁN NƯỚC
Tội xô giống ṇi xuống đáy vực sâu !

Phản tổ quốc và tôn thờ Tàu cộng
Dâng Chệt núi sông, đàn áp dân nhà
Đảng, chính đảng, kẻ tội đồ dân tộc
Làm mất chủ quyền, danh dự nước ta !

Năm Mười Ba, tháng Năm, ngày Mười Sáu
Ngày nước Việt Nam rơ mặt tà quyền
Ngày Đinh Nguyên Kha giữa ṭa, chiến đấu
Ngày vung kiếm thần của Nguyễn Phương Uyên

Đừng nghĩ Long An: phiên ṭa tỉnh lẻ
Và cấm người là người sẽ mù tin
Hăy nhớ năm châu đang cùng tuổi trẻ
Và công bằng, thế giới đă trong tim

Phiên ṭa Long An là ṿng nguyệt quế
Là hào quang cho Lớp Trẻ Anh Hùng
Cho Việt Nam rạng ngời trong bốn bể
Cho cờ Vàng rực rỡ khắp non sông

V́ bản án đă là tờ tự thú
Của bọn tội đồ bán nước giết dân
Chính bản án là những ng̣i nguyên tử
Sẽ nổ tung chôn chế độ vô thần !

 

  -Ngô Minh Hằng (thơ)