những bài viết của:  Nguyễn Huy Hùng   

++++++++++++++++++++

Những chuyện sau 30-4-1975 không thể nào quên được. 

 

SUỐI MÁU, TAM HIỆP, BIÊN HOÀ,    

                                               QUỶ ĐỎ THỊ OAI

 

NGUYỄN-HUY HÙNG



Trại Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà được chia ra nhiều Khu với tên riêng (A, B, C, D…), ngăn cách bởi những hàng rào kẽm gai dầy chằng chịt, rộng khoảng 10 mét, cao 3 mét.
Các Khu khác th́ không biết sao, trong Khu giam chúng tôi có khoảng hơn chục căn nhà tiền chế, khung sắt lợp tôn. Vách chung quanh nhà cũng bằng tôn, chân hổng cao hơn mặt đất khoảng 30 phân. Lưng chừng vách dọc 2 bên hông nhà có các khuôn cửa sổ rộng khoảng 1 mét vuông, không có cánh cửa. Lối ra vào qua 2 cửa lớn ở 2 đầu nhà cũng không có cánh cửa. Ở ngoài có thể trông suốt vào nhà, để quan sát các hoạt động bên trong, qua khoảng hở dọc bên dưới chân vách, qua các khung cửa sổ, và qua 2 cửa ra vào lúc nào cũng trống trải.
Chung quanh nhà nào cũng đào một đường rănh, rộng 1 mét, sâu 1 mét, để nước mưa thoát đi không tràn vào nền nhà. Do đó muốn vào nhà, phải đi qua một mảnh cầu bằng vỉ sắt rộng 50 phân.
Mỗi dẫy nhà được gọi là một Láng, dùng để giam khoảng 50 người. Mỗi khoảng nằm chia cho một người rộng cỡ 70 phân, vừa đủ trải một chiếc chiếu cá nhân.
Trong Khu giam chúng tôi, được coi như có 2 phân khu nằm sát bên nhau, không hàng rào ngăn cách. Khoảng 7 hay 8 Láng nằm kế cận quanh giếng nước công cộng và hầm vệ sinh lộ thiên, được dùng để giam các Đại tá, và vài ông Tướng chuyển từ Khám Chí Hoà Saigon tới. Số Láng c̣n lại ở nửa phần đất phía Tây của Khu, giam các Trung tá và h́nh như có lẫn cả Thiếu tá, Đại úy. V́ thế trong Khu chúng tôi có tới 2 dẫy Nhà Bếp riêng rẽ, cách nhau bởi khoảnh sân tập họp lớn trống trải ngay bên cổng vào. Đồn canh tại cổng cũng như văn pḥng bên ngoài hàng rào Khu, có thể quan sát hoạt động trong cả 2 Nhà Bếp, thong thả, rơ ràng, thường xuyên ngày đêm.
Trong dẫy Nhà Bếp dành riêng cho nhóm Đại tá chúng tôi, có xây hai hàng ḷ nấu đâu lưng sát bên nhau, dọc suốt bề dài, giữa dẫy nhà. Trên mỗi lỗ ḷ có để sẵn một chiếc vạc bằng gang rộng 1 mét.
Hai Láng 1 và 2 của chúng tôi ăn chung một hoả đầu vụ. Mỗi “toán anh nuôi” (hoả đầu vụ) phụ trách nấu cơm và thức ăn cho 2 Nhà, được xử dụng 3 ḷ sát bên nhau để nấu nướng ngày 2 bữa. Hai ḷ để nấu cơm và một ḷ để nấu canh. C̣n món mặn th́ dùng soong, đặt kiềng hoặc kê gạch trước các cửa ḷ nấu cơm mà kho, bằng than moi từ ḷ nấu cơm ra, sau khi gạo đun đă nở đều và cạn nước.
Những người trong “toán anh nuôi” không phải dân chuyên nghiệp, mà chính là anh em tù cư ngụ trong 2 Nhà, chia nhau luân phiên đảm trách. Mỗi nhà phải cử số người cần thiết để lo một ngày. Thường mỗi “toán anh nuôi” gồm 4 người nấu cơm, 2 người nấu canh và đồ kho, 4 người đi lănh thực phẩm và bửa củi. Anh em trong “toán anh nuôi” và “toán bửa củi”, thường được “bồi dưỡng” mỗi người một ca nước cơm mỗi bữa, gạn từ chảo cơm đă xôi lâu, đang cạn nước trước khi rút lửa.
Láng chúng tôi nằm sát ngay dọc hông dẫy Nhà Bếp, nên ngày 2 buổi đi lănh cơm, canh, và món mặn về chia nhau, không phải vất vả khênh khệ nệ đi xa như anh em ở các Láng khác. Gặp những lúc trời mưa đất trơn trượt, có thể bị té ngă làm văng đổ cơm và thức ăn ra đất. Đă có Láng bị trường hợp không may này rồi. Thật là may mắn cho chúng tôi.
Nước dùng nấu ăn, vo gạo, rửa rau, làm cá, rửa soong chảo và đồ dùng đựng cơm canh chia cho anh em, đều múc ở giếng ngay tại sân bên cạnh nhà bếp. Nước tắm giặt, có một giếng khác ở phiá Bắc cuối Khu, gần hàng rào và hố vệ sinh công cộng lộ thiên, giáp ranh với Khu giam các sĩ quan cấp Úy.
Hố vệ sinh được đào sâu 2 mét, rộng 2 mét, dài 4 mét. Trên ŕa một bên miệng hố, có để 1 vỉ sắt rộng 50 phân dài 5 mét (loại vỉ sắt ráp đường bay cho phi trường dă chiến), cho mọi người đứng hoặc ngồi trên đó mà tiểu hay đại tiện xuống hố. Đây là nơi tập trung cơ man nào là gịi, và ruồi nhặng. Chúng là đoàn quân xâm lăng tấn công toàn trại, đặc biệt là các khu nhà bếp, để truyền giống bệnh thổ tả, kiết lỵ cho Tù nhân.
Nước chín để uống, các Láng giam Đại tá chúng tôi phải sang Nhà Bếp Trung tá, ở sát bên cạnh để lănh khiêng về phát cho anh em dùng. Vật dụng dùng khiêng nước, là 1 chiếc lu bằng nhựa ni lông cao 1 mét, chứa được khoảng 200 lít, cấp riêng cho mỗi Nhà. Mỗi ngày chỉ được phép qua lănh 2 lần, sáng và chiều, theo giờ quy định trước.
Muốn vào Nhà Bếp Trung tá, phải đi băng qua chiếc cầu vỉ sắt rộng 50 phân, bắc ngang một rănh sâu hơn 1 mét, rộng khoảng 4 mét. Do đó, một hôm 2 anh bạn ở Láng chúng Tôi tới phiên phải đi khiêng nước cho anh em, đă gặp phải tai nạn khủng khiếp.
Mặt vỉ cầu sắt bị nước sóng ra làm trơn trượt. Anh đi trước là Đại tá Bá Long tự Th́n, chẳng may bị trượt cả 2 chân, té ngồi phệt đít xuống mặt cầu. Sức nặng của lu nước sôi 200 kílô khiêng trên vai, đè anh ta giáng bàn tọa xuống mặt vỉ sắt, mạnh đến nỗi làm bể xương hông không đứng lên được. Anh em phải chạy đến khiêng đi cấp cứu, may mà không bị phỏng.
Nằm liệt cả tháng không ngồi lên được, thế mà tới ngày anh em cấp Đại tá bị đưa ra Bắc tập trung, Ban Chỉ huy Trại giam vẫn buộc anh em khiêng anh ấy ra xe cùng “hành quân”.
Ra đến Liên trại 1, ở xă Việt Cường, Yên Báy, anh Bá Long tự Th́n vẫn tiếp tục nằm không ngồi lên được. Phân trại cho miễn lao động và đưa vào nằm điều trị trong Bệnh xá của Liên trại 1, ngay chỗ ngă ba đường dẫn vào trại Cốc. Khoảng 3 tuần lễ sau, anh em nghe tin anh Bá Long tự Th́n chết. Theo lời giải thích của Cán bộ Phân trại trưởng, anh ấy chết v́ nội thương biến chứng.
Một số anh em, sau 30-4-1975, v́ gia đ́nh thất tán hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn về tiền bạc, không nhận được quà. Trong lúc thiếu đói đă nẩy sinh một sáng kiến thật độc đáo và đáng thương. Các anh ấy dù không thuộc “toán anh nuôi”, phụ trách nấu ăn cho anh em, nhưng ngày nào cũng t́nh nguyện phụ bếp, nhặt rau, mổ bụng cá đánh vẩy sạch sẽ, rửa các khay tôn đựng cơm sau khi chia xong c̣n dính cơm. Chỉ với mục đích duy nhất là lượm lặt gom góp các mẩu rau già, những bộ ḷng cá moi bỏ, và những hạt cơm dính trong khay tôn, để hầm nấu lại ăn cho đầy bao tử chịu đựng qua ngày.
Đại tá Nguyễn văn Chung (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn 1 BB) ở trong một Láng khác, cách Láng chúng tôi khoảng 100 mét. Nghe anh em đồn có hành động chống đối ǵ đó, nên bị bắt điều tra và giam giữ trong Conex.
Conex là một loại thùng vuông vắn to khoảng 10 mét khối, làm bằng kim loại cứng. Quân đội Hoa Kỳ dùng để chứa các vật liệu nhỏ dễ bị hư hỏng, bởi va chạm mạnh trong khi chuyên chở đi xa, hoặc cần thả bằng dù từ máy bay xuống cho các đồn bót hẻo lánh.
Conex được coi như là một loại nhà kho dă chiến tư hon không sợ mưa nắng. Cho nên lúc nào người ta cũng để phơi tênh hênh, giữa khoảng đất trống không bóng mát. Ban ngày trong Conex nóng như nung bởi ánh nắng, ngược lại đêm lạnh buốt v́ kim loại tích khí sương.
Trại giam đă dùng Conex để nhốt tù bị kỷ luật. Thật khủng khiếp và dă man hết chỗ nói.
Khoảng vài tuần sau khi bị giam trong Conex, anh Chung đă chết. Trại loan tin là anh ấy tuyệt thực để tự tử. Ai biết đâu? Anh ấy có thể bị tra tấn đến chết. Cũng có thể anh ấy bị chết ngộp v́ nóng quá, lạnh quá, thiếu dưỡng khí. Cả ngày lẫn đêm, anh em tù đâu có ai được phép ra khỏi khu giam, léo hảnh đến gần khu làm việc của Cán bộ đâu mà thấy được.
Sau Tết Bính Th́n-1976, Trại tiếp tục cho Tù gửi thơ về nhà hàng tháng, để xin tiếp tế tiền và thức ăn khô qua đường Bưu điện. Thiếu tá Bé (dân pḥng nh́ Tiểu khu) và Đại úy Thịnh (An ninh quân đội), là 2 người trong số anh em thường được Ban Chỉ huy Khu giam đem ra ngoài khu, cả ban ngày lẫn ban đêm, phụ trách việc lựa xếp, lập danh sách thứ tự các gói quà gia đ́nh gửi đến cho Tù. Để hàng ngày trong giờ làm việc, Cán bộ dùng loa phóng thanh kêu tên từng nhóm 5 người một, tiếp nối nhau ra tŕnh diện nhận lănh.
Sau nhiều lần được đưa ra làm việc như vậy, các anh Bé và Thịnh đă lợi dụng những lúc nghỉ ăn uống, giải lao hút thuốc giữa buổi lao động, ra ngồi nơi hàng hiên phiá sau kho và văn pḥng Cán bộ sát bên hàng rào, để quan sát thăm thú địa thế nghiên cứu lối thoát ra đường.
Thế rồi một hôm, trời mưa gió rả rích suốt ngày đêm không ngưng. Hai anh Bé và Thịnh cũng được ra khỏi Khu giam làm việc ban đêm như thường lệ. Đến nửa khuya, trời vẫn mưa âm u mù mịt, lợi dụng lúc ra hiên sau nhà hút thuốc giải lao, 2 anh đă cùng nhau chui hàng rào kẽm gai thoát ra ngoài trốn Trại.
Chẳng may, rào kẽm gai có treo lủng lẳng những lon nhôm trống, 1 trong 2 người đă vô ư đụng gây tiếng động. Quân canh nghi có người vượt rào đă nổ súng bắn theo. Nhờ thời tiết đêm đang mưa gió mịt mù, ánh đèn điện quanh rào bị những hạt mưa rơi chi chít phản xạ làm choá mắt, lính gác đứng trên tṛi cao không nh́n được rơ ràng cảnh vật chung quanh, chỉ hướng về phía có tiếng động bắn hú hoạ không trúng mục tiêu.
Anh em đang ngủ nghe tiếng súng, giật ḿnh tỉnh giấc hoang mang chẳng biết chuyện ǵ. Chung quanh láng ngủ, tiếng chân người rầm rập chạy, ánh đèn pin lia qua lia lại soi dưới rănh quanh nhà. Đèn điện bật sáng, Quản giáo xộc tới cửa, hối Nhà trưởng kiểm danh “khẩn trương”. Không ai vắng mặt, Quản giáo bỏ đi. Đến sáng mới hay tin, đêm qua có người trốn trại.
Hai người trốn đă chạy thoát được ra ngoài vô sự. Nhưng buồn thay, lưới t́nh báo của Công an Nhân dân dầy đặc, chỉ vài ngày sau 2 anh Bé và Thịnh đă bị bọn “cách mạng 30 tháng Tư” địa phương phát giác, bắt và giải nộp cho trại giam.
Ban chỉ huy trại Suối Máu “khẩn trương” thiết lập Toà án quân sự, ngay tại Hội trường lớn của Trại, ở phía chênh chếch bên hướng Tây Nam ngoài hàng rào, xa Khu giam chúng tôi khoảng 500 mét, để đem 2 anh Bé và Thịnh ra xử án TỬ H̀NH.
Ngày xử án, Ban chỉ huy Trại buộc mỗi Láng phải chỉ định một số người ra tham dự, để chứng kiến tận mắt phiên xử. Ngoài ra, Ban chỉ huy Trại c̣n mắc nhiều loa lớn, truyền âm thanh ra ngoài pḥng xử, cho tất cả những Tù khác không bị cử đi tham dự tại nơi xử án, cũng có thể nghe và theo dơi được những diễn tiến trong Hội trường nơi xẩy ra phiên xử.
Nhưng, Trời đă không chiều theo ư muốn của bọn Quỷ Đỏ. Suốt buổi sáng, ṿm trời Suối Máu trong vắt, le lói ánh nắng vàng. Bỗng dưng một dải mây thành dài đen kịt, hiện ra nơi phía Đông Bắc. Gió nổi từng cơn liên tục, đưa mây tràn phủ lần lần sang hướng Tây Nam. Do đó những âm thanh, khuếch đại qua loa phóng thanh, bị cuốn đi theo chiều gió ra ngoài đồng trống. Anh em trong trại nghe câu được câu chăng, nên không theo dơi được trọn vẹn những diễn tiến của phiên xử án.
Những đoạn lơm bơm nghe được, toàn là lời buộc tội của Công tố viên và Quan toà. Không ai nghe thấy tiếng các bị cáo hay luật sư bào chữa phản bác lại. Thời gian phiên xử cũng không lâu lắm, khoảng chừng một tiếng đồng hồ. Sau cùng, những tràng súng oan nghiệt nổ vang dội khắp vùng Suối Máu, đă báo tin kết thúc phiên xử. Ôi! Thật là tang thương ai oán biết chừng nào.
Những người tham dự về cho biết. Ngay sau khi Chánh án tuyên bố án phạt tử h́nh. Các quân canh đứng sát ngay bên 2 anh, lập tức nhét liền một cục giẻ lớn vào mồm không cho các anh ấy kịp nói. Rồi họ dùng vải bịt mắt, xốc nách dẫn ngay ra băi đất trống gần đó, trói vào 2 cọc gỗ đă đóng sẵn, nổ súng liên thanh giết liền.
Có một hiện tượng đặc biệt đă xẩy ra, không một ai bị giam tại Suối Máu vào lúc ấy có thể quên được. Trời đang trong sáng với ánh nắng vàng le lói, nhưng đúng lúc sắp tuyên án, gió lộng ào ào liên tục mạnh hơn, kéo mây phủ kín cả bầu Trời. Cảnh vật Suối Máu tối xầm hẳn xuống.
Đúng vào lúc mọi người rợn ḿnh nghe tiếng những tràng đạn nổ, cướp đi đời sống của 2 Dũng sĩ Việt Nam Cộng Hoà, th́ Trời cũng đổ ào xuống một cơn mưa mau nặng hạt.
Mưa gơ rào rào trên các mái tôn, như muốn khoả lấp không cho anh em Tù, đang nh́n nhau nghẹn ngào rưng rưng lệ, phải nghe tiếng vang oan nghiệt của những tràng đạn, do bọn Qủy Đỏ đang reo họa trên mảnh đất miền Nam thân yêu, của ḍng giống Tiên Rồng Lạc Việt.


Mái tôn mưa gơ rào rào,
Lu
n chân vách hng, th́ thào gió ru.
À
ơi ! Thương kiếp sng tù,
M
t ngày trong khám, thiên thu ngoài đi.
B
c, Nam, chung mt ging ṇi,
U mê theo qu
vô loài dit nhau.
Chung quy ch
M Vit đau,
Quê h
ương ngút la, máu đào tràn sông.
Thây dân vô t
i đy đng,
Tha h
Vit cng dâng công tế Thy*. (*Liên sô)
Non sông g
m vóc t đây,
Thành nhà tù l
n, vũng ly kh đau.
Coong! Coong! c
ng đim canh thâu,
Đùng đùng đ
n n, hay đâu chuyn ǵ?
R
ng rng b đi ba đi,
Ào vô x
c xo, súng gh́, đèn soi.
Bàng hoàng l
ưng vă m hôi,
Ng
rng Thn Chết đến nơi gi hn.
L
Tri, tuôn lúc mau hơn,
Rào rào gió th
i tng cơn lnh lùng.
B́nh minh r
n rp tin hung :
“Đêm qua có k
mánh mung vượt rào.
Thiên la Đ
a vơng vây bao,
L
ưới Công an đc, thoát sao khi ṿng?”
Bi
ết rng đường lm gai chông,
C
p tù : Thnh, Bé, vn không ngi ngùng.
Quy
ết tâm thoát cnh ngc trung,
Tung hoành cho tho
chí hùng thu nao.
Ph
c thay gan d anh hào,
Coi đ
i như gic chiêm bao vn dài.
Nh
p tù tiếp tc trôi xuôi,
B
ng dưng thy Cán dn đôi tù v.
Mây chi
u m đm lê thê,
M
ch tim qun tht, tái tê cơi ḷng.
Oan khiên, ch
ng thoát t vong,
Q
y đang đi dp thi công hi người.
Th
oai cho c trong ngoài,
Th
y quyn sinh sát, gương soi t tường.
L
p Toà tuyên x “khn trương”,
Tha h
ác tc ôn vương đóng tṛ.
T
h́nh án tr đy kho,
M
c t́nh x dng chng lo thiếu phn.
Nhân danh đ
i din nhân dân,
Di
t tr giai cp đâu cn đn đo.
Theo g
ương Trung Cng, Liên Xô,
Không theo ch
nghĩa Tam Vô là thù.
Không theo Cách m
ng mùa Thu,
Thành ph
n đi lp kh tr thng tay.
Yêu tinh hi
n gia ban ngày,
H
i người yêu nước, Tri hay chăng Tri ?
Rào rào gió gi
c mưa rơi,
Th
m ḷng đt Vit, máu người Vit Nam.


Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà, Tháng 4-1976.

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến trước 30-4-1975,

Cựu tù nhân chính trị 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cảo tạo của Đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà xă hội chủ nghiă Việt Nam trên cả 3 miền đất nước sau 30-4-1975.

 

 

 

Lư Tống tuyên bố tuyệt thực và tuyệt ẩm trong tù cho đến chết

 

Anh Trương Quốc Việt [đă minh xác, Anh  không phải là một luật sư mà là cử nhân luật tốt nghiệp trong chế độ CsVN] phát biểu trong ngày Biểu T́nh Quốc Hận tại toà đại sứ VC ở Canberra

 


 

 

Nói với đầu gối- Ba đặc tính nêu trên dẫn đến kết luận rằng: nói chuyện lư luận chính trị với Hà Nội chẳng khác nào nói chuyện với đầu gối-Đỗ Thái Nhiên

 

MẠN ĐÀM VỚI NHÀ VĂN

NGUYỄN NGỌC NGẠN tại PARIS

Phần 1:

 

Phần 2:

 

 

Bích chương quảng