Nguyễn Huy Hùng                                   

 


Nguyễn-Huy Hùng (ảnh chụp đầu tháng 4-2008)

 

@@@

 

 

Những chuyện sau 30-4-1975 không thế nào quên được,

 

RẬP KHUÔN THEO QUAN THẦY LIÊN XÔ,

VIỆT CỘNG CŨNG ĐỔI MỚI, CỞI TRÓI, MỞ

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

 

Song song với việc khởi công nới rộng hồ tích nước làm Đập Thủy Điện, Phân trại K1 Z30D dựng thêm một căn “Nhà Bát Giác” làm Thư viện nơi góc sân tập kết ngay trước lối vào Bệnh xá gần trạm kiểm soát bên cổng lớn Khu giam, để chiều chiều trong thời gian chờ kiểm danh vào pḥng giam Tù Nam Tù Nữ được phép “tranh thủ” ghé lại đọc báo hoặc mượn sách về đọc tại pḥng giam trong những ngày giờ nghỉ.
Thư viện cũng được dùng làm trạm thông tin loan báo các tin tức sinh hoạt của trại và khuếch âm loan truyền tin tức của đài phát thanh Nhà Nước cho Tù biết về các sinh hoạt đang xẩy ra trên nước Việt Nam Xă hội Chủ nghĩa. Nhờ thế mới biết, năm 1986 Gorbachev Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô chủ trương “đổi mới” để cứu văn t́nh thế suy xụp của Liên Bang Xô Viết. Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đưa ra khẩu hiệu “đổi mới” và bầu Nguyễn văn Linh đang là Bí Thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, người có chủ trương “cởi mở” vào chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng.


Sau khi nắm quyền được ít lâu, trong một cuộc họp với gần 100 văn nghệ sĩ, Tổng Bí Thư Nguyễn văn Linh tuyên bố “cởi trói văn nghệ” khuyến khích họ viết sự thật để xây dựng củng cố Chế độ và đất nước trong thời b́nh. Chính Nguyễn văn Linh đă tiên phong nêu gương viết một loạt bài “Những việc cần làm ngay” với bút hiệu viết tắt NVL đăng trên các báo của Nhà Nước. Hai điểm chính ghi nhận là:

-1. Đả kích các khuyết điểm của Chính quyền.

-2. Chủ trương băi bỏ việc xét lư lịch các học sinh vào Đại học, mở đường cho học sinh ưu tú con em của các Viên chức Quân nhân chế độ cũ Việt Nam Cộng Hoà và con em thành phần Tư sản tại miền Nam được nhận vào các trường Đại học.
Rút kinh nghiệm bài học vụ Nhân Văn Giai Phẩm, một thiểu số văn nghệ sĩ có Đảng tịch kỳ cựu đă uống thuốc liều dùng lời lẽ và hành động của các nhân vật trong truyện của ḿnh
 để đưa ra những phê b́nh gắt gao đường lối lănh đạo sai trái của chính quyền và sự tha hoá của các cấp Lănh đạo. Nhóm đa số bảo thủ trong Đảng không chịu, chỉ trích đ̣i trừng phạt nặng nề tác giả các tác phẩm loại “cởi trói” này. V́ thế vừa “cởi trói” chưa được bao lâu, Nguyễn văn Linh phải “xét lại” và ra lệnh “trói lại” chặt chẽ hơn.

Thân nhân “thăm nuôi” Tù cho biết, nhiều sách báo ngoại ngữ được đưa vào trong nước bằng bưu kiện công khai hoặc lén lút trong các thùng quà tiết lộ nhiều tin tức rất lạc quan về một chương tŕnh tái định cư quy mô trên đất nước Hoa Kỳ cho các Tù nhân chính trị miền Nam cùng gia đ́nh vợ con ra đi cùng một lượt:

-Nào là Tướng Vessy được đề cử đại diện Tổng Thống Hoa Kỳ tiếp xúc thường xuyên với Chính quyền Cộng sản tại Hà Nội để hoàn tất chương tŕnh nhân đạo giải quyết nhanh chóng cho các Tù Chính trị miền Nam và Vợ Con sang định cư tại Hoa Kỳ.

Nào là Căn cứ quân sự của Sư đoàn Hoa Kỳ tại Hawaii đang được trùng tu gấp để làm nơi cư trú tạm cho Tù Chính trị miền Nam và gia đ́nh tạm trú trong khi hoàn tất các thủ tục hành chánh cần thiết trước khi đưa vào định cư chính thức tại các Tiểu Bang trên Lục địa Hoa Kỳ.

-Nào là mỗi gia đ́nh Tù nhân chính trị sang định cư sẽ được cấp nhà ở, giúp cho có công ăn việc làm, con được giúp cho tiếp tục học các chương tŕnh văn hoá kỹ thuật theo ước muốn, và mỗi tù nhân chính trị sẽ được lănh một số tiền bồi thường cho thời gian bị giam cầm...

Trong khi những tin tức này được đồn đăi, Chính quyền Cộng sản Việt Nam cũng cấp Hộ Chiếu cho một số Tù Chính trị đă được thả ra trong những năm vừa qua có Vợ Con đang ở Pháp, ở Úc bảo lănh đi định cư theo diện đoàn tụ gia đ́nh. Một số khác có Vợ Con đang định cư tại Hoa Kỳ được cho xuất cảnh theo “chương tŕnh bảo lănh ra đi trong ṿng trật tự” (Orderly Departure Program)...

Ngoài cái “Quán Bát Giác” dùng làm Thư viện và trạm Thông tin được dựng lên bên trong cổng trại giam, Phân trại K1 c̣n xây dựng một Câu Lạc Bộ mới rộng răi khang trang ngay bên đầu cầu Đập nước. Mặt tiền Câu Lạc Bộ có một vườn hoa trang trí rất mỹ thuật, điểm thêm 2 nhà lồng nhốt một con khỉ và một con công mầu sắc sặc sỡ.
Câu Lạc Bộ là một toà nhà vách gỗ mái tôn, bên trong phân chia ra nhiều phần phục dịch riêng biệt ngăn nắp, hoạt động suốt 24 giờ trong ngày kể cả ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ lớn. Có pḥng ăn uống rộng trông ra cảnh đập nước bầy biện những chiếc bàn thấp (vuông, tṛn) với những ghế tựa như trong các “quán bia ôm” nơi thành thị. Có quầy bán thức ăn nóng, cà phê, trà, nước ngọt, và một loại nước trái cây để lên men nhẹ đóng trong chai giống như bia. Có các kệ trưng bầy bán các thực phẩm khô (ḿ ăn liền, bún khô, ḿ vắt, sữa, bánh, kẹo, bàn chải, thuốc đánh răng, sà bông thơm, thuốc hút...). Có pḥng hớt tóc cho đàn ông, chỉ c̣n thiếu pḥng uốn tóc sửa sắc đẹp cho phụ nữ mà thôi.

Câu Lạc Bộ được thành lập để phục vụ cho thân nhân đến “thăm nuôi” xử dụng trong thời gian buổi trưa đợi gặp Tù vào đầu giờ lao động chiều. Những trường hợp được ở lại thăm qua đêm, vợ chồng con cái Tù cũng được phép dắt nhau tới Câu Lạc Bộ mua thực phẩm ăn uống ngồi chơi chuyện tṛ ngắm cảnh Đập nước và chụp h́nh kỷ niệm nếu muốn. Các Cán bộ phục vụ trong Trại giam cũng được tới lui xử dụng Câu Lạc Bộ thong thả như mọi người nếu muốn và có đủ tiền để chi.

Ngoài ra, Tù Nam Tù Nữ cũng được phép “đăng kư” ra Câu Lạc Bộ vào buổi tối từ 7 đến 10 giờ, mua nước giải khát chè hủ tiếu… ngồi ăn uống thủ thỉ chuyện gẫu với nhau thoải mái, theo lịch tŕnh Trại quy định trước. Những buổi như vậy lệnh được loan báo qua loa phóng thanh của Thư viện, Tù nào muốn đi th́ giắt nhau đến tập trung bên “Quán Bát Giác” ngay bên cạnh cổng ra vào khu giam,  Cán bộ phụ trách sẽ đếm đầu rồi dẫn ra Câu Lạc Bộ và dẫn trở về khu giam theo giờ đă ấn định. Đây là phương cách làm “kinh tế” theo sáng kiến của “Ban” Nhu (Giám Thị, Bí thư Đảng ủy) nhằm mục đích thâu “lợi nhuận” dành cho quỹ “Phúc Lợi” của Cán bộ Trại giam.


Để trang trải mọi chi tiêu tại Câu  lạc bộ, Tù chỉ việc tŕnh tờ biên nhận tiền do gia đ́nh đến “thăm nuôi đă cho tù bằng cách nộp cho Cán bộ phụ trách lúc măn giờ thăm nuôi, v́ Tù không được giữ tiền mặt phải nộp cho Trại đổi lấy giấy biên nhận theo h́nh thức chứng phiếu. Mỗi lần mua hàng tại Câu Lạc Bộ, Cán bộ phụ trách ghi trừ bớt đi số tiền đă chi tiêu.


Đội chúng tôi cũng có vài Bạn “đăng kư” ra giải trí buổi tối tại Câu Lạc Bộ thử một đôi lần. Riêng tôi khả năng tài chánh gia đ́nh cho rất hạn chế nên không bao giờ nghĩ tới, những cũng đă ra có một lần duy nhất vào ngày Chủ Nhật vào dịp “Ban” Nhu cho lệnh Quản Giáo dẫn cả Đội ra “tham quan” khai trương Câu Lạc Bộ. Ngày hôm đó “Ban” Nhu ngồi cùng bàn với chúng tôi nói chuyện về các kế hoạch “làm ăn kinh tế” của Trại, và hỏi thăm về kinh nghiệm hoạt động kinh tế của phe Tư bản xem có điều ǵ hay sẽ đem áp dụng. “Ban” Nhu gọi Cán bộ phụ trách và các Tù Nữ làm chiêu đăi viên tại Câu Lạc Bộ săn đón phục vụ cà phê, nước ngọt, bánh quy, đậu phộng rang... cho chúng tôi dùng không phải trả tiền, y như đối xử với khách thân t́nh riêng của “Ban” Nhu chớ không phải Tù.


Sau buổi tiếp đăi tại Câu Lạc Bộ, Đội chúng tôi được “Ban” Nhu dẫn đi “tham quan” Khu Nhà Thăm Nuôi mới cách Câu Lạc Bộ khoảng 500 mét, cũng ở ngay bên bờ Nam con sông về phía hạ lưu Đập Thủy Điện.


Rời Câu Lạc Bộ bên đầu cầu Đập nước, chúng tôi đi suôi theo con đường kè đá dọc ven sông có hàng cây mới trồng để tạo bóng mát dài khoảng 300 mét, tới khúc sông lượn cong ṿng như bụng chữ S thấy có neo một nhà gỗ kiến trúc rất đẹp trên chiếc phao nổi, h́nh thù giống như một chiếc du thuyền sang trọng mũi quay về hướng thượng nguồn. Từ trên bờ cao muốn xuống phải dùng cả chục bậc thang đá uốn khúc giữa hàng cây bên bờ sông, rồi bước qua một cầu gỗ rộng 1 mét dài 2 mét có tay vịn 2 bên.

Bên trong nhà phân chia ra nhiều pḥng tiếp cận nhau rất ngăn nắp đầy đủ tiện nghi, tất cả đồ đạc đều bằng gỗ quư (cẩm lai, vàng tâm, gơ) do Tù đốn ở rừng sát bên đất trại về thực hiện. Thoạt bước vào là pḥng khách, tiếp sau là pḥng ăn, bên phải là bếp, pḥng vệ sinh, bên trái là các pḥng ngủ. Dọc hông phao phía ngoài pḥng ăn và pḥng ngủ nh́n ra giữa ḍng sông là một khoảng lan can rộng có mái che để ngồi ngắm cảnh giải khát câu cá, và phía cuối lan can có mấy bậc thang để leo lên tụt xuống sông bơi tắm.

Trong khi “tham quan”, “Ban” Nhu hỏi: “-Các Bác thấy sao? Đây là nơi các Bác sẽ được xử dụng tiếp gia đ́nh trong thời gian “thăm nuôi” có được không?” Không ai nói ǵ, Tôi cười đáp lời: “-Thưa Ban sang trọng quá chẳng khác nào Ngự Thuyền trên sông Hương nơi Cố đô Huế thuở xưa vậy.”

 
Trong suốt thời gian chưa được tha, anh em trong Đội chúng tôi có gia đ́nh đến xin “thăm nuôi” nhiều lần được ở lại qua đêm, nhưng chưa bao giờ chúng tôi được dùng căn nhà nổi này. V́ nó được dành để tiếp đón các đoàn khách Nhà Nước thuộc hàng ít quan trọng “tham quan” Trại giam. Các đoàn khách quan trọng được đón tiếp lưu trú trên toà Nhà Thủy Tạ, dựng giữa hồ Đập Thủy Điện nơi gần biệt thự riêng của “Ban” Nhu, sang trọng và lớn gấp 3 căn nhà nổi neo tại đầu khu Vườn Tao Ngộ này. Từ bờ hồ ra toà Nhà Thủy Tạ là một cây cầu gỗ, kiến trúc và sơn y hệt kiểu cầu Thê Húc ra đền Ngọc Sơn tại Hồ Hoàn Kiếm giữa Thủ đô Hà Nội, và dọc ven bờ hồ nước có các bồn bông cây cảnh với con đường kè đá trông rất thơ mộng đẹp mắt.
Rời căn nhà nổi, chúng tôi đặt chân vào điểm khởi đầu hướng Đông của khu Vườn Tao Ngộ h́nh bầu dục nằm giữa 3 kiến trúc dựng lên theo thế chân vạc. B́a ṿng cung bên phải là ḍng sông có 2 khu nhà cách nhau khoảng 200 mét. Khu ngay gần căn nhà nổi gồm một dẫy nhà 5 gian dùng làm hội trường thăm gặp giữa Tù và thân nhân, và 1 căn nhà 3 gian đặt văn pḥng cùng nơi cư trú thường xuyên của Cán bộ phụ trách điều hành công tác “thăm nuôi” và bạn “Tù tự giác” phụ việc. Tiếp theo là một con đường nhỏ chạy dài cả trăm mét dưới giàn nho dẫn tới Khu 3 dẫy nhà ngủ dành cho Tù và thân nhân cư trú qua đêm. Con đường được đắp với mục đích biến ḥn đảo nằm giữa ḍng sông có các dẫy nhà ngủ trở thành dải đất liền vào bờ phía Nam. Giống nho đang leo trên giàn nho là của thân nhân bạn Tù phụ trách lái xe chuyên trở gia đ́nh “thăm nuôi” từ “trạm đăng kư” ngoài đường Quốc lộ vào Khu Thăm Nuôi, ương nhánh và đem từ quê miền Phan Rang đến tặng cho Trại để trồng. Bià ṿng cung bên trái là ruộng mía, nơi đầu ruộng phía gần Đập Thủy Điện có Xưởng sản xuất đồ gỗ, xưởng xẻ cây thành ván và nhà ở của anh em Tù Đội Mộc chia thành “kíp” làm việc “thông tầm” suốt ngày đêm. Phía sau ruộng mía chừng nửa cây số là Khu tập trung các nhà giam Tù thuộc Phân trại K1.


Khoảng chính giữa điểm ṿng cung sát bên ruộng mía là một dẫy nhà khách cao to rất đẹp, kiến trúc theo kiểu Nhà Ṛng của Sắc tộc Thượng miền Cao nguyên Trung phần Việt Nam, đây là nơi Ban Giám Thị Trại tiếp đăi các đoàn khách tham quan Trại giam. Khu chính giữa Vườn Tao Ngộ là một công viên có nhiều đường nhỏ trải đá đi ṿng quanh những bồn hoa cây kiểng, và một ḥn non bộ với tượng đài lập thể xừng xững như Ḥn Vọng Phu. Thật là một công viên lạ mắt chưa từng thấy trên các nẻo đường Việt Nam, Âu, Á, Phi, Mỹ, Trung Đông mà Tôi đă từng có dịp đi qua trước đây.

Từ ngày anh Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh được chỉ định làm Đội trưởng, anh em cảm thấy thoải mái hơn nên gắn bó bên nhau cố gắng chu toàn công tác trồng rau, ớt, bầu và đu đủ đạt kết quả “thâu hoạch” rất cao. “Ban” Nhu tỏ vẻ hài ḷng nên “đổi mới” hẳn thái độ cư xử với chúng tôi, lời nói và cử chỉ lúc nào cũng nhẹ nhàng lịch sự đối với anh em trước mặt mọi người. Các Cán bộ cấp nhỏ thấy thế cũng noi theo không c̣n xấc lấc kênh kiệu kỳ thị như trước.


Nhưng để cô lập dễ kiểm soát chúng tôi kỹ càng hơn nữa, ngoài việc bắt Đội ở ngoài “hiện trường lao động” suốt ngày thường và những ngày nghỉ lễ, “Ban” Nhu c̣n cho sửa sang lại căn pḥng ăn phía gần hàng rào thuộc dẫy nhà đầu bên Khu giam Tù Nam để biến thành pḥng giam riêng cho Đội chúng tôi, thay v́ giam chung trong pḥng giam lớn với Đội khác như từ trước tới nay. Căn pḥng giam mới này có một cửa ra vào và 4 cửa sổ được ráp cánh cửa gỗ kiểu lá sách xiên xiên để thông hơi che nắng cản mưa gió lùa tạt trong mùa mưa băo, và dĩ nhiên có gắn song sắt nơi các khung cửa sổ. Một pḥng vệ sinh rộng 1 mét vuông được xây nơi góc pḥng để anh em tiểu đại tiện ban đêm. Một kệ gỗ dài 2 tầng kê dọc tường chia cho mỗi người một ngăn để xếp tư trang và đồ tiếp tế riêng. Những người có nhiều đồ quá, một ngăn nhỏ không đủ phải xếp đầy ngay cả phía dưới gầm giường nằm của ḿnh hoặc đem ra cất tại Nhà Lô của Đội để tiêu thụ dần hàng ngày. Trong pḥng giam này, mỗi người được nằm một giường gỗ riêng rộng 70 phân dài 2 mét. “Mặt bằng” trong pḥng không đủ chỗ kê giường đơn cho tất cả mọi người, phải kê thêm 2 chiếc giường 2 tầng cho 4 người. Riêng 2 anh Đại tá Tô văn Vân và Dương hiếu Nghĩa được coi là “Tù tự giác” của Đội, được đặc biệt ăn ở ngày đêm tại Nhà Lô bên “hiện trường lao động”
của Đội ở bên bờ suối ngay phiá bên kia bờ sông đối diện với khu nhà thăm nuôi, để phụ với Quản Giáo Đội ngày đêm canh chừng dụng cụ và hoa mầu chưa “thu hoạch”.


Chúng tôi phải dọn sang nơi giam mới này vào một ngày Chủ nhật cả trại nghỉ lao động. Buổi chiều cùng ngày, lúc anh em vừa chia nhau ổn định xong chỗ nằm th́ thấy “Ban” Nhu ghé thăm. “Ban” đứng ngoài cửa sổ song sắt nh́n vào lên tiếng: “-Thu xếp để các Bác ở đây cho được riêng rẽ thoải mái hơn. Đối với các Bác không cần phải đặt các song sắt ở cửa như thế này, nhưng v́ quy luật trại giam do Nhà nước quy định nên không thể biến chế được. Từ nay các Bác không phải xếp hàng kiểm danh vào pḥng giam buổi tối như các Đội khác nữa cứ ở ngoài sân chơi thoải mái. Bác nào không ngủ sớm có thể sang Nhà Họp ở phía bên hông Khu để xem Ti Vi đến hết chương tŕnh th́ về, lúc đó Cán bộ Trực Trại mới đến khoá pḥng cho các Bác ngủ qua đêm được an toàn.”

Nhà Lô hiện tại bên hiện trường lao động của Đội chúng tôi thấp nhỏ chỉ có 1 gian 1 trái, sát ngay bên bờ sông đối diện với Khu Nhà Thăm Nuôi mới, nên Quản giáo Đội phải nằm nhờ bên Nhà Lô của Đội Nuôi Gà gần đó để cho 2 anh Vân và Nghiă nằm tại Nhà Lô của Đội. V́ thế “Ban” Nhu cho xây dựng một Nhà Lô mới 3 gian rộng răi lợp tranh, nền đất đắp cao ráo có sân rộng chung quanh. Sân trước lập vườn bông, sân sau cất nhà bếp, trông chẳng khác nào một biệt thự tư nhân nơi đồng quê miền Nam trước 30-4-1975. Căn giữa Nhà Lô kê mấy chiếc bàn dài có ghế 2 bên để vừa dùng làm nơi tiếp khách, họp Đội, và nhà ăn của anh em. Căn bên trái có một dẫy xạp ngủ để anh em nghỉ trưa. Căn bên phải, nửa phía sau là pḥng ngủ của Cán bộ Quản Giáo, nửa trước là kho cất dụng cụ của Đội.

 
Khi dẫy nhà được dựng xong, chúng tôi phải san bằng đất làm sân trước, sân sau, vườn bông, và đường đi. Lúc đang làm “Ban” Nhu ghé “tham quan” vui vẻ lên tiếng hỏi: “-Mai mốt được ra về hết, các Bác có nhớ căn nhà này không?” Anh em đồng thanh trả lời: “-Thưa “Ban” nhớ chứ, quên sao được.” Quan sát thấy vẻ mặt “Ban” không hứng thú lắm với câu trả lời gọn lỏn này. Tôi lên tiếng góp chuyện: “-Thưa Ban, căn nhà chỉ là vật chất nó sẽ lụi tàn theo thời gian có ǵ mà đáng nhớ. Có nhớ chăng là nhớ người có sáng kiến xây dựng lên căn nhà này.” Ban Nhu tươi hẳn nét mặt cười không ra tiếng nói tiếp: “-Có đất rộng răi, các Bác có thể nuôi gà đẻ trứng, trồng thêm các loại rau đậu mà tăng cường chất tươi hàng ngày “bồi dưỡng” cho nó mát ruột.”
Kể từ hôm ấy trở đi, trong Đội có vài người “tranh thủ” trồng một vạt rau riêng nho nhỏ. Anh Sáu Đội phó và Tôi cũng trồng một khoảnh có lẫn lộn mồng tơi, đay, xả, bạc hà, và rau răm dọc bên ven đường ngay đầu dốc xuống bến sông gần Nhà Lô cũ của Đội. Chúng tôi c̣n làm một hốc cát nhỏ chuyên ủ đậu xanh làm mộng giá để dùng vào nhu cầu đổ bánh xèo bánh quai vạc ăn vào những ngày Chúa Nhật. Mỗi lần gia đ́nh đến “thăm nuôi” ở qua đêm, cũng được phép đem gà vịt sống vào làm thịt cho Tù ăn “bồi dưỡng”.
Gia đ́nh đi “thăm nuôi” cho biết, thường trên đường đi từ Thành phố Saigon lên trại giam bao giờ tài xế xe lô cũng ngừng giải lao đôi chục phút tại Chợ Ông Đồn, để bà con ăn uống mua thêm các món tươi đem đi “thăm nuôi”. Đặc biệt thịt heo, gà vịt sống, và trái cây ở chợ địa phương này bán rất rẻ so với Saigon. Lần nào đi thăm Tôi, gia đ́nh cũng mua vài ba con gà gị đem vào làm thịt luộc ăn ngay và kho để ăn dần sau “thăm nuôi”. Mỗi lần như vậy Tôi đều giữ lại 1 con không ăn để nuôi thả quanh Nhà Lô, chờ tới lứa gà đẻ lấy trứng tươi ăn dần. Một năm sau, Tôi đă trở thành anh Tù tiểu tư sản của Đội 23 có tới 3 con gà đẻ trứng tươi ăn hàng ngày.


Tôi làm một truồng nhỏ sát phía sau nhà bếp để làm nơi trú ẩn cho gà ban đêm. Mấy con gà Tôi nuôi rất khôn và rạn người, cả ngày chúng chỉ loanh quanh bên Nhà Lô không đi đâu xa. Hàng ngày cứ tới giờ giải lao giữa buổi lao động sáng và chiều, chúng dắt nhau ra quanh quẩn nơi đầu dốc ở bến sông lên đợi gặp Tôi phân phát quà giun vàø sâu đất bắt trong các luống rau. Trong khi chúng ăn, Tôi đưa tay vuốt lưng hết con này đến con kia y như vuốt lưng nựng mèo nựng chó vậy mà chúng không sợ không bỏ chạy.

Có một lần “Ban” Nhu dẫn đoàn Thanh tra Trung Ương ghé thăm Đội vào đúng giờ nghỉ giải lao giữa buổi lao động sáng. Thấy cảnh mấy con gà quấn quưt bên Tôi như vậy họ cười nói với nhau có vẻ hănh diện thoả măn, chắc họ ngỡ rằng nhờ Chính sách Lao động Cải tạo Tư tưởng của họ đă thành công lớn là đă biến được các Đại Tá Việt Nam Cộng hoà trở thành người lao động Xă hội Chủ nghĩa như họ mong muốn.

Thấy vậy Tôi nèn biểu diễn thêm một màn ngoạn mục khác trong giữa Nhà Lô ngay trước mặt mọi người cho họ thêm hí hửng.


Sau khi ăn hết mấy con sâu đất trắng muốt to dài bằng ngón tay út, mấy con gà đang c̣n đói le te chạy theo Tôi vào Nhà Lô như thường lệ. Tôi vào chỗ để đồ tiếp tế riêng, bốc một nắm thóc trộn bắp đem ra ngồi xuống xoè tay cho mấy con gà tranh nhau mổ ăn ngay trên ḷng bàn tay. Gà ăn một lúc hết nhẵn nhưng vẫn quanh quẩn bên tay Tôi như muốn đ̣i ăn thêm. Tôi phủi hai tay vào nhau rồi dơ cao lên trên đầu 2 con gà, tức khắc chúng nằm bẹp xuống đất chớ không chạy, Tôi thong thả dùng 2 tay đè nhẹ lên lưng rồi luồn ṿng xuống bụng bế chúng lên, đưa tới bên bàn nơi “Ban” Nhu và khách Trung Ương đang ngồi và khoe: “-Ban coi, con nào con nấy béo nặng đáo để, chúng cho Tôi 2 lứa trứng rồi đó. Nhờ chúng, Tôi và anh Sáu Đội phó có trứng “bồi dưỡng” hàng ngày nên Tôi thương chúng lắm, buổi giải lao nào cũng phải bươi đất t́m cho chúng một ít sâu đất hoặc giun trong các luống rau đem về cho chúng “bồi dưỡng” để tiếp tục đẻ trứng to và đều.”


Thực ra chẳng phải nhờ học tập lao động cải tạo Tôi mới biết công việc nuôi gà, từ thuở Thiếu thời gia nhập Đoàn Hướng Đạo Sinh Tôi đă được tập luyện quen rồi. Hơn nữa trước 30-4-1975, gia đ́nh Tôi cũng đă có dựng một nhà lồng lớn trong sân nhà riêng để các con của Tôi học nuôi gà đẻ, gà thịt, và chim bồ câu theo lối công nghiệp bỏ mối cho bạn hàng trong Chợ Lớn nên chẳng lạ ǵ. Nhưng Tôi không nói ra điều này, để cho họ hí hửng tưởng rằng Chánh sách hành hạ lao khổ thâm độc vô nhân đạo của họ đă cải tạo được Tôi theo ư họ muốn vậy thôi.

Gần mùa Giáng Sinh 1985, Linh mục Bùi đức Sinh được thân nhân “thăm nuôi” đem cho vài kí lô nho đỏ, Ngài không ăn đem rửa sạch cắt nhỏ bỏ vào keo thủy tinh, rắc đường đậy nắp kín rồi để vào một góc nhà. Ngài làm trước mặt chúng tôi và Quản giáo Đội. Ít ngày sau nho tiết nước ra biến thành loại rượu nho nguyên chất không cần ủ bằng men giống hệt loại rượu các Nhà Thờ thường dùng làm Rượu Lễ. Linh mục nói đây là loại nước trái cây ủ cho lên men giống như rượu mà không phải rượu, loại nước trái cây nguyên chất lên men này dùng uống mỗi ngày một ly “bồi dưỡng” giúp cho máu huyết lưu thông điều hoà rất tốt cho sức khoẻ. Ngài mời Cán bộ Quản giáo Đội và chúng tôi dùng thử mỗi người một chút cho biết mùi.


Riêng Tôi biết được mục đích không phải để “bồi dưỡng” mà dùng cho nhu cầu mục vụ của Ngài. Sau này nhờ sự “chiếu cố đặc biệt” của “Ban” Nhu, anh em Đội 23 chúng tôi được nhận quà “thăm nuôi” đem thẳng ra cất tại Nhà Lô. Việc kiểm xét quà “thăm nuôi” của chúng tôi cũng do Quản giáo Đội phụ trách không phải đem vào cho Trực Trại kiểm như mọi người. Nhờ thế, anh Quỳnh Đội trưởng được Linh mục Sinh cử làm Ông Trùm Họ Đạo K1 Z30D đă lợi dụng cơ hội dễ dăi này đem được rượu nho chính cống của Nhà Thờ vào cho Linh mục Sinh dung không phải làm lấy nữa.


Muốn giúp cho việc làm rượu của Linh mục Sinh không bị Cán bộ nghi ngờ, Tôi yêu cầu Ngài chỉ cho anh em cách thức làm để dùng “bồi dưỡng” hàng ngày. Chúng tôi c̣n làm cả rượu chuối bằng cách cắt chuối chín và tranh tươi thành những lát mỏng, xếp từng lớp chồng lên nhau theo thứ tự chuối, đường, tranh, đường, chuối, đường... trong keo thủy tinh, rồi đậy kín lại để ủ cho thành rượu không cần men. Chúng tôi để tại Nhà Lô không mang vào Trại giam dùng thoải mái hàng ngày, không bị coi là vi phạm Nội Quy Trại giam v́ Cán bộ biết rơ không phải rượu cất bằng men.

Để chuẩn bị ăn Tết Bính Dần-1986, anh Quỳnh Đội trưởng được “Ban” Nhu nhờ về Saigon đặt mua những ǵ đó không rơ. “Ban” cho xe hơi nhỏ và Cán bộ đưa đi và mọi người ngủ lại qua đêm tại nhà anh Quỳnh hôm sau mới trở về Trại. Sau chuyến đi này, Đội có thêm một số hạt giống rau muống và rau cải loại tốt năng xuất “thâu hoạch” cao hơn b́nh thường do gia đ́nh anh Quỳnh mua tặng cho Đội.

Mỗi tuần lễ Đội phải thực hiện 2 lần “thâu hoạch” rau nộp cho Nhà Bếp Trại, lần “thâu hoạch” nào anh em trong Đội cũng được thưởng mỗi người một bó rau nặng 5, 6 kí lô để ăn “bồi dưỡng”. Vào mùa mưa th́ trồng rau muống đọt mập thân dài cả 5, 60 phân, chúng tôi cắt khúc ngọn và lá non dài cỡ 15, 20 phân xào hoặc nấu canh ăn, khúc thân c̣n lại tuốt bỏ lá đem muối dưa chua ăn dần hoặc chẻ nhỏ ăn sống trộn dầu giấm muối tiêu tỏi. C̣n mùa nắng th́ trồng cải củ kết quả cũng rất khả quan, củ nào củ nấy to và dài cả 3, 40 phân, chúng tôi cắt lá muối dưa, xắt củ ra nhiều khoanh nhỏ nấu canh tôm khô hoặc thái mỏng xào trứng hoặc làm gỏi thịt gà xé phay. Một vài người c̣n xắt miếng nhỏ phơi khô ướp nước mắm cô đường để làm dưa món ăn dần.

Từ ngày Đội chúng tôi về định cư bên Khu Nhà Thăm Nuôi để trồng rau, “Ban” Nhu cũng chỉ định một Thiếu úy làm Quản giáo thay Quản giáo cũ chỉ là một Hạ sĩ quan. Quan sát qua cung cách cư xử của “Ban” Nhu đối với Quản giáo mới trước mặt chúng tôi cho phép nhận định ông ta là một trong nhóm Cán bộ trẻ được “Ban” Nhu tin dùng và thương. Hàng ngày ông ta phải báo cáo thẳng với “Ban” Nhu mọi diễn tiến sinh hoạt của Đội chúng tôi, cũng như chuyển lệnh của “Ban” thẳng đến Đội trưởng không phải qua hệ thống Giáo dục của Trại. Ông này mặt mũi khôi ngô, đẹp trai, tính t́nh nhă nhặn, luôn luôn tỏ thái độ tử tế với chúng tôi, và rất “văn nghệ” đối với các Cán bộ Nữ.

Đặc biệt ông Quản Giáo này lúc nào cũng lịch thiệp lễ độ với các Bà vợ chúng tôi trong thời gian được ở lại với chồng tại Khu Nhà Thăm Nuôi, ông ấy luôn luôn dùng Nhân vật Đại danh từ “Bác” với các Bà chớ không gọi Chị này Chị kia. Nhưng oái oăm một nỗi, hàng ngày ông ấy quen mồm gọi chúng tôi bằng “Anh”, đến lúc có Vợ “thăm nuôi” 3 người ngồi nói chuyện ông ấy quen miệng gọi ḿnh là “Anh” vợ ḿnh là “Bác” và xưng “Cháu”. Thật khôi hài hết chỗ nói.

Thường Tết năm nào Trại cũng gói nấu bánh chưng phát cho Tù mỗi người 1 chiếc, không biết tại sao Tết Bính Dần-1986 Đội chúng tôi lại được phát gạo nếp, đậu xanh, thịt heo và lá giong để anh em tự gói bánh và nấu lấy tại Nhà Lô của Đội, chắc là do sáng kiến “đổi mới cởi mở” của “Ban” Nhu. Nhân đó anh em yêu cầu anh Đội trưởng đề nghị Cán bộ Quản giáo tŕnh “Ban” cho phép anh em góp tiền ra chợ ngay gần Trại, mua thêm gạo nếp đậu thịt heo lá và lạt bằng tre giang về gói cho mỗi người 4 chiếc ăn thoải mái một lần trong mấy ngày Tết.

Ba ngày trước đêm Giao Thừa, Quản giáo Đội cho biết “Ban” Nhu chấp thuận cho ông ta dẫn Đội trưởng ra chợ gần trại mua gạo nếp thịt đậu lá và lạt về cho anh em gói nấu thêm bánh chưng như đề nghị. Anh Đội trưởng ngại đi một ḿnh phải xách nặng chịu không nổi, đề nghị cho Tôi cùng đi để tiếp tay, Quản giáo “nhất trí” là sáng hôm sau lúc Đội xuất Trại ra tới Nhà Lô chúng tôi sẽ đi chợ ngay. Sáng hôm sau ra tới Nhà Lô Đội, chúng tôi thấy Cán bộ Nữ Quản giáo Đội Nuôi Heo ở kế bên đang chờ tại đó để cùng đi chợ với chúng tôi. Có thể là Quản giáo Đội chúng tôi muốn nhờ nữ giới sành việc mua bán biết mặc cả trả giá cho được rẻ, cũng có thể là v́ đoạn đường đi bộ từ Trại ra Chợ hơi xa cần đi bằng xe đạp cho nhanh và đỡ vất vả, nên ông đă rủ thêm Cán bộ Nữ thân thiết riêng của ông ấy đem xe đạp tới để 4 người đèo nhau đi cho vui vẻ.
Quản giáo Đội đạp xe đèo anh Quỳnh Đội trưởng ngồi trên poọc ba ga (porte bagages) phía sau. Tôi phải đạp xe đèo Cán bộ Nữ nặng khoảng 35 lí lô, người nẩy nở cân đối mỏng mày hay hạt da hơi ngăm ngăm bánh mật, trông có vẻ như lai sắc tộc người gốc Thanh Hoá. Chúng tôi không đi theo đường băng qua Trại chính mà đi dọc bên này sông ngang qua các Đội Nuôi Gà, Đội Rau Nữ, Đội Nông Nghiệp, qua cầu gỗ băng sông sang Khu Nhà Tiếp Thân nhân “đăng kư thăm nuôi” mới, để ra quốc lộ rẽ trái đi hướng Thuận Hải (Phan Thiết). Khúc đường đất băng qua các Đội trong lănh vực đất Trại nhỏ gập ghềnh bề ngang vừa đủ cho một xe ḅ di chuyển, đạp xe phải lách qua lách lại giữ thăng bằng tay lái xe cũng hơi vất vả. Nhưng ra tới đoạn từ khu Nhà Tiếp Thân nhân “đăng kư thăm nuôi” ra đến chợ là đường nhựa, thoai thoải lần lần xuống dốc xe chạy bon bon nhẹ nhàng thích thú.

 
Chuyến về phải móc trên “ghi đông” xe 2 giỏ chợ cỡ chục kí lô thịt gạo đậu, lại nai thêm đằng sau lưng Cán bộ Nữ nặng 35 kí lô, Tôi đă gần 6 chục tuổi đời nhất là sau hơn chục năm lao động cực khổ trong các Trại Tù thiếu đói bệnh hoạn sức khoẻ suy tàn, đạp xe liên tục nhiều cây số đường dài thật là chật vật nặng nề quá. Ra khỏi chợ được chừng 2 cây số, xe bắt đầu leo lên dốc thoai thoải dài cả 5, 6 cây số, Tôi phải nhổm người lên khỏi yên xe ráng dùng sức nặng của thân ḿnh, nghiêng qua nghiêng lại cố gắng đạp cho xe lăn tới từng nấc một mà cũng hết muốn nổi. Mấy lần tay lái bị đảo qua đảo lại tiến lên không nổi nghiêng đi như muốn đổ, thấy vậy Cán bộ Nữ bảo Tôi ngừng lại xuống xách tay 2 giỏ chợ ra ngồi phía sau để cô ấy đạp xe cho. Cán bộ Nữ cũng xấp xỉ 30 cái Xuân xanh rồi nhưng chưa có đôi bạn chưa chửa đẻ con nên c̣n rất mạnh, đạp xe lên giốc nhẹ nhàng như không đúng là “con gái mười bẩy bẻ gẩy xừng trâu” như các Cụ ngày xưa thường ví. Phải ngồi phiá sau lưng, mũi vừa ngang tầm nách của người ngồi trên yên xe, gió thoảng liên tục từ phía trước ra sau, Tôi phải nín thở chịu đựng mùi mồ hôi nách nồng nồng như tỏi suốt khoảng đường dài gần 6 cây số dưới ánh nắng ban mai hiền hoà thơ mộng của rừng núi miền Đông Nam Việt.
Đi ra chợ với chúng tôi, các Cán bộ mặc thường phục như dân chớ không mặc sắc phục Công an thế mà dân chúng địa phương cũng biết. Họ không gọi là Cán bộ hay Đồng chí cũng chẳng gọi là Chú Công an hay Cô Công an như dân ngoài Bắc, họ gọi bằng Anh bằng Chị một cách đơn giản mộc mạc như đối với mọi người dân thường cùng trạc tuổi đôi ba mươi. Có điều đặc biệt là họ vồn vă săn đón mời mọc mua hàng một cách riết ráo, v́ thấy có chúng tôi là Tù đi theo chắc chắn là phải có nhu cầu mua sắm chớ không phải chỉ đi “tham quan”.


Đây là một cái chợ nhỏ nằm trong ngơ xen giữa những căn phố mái tôn mái ngói lẫn lộn ngay bên cạnh Quốc lộ, y như những chợ nhỏ trong ngơ gần các khu chung cư vùng Bàn Cờ ở Saigon vậy. Chúng tôi tới vào lúc chợ đang đông khoảng trên dưới một trăm người cả khách mua lẫn kẻ bán. Mọi người ồn ào chen lấn nhau giữa các quầy hàng bầy bán đủ thứ: thực phẩm khô, hàng xén, hàng vải, hàng thịt, hàng tôm cá, hàng rau, hàng quà bánh nóng... Cũng có một số khá đông không có quầy riêng ngồi xệp dài dài hai bên đường quanh chợ, bầy bán những món hàng đựng trong thúng, trên mẹt hoặc dăm bẩy con gà, con vịt chân cột dính trùm với nhau nằm dẫy dụa trên mặt đất, đường đi trong chợ nền đất lầy lội hôi tanh mùi cá mùi mắm. Tôi không tọc mạch hỏi nên không biết đây có phải là chợ Quận Hàm Tân hay không.
Mang tiếng nhờ nữ giới đi theo để trả giá mua cho được rẻ, nhưng Cán bộ Nữ này quanh năm suốt tháng ăn cơm tập thể chẳng hề đi mua bán nấu nướng lấy bao giờ, làm sao biết giá thị thường mà mặc cả. Ghé hàng này qua xạp kia đâu cũng ra giá như nhau, Cô ta chỉ hỏi giá rồi chê đắt và hỏi có bớt không? Người bán không chịu bớt, chẳng biết làm sao đành mua đại cho rồi để c̣n về sớm chuẩn bị gói bánh cho kịp đưa lên bếp khởi sự nấu trước giờ nghỉ lao động chiều. Đối với chúng tôi giá cả rẻ đắt không thành vấn đề, cả hơn chục năm trời chịu thiếu đói bây giờ có cơ may “ngàn năm một thưở” mua được thứ tươi ngon về ăn là tốt rồi, chẳng mong ǵ hơn.

Hôm đó là 2 ngày trước Đêm Giao Thừa, trừ mấy anh có những luống rau chưa “thâu hoạch” phải tiếp tục đi tưới, những người c̣n lại được Quản giáo Đội cho phép miễn lao động chia thành nhóm chuẩn bị gói nấu bánh chưng. Thật là vui! Ngoài nhóm đi kiếm củi cành lớn và gốc cây cho đủ đun ninh bánh liên tục 12 tiếng đồng hồ, các nhóm c̣n lại phải thực hiện cùng một lúc các việc sau:

 
-1. Ngâm đậu xanh, cà đăi vỏ, nấu chín, giă nhuyễn, nắm thành những nắm đều cho mỗi chiếc bánh chưng 1 nắm.


-2. Cắt thịt ba chỉ (b́, nạc, mỡ) thành miếng đều nhau, ướp gia vị hành tiêu nước mắm bột nêm cho vừa, mỗi bánh 2 miếng.

 
-3. Rửa lá, lau khô, tước sống và bỏ cuống lá, lựa lá nhỏ cắt lót khuôn, 4 lá cho mỗi bánh. Lá to để nguyên dùng gói bọc bên ngoài mặt bánh, mỗi bánh 3 lá.

 
-4. Chẻ lạt bằng tre giang, mỗi bánh cần 4 lạt. Một số đốt giang do Trại phát một số phải mua thêm ngoài chợ.

 
-5. Vo gạo để róc nước, khi bắt đầu gói rắc thêm chút muối trộn đều để bánh được đậm đà vừa ăn.


Khi mọi công tác chuẩn bị đă hoàn tất, những người phụ trách gói bắt đầu ra tay. Nhóm gói gồm 3 người gồm các anh Trịnh đ́nh Đăng, Phạm tài Điệt và Tôi. Anh Đăng rất thiện nghệ gói tay không cần khuôn bánh vẫn vuông vắn đẹp với đủ 8 góc, c̣n anh Điệt và Tôi phải dùng khuôn gỗ để gói cho được đều tay vuông vắn đủ 8 góc, không méo mó góc thấp góc cao. Khoảng hơn 3 giờ chiều, tất cả số bánh dự trù cho chúng tôi và thêm mấy cặp biếu “Ban” Nhu, Quản Giáo Đội, và Cán bộ Thăm Nuôi đều được gói xong đầy đủ. Bánh được cột thành từng cặp mặt trên của bánh áp vào nhau, xếp vào 2 thùng (một bằng tôn, một bằng nhôm) đă bắc sẵn trên bếp, đổ đầy nước vào thùng và khởi sự mồi lửa luộc. Các thùng nấu bánh do anh Quỳnh nhắn gia đ́nh gửi lên cho mượn. Chúng tôi thay phiên nhau canh đẩy củi đun đến giờ Đội rời Nhà Lô vào Trại, giao lại cho 2 anh Tô văn Vân và Dương hiếu Nghĩa (giữ Nhà Lô) luân phiên nhau lo tiếp qua đêm. Gần hai bên hông các thùng bánh phải vần 2 thùng nhỏ đựng nước để châm thêm vào các thùng bánh trong suốt thời gian ninh. Lửa phải giữ cho cháy đều và canh chừng nước hơi cạn phải châm thêm ngay. Đến nửa đêm phải đảo bánh phía trên xuống phía dưới, để bảo đảm tất cả bánh được chín đều không chiếc nào bị hấy (có chỗ gạo chưa kịp chín). Sáng hôm sau khoảng 9 giờ vớt bánh, xếp lên bàn ép cho nền không c̣n nước ứ trong lá mới để được lâu không bị chua hư. Chiều tối trước khi trở vào Trại giam, mỗi người lănh phần riêng của ḿnh nhưng chỉ đem theo một chiếc vào trại giam để ăn đón Giao Thừa, mấy chiếc c̣n lại cất tại Nhà Lô để thưởng thức dần trong 3 ngày Tết v́ anh em Đội chúng tôi không dược nghỉ ở trong trại ban ngày những dịp Tù được nghỉ  không đi lao động.


Không biết v́ trái gió trở trời cuối năm làm gà bị dịch chết hay muốn thanh toán lứa gà đẻ già bằng lứa gà tơ mạnh đẻ trứng lớn bán được giá hơn, bỗng dưng vào buổi chiều trước ngày cuối năm thấy Trại bán gà làm thịt sẵn cho Tù mua ăn Tết. Mọi người mừng rỡ vui vẻ đua nhau “đăng kư” mua, người có nhiều tiền lưu kư tại Trại th́ mua nguyên con để nửa luộc nửa kho ăn trong 3 ngày Tết cho đă thần khẩu, kẻ ít tiền chung nhau 2, 3,4 người mua một con. Giá cả đồng nhất tính theo con, ai hên gặp được con to nặng, ai xui gặp phải con nhỏ hơn đôi chút. Gà tuy già đẻ nhiều lứa nhưng v́ nuôi theo lối gà công nghiệp đứng trong chuồng mỗi con một ngăn nhỏ riêng để đẻ, nên thịt vẫn mềm béo không dai cứng như gà thả chạy rông. Đợt bán hôm 30 Tết nhiều người chậm chân không mua được than phiền yêu cầu các Đội trưởng “phản ảnh” lên “Thi Đua” báo cáo Cán bộ Trực Trại, nhờ thế chiều ngày mồng Một Tết lại bán đợt thứ 2. Nhưng lần này bị ế lại một số con, loa phóng thanh của Thư viện phải ra rả rao hàng nhắc nhở điếc cả lỗ tai.

Đúng vào dịp Tết Nguyên đán Bính Dần-1986 này, “Ban” Nhu được thăng hàm Thiếu tá và làm Trại Trưởng thay ông Giám Thị Trại trưởng cũ bị Nhà Nước cho “phục viên” (về hưu) sớm. Do đó “Ban” Nhu đặc biệt “chiếu cố” cho Tù K1 Z30D được hưởng những dịp vui đón Tết thật là “cởi mở đổi mới” chưa từng gặp trong suốt thời gian cải tạo gần 11 năm qua trên cả 3 miền đất nước Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Để mừng đón Tân Xuân đặc biệt này, “Ban” Nhu cho tổ chức một đêm Văn Nghệ thật đặc sắc và hấp dẫn. Ban Văn Hoá Trại tuyển lựa một số Tù Nam Tù Nữ “biên chế” thành lập Đội Văn Nghệ tập luyện kỹ càng, tŕnh diễn thành thạo chẳng khác nào đoàn Văn Công thứ thiệt Xă hội Chủ nghĩa. Một số ca kịch sĩ Tù Nữ duyên dáng hấp dẫn tŕnh bầy rất thành thạo khiến cử toạ (Cán bộ và Tù) vỗ tay hoan hô nồng nhiệt, hô Bis! Bis! yêu cầu hát thêm.

Đêm mồng một Tết, “Ban” Nhu lệnh cho Cán bộ Trực Trại dẫn các Tự Quản Đội cả Nam lẫn Nữ (Đội trưởng, Đội phó) và toàn thể anh em Đội Đại tá chúng tôi đến Tư dinh của “Ban” bên bờ sông gần Nhà Thủy Tạ giữa hồ nước Đập Thủy Điện đăi trà bánh. Trong cuộc vui bỗng dưng “Ban Nhu hứng chí cất giọng hát một bài, rồi yêu cầu mọi người có mặt cũng phải thay phiên nhau hát hoặc kể chuyện giúp vui. Người th́ hát, người th́ đàn, nhạc đỏ, nhạc vàng, nhạc Dân tộc, nhạc ngoại quốc ǵ cũng được hết. Ai không biết hát có thể kể chuyện vui thanh tục ǵ cũng không sao, miễn làm cho mọi người được dịp vui cười thoải mái là được.

 
Đến lượt Linh Mục Bùi Đức Sinh, Ngài mở lời bằng một câu rào đón rất ư là khôn ngoan: “-Kính thưa Ban Giám Thị, kính thưa qúy Cán bộ, kính thưa các bác Đại tá và anh chị em, Tôi xin kể một câu truyện nhưng xin Ban Giám thị đừng cùm Tôi v́ câu truyện Tôi sắp kể”. “Ban” Nhu nói: “-Hôm nay là ngày vui, Tôi sẽ không cùm ai hết, dù câu truyện có xúc phạm đến cá nhân Tôi”. Được “Ban” Nhu xác định lập trường rơ ràng trước mặt mọi người, Linh Mục Sinh yên tâm chậm răi nói: “-Kính thưa Ban và Qúy vị, câu truyện của Tôi nói về 4 lợi ích của việc ghiền hút thuốc lá. Một là không sợ chó cắn. Hai là không mất trộm ban đêm. Ba là trẻ măi không già. Bốn là gia đ́nh hạnh phúc. Xin hết”.

Mọi người ngơ ngác nh́n nhau không vỗ tay cũng chẳng cười. Tôi ngồi bên cạnh Linh mục Sinh hiểu ư Ngài nói khích “Ban” Nhu v́ “Ban” Nhu ghiền thuốc lá rất nặng, hàng ngày hút liên tu bất tận và đặc biệt chỉ hút toàn thuốc ngoại loại đắt tiền y như cố Chủ Tịch Hồ Chí Minh thời c̣n sanh tiền vậy. Tôi lấy tay bấm tay Linh mục nói nhỏ: “-Ông già này liều thật dám vuốt râu hùm”.

Để phá tan bầu không khí thinh lặng đang bao trùm mọi ngưới, “Ban” Nhu cất tiếng: “-Yêu cầu Linh mục giải thích thêm cho rơ v́ sao?”. Linh mục Sinh đáp: “-Thưa “Ban”năm phút của Tôi đă hết”. “Ban” Nhu thủng thẳng nói: “-Tôi cho Linh mục thêm 10 phút”. Lúc đó Linh mục Sinh mới giải thích: “-Không sợ chó cắn v́ bệnh hoạn đi phải chống gậy nên chó sợ. Không mất trộm v́ nằm ho suốt đêm. Trẻ măi không già v́ chết sớm. Gia đ́nh hạnh phúc v́ các cô chê không chịu chung sống v́ hôi mùi thuốc”.

Linh mục vừa dứt lời mọi người ào ào vỗ tay tán thưởng. Câu truyện thật thâm thúy ư nhị, “Ban” Nhu cũng vỗ tay. Mấy bữa sau, “Ban” Nhu có dịp ghé thăm Đội chúng tôi vào giờ giải lao sáng tại Nhà Lô, Linh mục Sinh cũng có mặt bên anh em, anh Quỳnh Đội trưởng lấy thuốc “555” ra mời “Ban” Nhu khua tay nói: “-Nghe lời Linh mục dạy từ đêm mồng Một Tết vừa qua rất chí lư nên từ nay Tôi không hút thuốc nữa”. Linh mục Sinh vuốt ve: “-Thưa Ban, tiết độ, chừng mực và làm chủ được ḿnh như vậy, thật đáng ca tụng vô cùng”.

Từ ngày khai trương Khu Nhà Thăm Nuôi mới, anh Đại tá Hồ Hồng Nam (Chiến tranh Chính trị) thuộc Đội chúng tôi bị đi đại tiện ra máu thường xuyên, nhưng v́ lư do an ninh không được đưa ra Bệnh viện Phan Thiết như các Tù Nữ và Tù Nam khác cấp bậc nhỏ hơn phải nằm điều trị dài hạn tại Bệnh xá Trại, là người được gia đ́nh đến xin “thăm nuôi” đầu tiên và đă được “Ban” Nhu cho phép thăm nhiều ngày, đặc biệt c̣n cho xe Mini Van riêng của gia đ́nh anh ấy vào đậu ngay tại sân Khu Nhà Thăm Nuôi. Sau mấy lần gia đ́nh đến “thăm nuôi” liền liền, anh Nam nhận được lệnh tha và xe riêng của gia đ́nh được vào tận Khu Nhà Thăm Nuôi đón chở anh ấy rời trại để về nhà. Mấy tháng sau chúng tôi được tin anh Nam đă qua đời trong cuộc giải phẫu gan tại một Bệnh Viện trước kia rất nổi tiếng của Saigon.

 
Người thứ 2 thuộc Đội chúng tôi được “Ban” Nhu cho phép thăm nhiều ngày tại Khu Thăm Nuôi mới này là anh Quỳnh Đội trưởng. Chị Quỳnh được ở lại thăm 3 ngày 2 đêm. Sau ngày Chị Quỳnh “thăm nuôi” ra về, “Ban” Nhu ghé thăm anh em chúng tôi tại Nhà Lô hỏi thăm anh Quỳnh thăm nuôi có được vui vẻ không? Rồi quay qua hỏi Tôi: “-Thế c̣n Bác Hùng, kỳ Bà Xă tới thăm 24 giờ vợ chồng già đánh được mấy quả?” Tôi ngạc nhiên không hiểu v́ sao con người luôn luôn nghiêm khắc khó tính xưa nay, hôm nay lại dùng một câu hỏi bông đùa xuồng xă như vậy. Tôi chậm răi trả lời: “-Thưa Ban, Vợ Chồng già vấn đề sinh lư đâu có phải là nhu cầu chính yếu của t́nh nghĩa, xa nhau cả hơn chục năm trời có biết bao nhiêu thay đổi trong xă hội, chuyện gia đ́nh, chuyện học hành của con cái cần phải trao đổi, c̣n thời giờ rảnh đâu mà nghĩ đến chuyện nhục dục, nhất là t́nh trạng sức khoẻ của Tôi chẳng mấy khả quan như Ban và anh em vẫn từng thấy hàng ngày”. “Ban” Nhu cười nói: “-Thôi được hôm nào nhắn Bác gái lên, Tôi sẽ cho Bác thăm 3 ngày đêm liền để vợ chồng có th́ giờ mà tâm sự cho nó thoải mái”. Từ đó trở đi, anh em Đội chúng tôi ai có gia đ́nh tới “thăm nuôi” muốn xin ở lại 2, 3 ngày đều được “Ban” Nhu chấp thuận cho cả. Thực t́nh không phải v́ nhu cầu sinh lư các Bà muốn ở lại bên chồng, mà v́ muốn vài tháng một lần giúp cơ hội cho chồng có dịp được nghỉ lao động cực nhọc vài ngày cho nó khoẻ nên mới chấp nhận ở lại thăm nuôi nhiều ngày vậy thôi. Trong Đội chúng tôi, cũng không phải tất cả mọi người đều xin “thăm nuôi” nhiều ngày. Phần lớn v́ hoàn cảnh sinh hoạt riêng của gia đ́nh, chỉ xin thăm nuôi 4 tiếng đồng hồ suốt từ 12 giờ bắt đầu nghỉ lao động buổi trưa đến 4 giờ chiều mà thôi.

“Hiện trường lao động” và Nhà Lô của Đội chúng tôi ở ngay kế bên Khu Nhà Thăm Nuôi nên có dịp thấy hàng ngày lúc nào cũng đầy khách. Tất cả Tù Nam Tù Nữ không bị kỷ luật, khi có người phối ngẫu tới “thăm nuôi” muốn xin ở lại 24 giờ đều được phép nộp đơn cho Cán bộ phụ trách Thăm Nuôi vào đầu giờ thăm gặp. Ông này tập trung mang đi tŕnh Ban Giám Thị cứu xét quyết định, nếu được chấp thuận lúc măn giờ “thăm nuôi” sẽ được thông báo và sẽ được dẫn đến Khu Nhà Thăm Nuôi cấp pḥng ngủ cho ở lại qua đêm.


Ăn Tết xong mọi người lại miễn cưỡng lao đầu vào “đợt ra quân thi đua mới” để chuẩn bị đón mừng lần thứ 12 ngày Thống Nhất đất nước 30-4 và ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5, đặc biệt năm nay c̣n để chuẩn bị tham gia “Giải thi đua Trại Cải tạo Gương mẫu toàn quốc”.

 

ĐỔI MỚI, CỞI MỞ, CỞI TRÓI.

Mênh mông sóng hận dâng cao,
Căm thù sôi sục đồng bào đứng lên.
Gian manh muốn giữ vững quyền,
Bầy tṛ “đổi mới” cho yên tạm thời.
Cùng loài Chồn, Cáo, đổi ngôi,
Cùng bầy Lang, Sói, hại đời khác chi.
Tam Vô, Bất nghĩa, Bất ngh́,
Mẹ Cha c̣n đấu, xá ǵ người dưng.
Thế thời căng, chẳng đặng đừng,
Nới dây tơ mảnh, cột thừng chặt hơn.
Trổ nghề huưt sáo, rung đờn,
Gạt người lương thiện dâng hồn cho ma.
Hồ già xưa cũng ba hoa,
Lừa Dân, hại Nước mới ra nỗi này.
Mấy lần nhận tội, sửa sai,
Hứa nhăng hứa cuội, sửa hoài chẳng xong.
Nay c̣n chi nữa mà mong,
Công, Nông, Văn sĩ đồng ḷng đứng lên.
Quyết đ̣i Dân chủ, Nhân quyền,
Đ̣i thay Chế độ Nhất nguyên độc tài.
Ngày tàn hẳn đến nay mai,
Đảng đành nhịn nhục luồn ngoài nịnh trong.
Hoan hô hoà hợp Tây Đông,
Theo Góc-ba-chốp kiếm đồng tiền xanh. (dollar)
Nới tay bóp cổ Dân lành,
Tuyên ngôn “đổi mới” mời Anh, Mỹ vào.
Đổi Tù Chính trị giá cao,
Giao thương kinh tế, miễn sao Đảng c̣n.
Nhún nhường phân giải thiệt hơn,
Khuyên Tù ở lại, giang sơn cậy nhờ.
Quên đi quá thứ hận thù,
Chung lưng xây dựng lại Nhà Việt Nam.
Lời tuôn dịu ngọt như cam,
Hồ ly tinh đội xác phàm rủ rê.
“Ra đi sống kiếp làm thuê,
Ở nhà, Con gửi tiền về dưỡng nuôi.
Thân già hẳn sướng như Trời,
Bôn ba thêm mệt cuộc đời ích chi.”
Ậm ừ cho qủy khỏi nghi,
Hết tù, nhất quyết phải đi nước ngoài.
Cho con cháu có tương lai,
Cho ḿnh chuẩn bị một mai trở về.
Diệt bầy Cộng, dựng lại quê,
Cho Dân Tộc được mọi bề Tự do.
Sống trong hạnh phúc ấm no,
Nhân quyền Dân chủ nở hoa sáng ngời.


K1, Z30D, Hàm Tân, Thuận Hải.
Mùa Xuân Bính Dần-1986.

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến trước 30-4-1975,

Cựu tù nhân chính trị 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cải tạo của đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam trên cả 3 miền đất nước sau ngày Quốc hận 30-4-1975.


@@@
Những chuyện sau 30-4-1975 không thế nào quên được:

Kỳ 34: Bản chất tàn bạo thâm độc của Việt Cộng vô địc thế giới;Vuốt râu cọp, chịu nhục h́nh,/Mới hay Thù Bạn, nhân t́nh khác nhau.

Kỳ 33:  "Đừng giết chúng nó, bắt chúng nó làm, ngày không đủ tranh thủ làm đêm ..."

Kỳ 32: Bản chất tàn bạo thâm độc của Việt Cộng vô địc thế giới

Kỳ 31: Tư tưởng độc đáo của "Bác Hồ": Đừng giết chúng nó, bắt chúng nó làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm ...

Kỳ 30: Dùng chính sách thâm độc lao động cải tạo tư tưởng Cộng sản Việt Nam đă thất bại ê chề

Kỳ 29: Trại Z30C Hàm Tân, tia sáng cuối đường hầm

Kỳ 28: Chuyến tàu hỏa về miền Nam, sau sáu năm lưu đày biệt xứ tại miến Bắc xă hội chủ nghĩa

Kỳ 27: Những ngày tháng cuối của cuộc lưu đày cải tạo tại miến Bắc vĩ tuyến 17

Kỳ 26: Mút mùa lao khổ giữa ḷng trường sơn

Kỳ 25: Kết quả cách mạng xă hội chủ nghĩa của bác Hô và đảng cộng sản Việt Nam

Kỳ 24:Tung lá bài "thấu cáy" để nèo co giá cả

Kỳ 23:Những ngày cuối trong địa ngục trần gian "Tân Lập Vĩnh Phú"

Kỳ 22: Nếp sống và phong cách con người xă hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỳ 21: Muốn trao đổi lấy Đô la của Mỹ, nhà nước cộng sản cho phép gia đ́nh thăm nuôi tiếp tế nuôi tù mập trở lại

Kỳ 20:Tư pháp kiểu cộng sản: TÙ PHẢI TỰ VIẾT BẢN LUẬN TỘI ĐỂ LÊN ÁN M̀NH

Kỳ 19: Ốc đảo Tân Lập (Vĩnh Phú) địa ngục trần gian

Kỳ 18: Về miền đất tổ Hùng Vương trở thành tù không án

Kỳ 17: Đôi giọt "mật đường" tạo niềm tin cho tù

Kỳ 16: Cái giá phải trả, để trở thành người xă hội chủ nghĩa

Kỳ 15: Lao động, thước đo ḷng yêu nước xă hội chủ nghĩa

Kỳ 14: Nhân quyền trong xă hội chủ nghĩa

Kỳ 13: Yêu lao động là yêu xă hội chủ nghĩa - Yêu xă hội chủ nghĩa là yêu nước!

Kỳ 12: Chính sách khoang hồn nhân đạo của nhà nước xă hội chủ nghĩa trước sau như một

Kỳ 11: Thiên la địa vơng xă hội chủ nghĩa

Kỳ 10: Xă hội chủ nghĩa và t́nh người

Kỳ 9: Lao động là vinh quang !

Kỳ 8: Bắt đều nếm mùi miền Bắc xă hội chủ nghĩa

Kỳ 7: Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Ḥa, Quỷ đỏ thị oai

Kỳ 6: 1976-Bính Th́n, Tết đổi đời

Kỳ 5: Lên đường học lao động để cải tạo tư tưởng theo xă hội chủ nghĩa.

Kỳ 4: Mùa nhồi sọ mở màn-Ri đây s sáng mt ra,
Đ
ng nghe “Vm” nói ngt mà vi tin.
Nguyễn-Huy Hùng

Kỷ3: "Một tháng học làm người Xă hội chủ nghĩa"-Những chuyện sau 30 tháng 04 không thể nào quên được-Nguyễn Huy Hùng

Kỳ 2: Bắt đầu cuộc đổi đời-[Những chuyện sau 30-4-1975 không thế nào quên được.] Nguyễn Huy Hùng

Kư 1: Chơi vơi giữa ḍng song đỏ -Bánh tro Đoan Ng vàng trong,Anh hùng tht thế đành ḷng np thân.Những chuyện sau 30-4-1975 không thể nào quên được-Nguyễn Huy Hùng


 

 -Nguyễn Huy Hùng
[Những chuyện sau 30-4-75 không thế nào quên được]

 

 

Audio: Tâm tư Tổng Thống Thiệu   28C/28

T́m thuyền nhân đă được tàu LNG CARICORN cứu vớt

Nguyễn Huy Hùng: 30 tháng 04 năm 1975, ngáy QUỐC HẬN của dân tộc Việt Nam

 

@@@

 

Anh Trương Quốc Việt [đă minh xác, Anh  không phải là một luật sư mà là cử nhân luật tốt nghiệp trong chế độ CsVN] phát biểu trong ngày Biểu T́nh Quốc Hận tại toà đại sứ VC ở Canberra

 


 

QUỐC-SỬ OAI-HÙNG !

Việt-Nam, Quốc-sử oai-hùng
Giống-ṇi Lạc-Việt, vô-cùng vẻ-vang !
Từ khi, sáng-lập Hồng-Bàng
Anh-thư, Tuấn-kiệt toàn trang quật-cường
Thương dân Việt-tộc, tai-ương
Anh-hùng trỗi-dậy, lên đường dấy-binh
Bà Trưng, khởi-nghĩa Mê-Linh
Việt-Vương, Thường-Kiệt thân-chinh trận-tiền
                        &
Đức Trần Hưng-Đạo, Ngô-Quyền
Phùng-Hưng, Nguyễn-Huệ luân-phiên chống Tà
Đại-Hành Hắc-Đế, xông-pha
Quyết-tâm, giữ vững Sơn-hà Việt-Nam...
Cơ Trời ách Nước, lầm-than !
Con thuyền Định-mệnh điêu-tàn, ngả-nghiêng
Thừa cơ, Cộng-phỉ tuyên-truyền
Xâm-lăng Tổ-Quốc, truân-chuyên mọi đàng !
                        &
Lưu-vong, Tỵ-nạn Ngoại-bang
Nhớ về dĩ-văng, hai hàng lệ rơi !
Sơn-hà, Xă-tắc tơi-bời !
Dân-lành mất của tả-tơi, cơ-hàn !
Côn-đồ Cộng-phỉ, tham-tàn
Buôn dân bán Nước, tác-tan bao nhà !
Đồng-bào khắp chốn, xót-xa !
Biểu-t́nh phản-đối Cộng-tà, Bắc-Kinh.&
                                    Xuân-Nương (De: <xuannuongk18b@yahoo.com>)