báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

     Ư Nga  -  thơ                                                                                                                                                                            

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh chtrách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta va xem bài, va nghe nhc và xem videos trên youtube!!!!

&&&

 
Nhạc phẩm "Trả Lại Cho Dân"

Huỳnh Quốc Huy: THỜI CƠ THAY ĐỔI VẬN MỆNH QUỐC GIA - DÂN TỘC

https://youtu.be/4wTJwVyebEk

***


 

THƠ CỎ

Dù nắng, dù mưa em vẫn ưa
Cỏ cây hoa lá sống theo mùa
Tứ thời, bát tiết thơ rộn ră
Niềm vui thanh nhă chẳng cần mua.

Ư Nga, 2-2-2011 

ảnh:  sưu tầm

ANH EM ĐÁNH NHAU

Anh rút súng, đắn đo không nỡ bắn
Chị bóp c̣ Sân Hận chẳng ṿng vo
Giữa dằng co, đạn nổ, em lếch ḅ
Máu em đổ, đâu tự nhiên mà có!

Ư Nga*28.3.2017

 

HỀ!

Phường hề chẳng được việc chi
Chỉ hay mỗi chuyện khinh khi người nghèo
Nịnh trên, đạp dưới để trèo
Ở đâu có kiệu là leo lên ngồi

Ư Nga*28.3.2017

 

PHƯỚC BÁO 

TIÊU TRỪ QUẢ BÁO

Điểm nào là điểm khởi đầu?
Điểm nào điểm cuối? Về đâu hết đường?
Khi mà tất cả vô thường
Khi mà họa, phúc khôn lường rủi may?

Ư Nga, 5-11-2013.

Sách đă xuất bản

CÔ ĐƠN

Bá Nha mới hiểu Tử Kỳ!
T́nh bạn họ đẹp cách chi
Thời nay tri âm, tri kỷ
Chắt chiu rồi cũng vết tỳ!

Nhớ Bạn mà ḷng quặn đau
Từ ngày hai đứa chào nhau
Trùng dương Bạn Thương gửi xác
Đất người, ta ôm nghẹn ngào.

Bạn chết, có hết thật rồi?
Ta c̣n, mà hồn lẻ loi
T́m đâu tâm đồng chính khí?
T́m ai được như Bạn tôi?

Bạn ơi! Nhớ Bạn quá trời!
Bây giờ Bạn vẫn trùng khơi?
Xác thân chín ch́m, mấy nổi?
C̣n nhớ những ngày sóng đôi?

Bạn như phiến đá nam châm,
Hai đứa luôn đồng một tâm,
Đêm nay ta nghe lạ lẫm
Chẳng lẽ xuống biển tự trầm?

Đêm khuya Bạn có buồn không?
Thắp hương cho Bạn ấm ḷng,
Mà ta lạnh cơn thương nhớ,
Ôm buồn thả vào mênh mông.

Ngoài sân tuyết rơi u hoài
Trong này lệ người bi ai
Nhớ ơi! Ôi là nỗi nhớ
Hương tàn, buồn chẳng nguôi ngoai.

Ư Nga, 16-2-2011.

Tranh sơn mài: 

THÀNH LỄ (Hoàng Đ́nh Tuyên, Paris)

SÁCH QUƯ

Cuốn sách quư, thơm lừng mùi giấy cũ
Trải tâm tư tác giả tựa hương hoa
Truyền nỗi niềm rung cảm rất sâu xa
Từng ḍng chữ mượt mà bao mỹ ư.

Những tinh túy từng lao tâm, khổ trí
Tôi mân mê, nghe gần gũi lạ kỳ
Tưởng như ai đang dẫn dắt ḿnh đi
Theo những áng văn chương người, tuyệt tác!

Ư Nga, 3-2-2011

Sách đă xuất bản

VUI NHẤT LÀ TRẺ CON

Trẻ con nắc nẻ giọng cười
Hồn nhiên, vui vẻ, kho trời thưởng ban
Đêm về bé ngủ thật ngoan
Có đâu như mẹ: lo toan bạc đầu!

Ư Nga, 18-11-2013.

Sách đă xuất bản

ƯỚC NGUYỆN

Thơ Ư Nga, 

nhạc: Nhóm Dân Chủ Ca, 

tŕnh bày: Ca, Nhạc Sĩ Nguyễn văn Thành

 Kính mời Quư Vị vào ‘’links’’ sau đây để nghe nhạc:

http://www.danchuca.org/128kbps/UocNguyen.mp3 (hi-speed)

http://www.danchuca.org/22Kbps/UocNguyen.mp3 (lo-speed)

http://www.danchuca.org

 

NẾT XẤU

*

Gửi S.

*

Bạn sơ giao, xin giữ ǵn,

Đừng nham nhở! Thiên hạ nh́n, khinh khi!

Luông tuồng, tư cách ra chi?

Làm sao thiên hạ nể v́ mới oai!

 

“Nhà có ngạch, vách có tai”*

Mến nhau? Sánh trí, sánh tài làm gương!

Mai sau con cháu c̣n thương:

Người đi tỵ nạn giữ Hương thơm hoài.

 

Ư Nga, 21-2-2011.

*Tục ngữ

Sách đă xuất bản

NỘI LỰC

Cơn nắng chiều đă dịu
Ai cũng bớt hét rồi
Chỉ c̣n một ḿnh tôi
Niệm câu kinh màu nhiệm

Ư Nga, 2-6-2009.

 

AN ỦI

-Hôn em, trời đă vào khuya
-Hôn anh, cho thỏa đau kia, xót này

*

Nhớ Ba, con khóc cả ngày
Thương Ba lại niệm cho đầy trang kinh
Khóc Ba, có phải thiếu t́nh?
Hôn anh, có được an b́nh nỗi đau?

Nụ buồn, môi lệ dỗ nhau
Vai rung nức nở, ngọt ngào anh xoa
Cũng may anh chẳng lơ là
Cũng may anh vẫn mặn mà xẻ chia: 

-Đại Tang anh đă từng qua
Hương, đèn, hoa, quả… xót xa từng bày

*

Trên cao, hồn Ba đêm nay
Nh́n con, Ba có nhíu mày quở: HƯ!

Ư Nga**tháng 12.2010

Thân chuyển các Bạn Trẻ Quốc Nội

(DânChủCa) Hăy Viết Đi - Nguyễn Văn Thành

Thưa Quư Vị và Các bạn,

Đă bao lần ta đọc được những bài thẩm định về cuộc chiến Việt Nam, viết bởi những tác giả ngoại quốc, như tác giả người Đức Uwe Siemon-Netto dưới đây?

Có lần nào ta tự hỏi rằng: nếu một người sống ngoài Việt Nam, khách quan và không hề có nợ máu xương trong cuộc chiến này, mà c̣n viết được những nhận xét chính xác, mà sau hơn 40 năm th́ ai cũng thấy, thế mà tại sao nhiều người trong chúng ta, những người đă mất mát rất nhiều, lại không thể viết được như thế?

Hăy Viết Đi Quư Vị! Hăy Viết Đi Các bạn!

HĂY VIẾT ĐI! Đây là những ngày tháng cơ hội cuối cùng để chúng ta lựa chọn: Một Việt Nam TỰ DO hay NÔ LỆ thuộc Hán!

DanChuCa.org kính mời Quư Vị và các Bạn vào “link sau đây để nghe bài hát:

Hăy Viết Đi

nhạc và lời của Nguyễn Văn Thành.

http://www.danchuca.org/128kbps/HayVietDi.mp3

 

Kính mời Quư Vị vào thăm trang nhà danchuca.org qua “link” sau đây:

http://www.danchuca.org

Hăy Viết Đi!

Nguyễn Văn Thành

1.

Hăy viết đi em, hăy viết đi chị,
Hăy viết đi anh viết những ǵ xứng đáng
Hăy viết những ǵ ta thấy ta tin
Hăy viết những ǵ sâu lắng trong tim.
Viết, viết, hăy viết với tấm ḷng son
Khi Đất Nước hôm nay bên vực thẳm sống c̣n.
Viết, viết, hăy viết với tất cả niềm tin:
rằng chính nghĩa hôm nay nhất định của dân ḿnh.

Mặc ai kia khoanh tay chán ngán
Mặc ai kia ngô nghê phỉ báng
mặc ai kia u mê với Đảng
không biết đến nhân dân với sức mạnh muôn vàn.

Hăy viết đi em, hăy viết đi chị,
Hăy viết đi anh viết những lời gói ghém
đừng nghĩ những lời ta viết hôm nay
chẵng giúp ích ǵ cho đất nước tương lai.
Viết, viết, hăy viết viết những lời ngay
Lay thức những ai đang mê ngủ giấc ngày
Viết, viết, hăy viết nhắc nhớ ḷng dân
Hăy sẵn chắc đôi tay khi thế cuộc xoay vần.

2.

Viết, viết, hăy viết sắc bén từng câu
Như giáo như gươm sẽ chém giặc bay đầu.
Viết, viết, hăy viết trí dũng người Nam
Dù có lúc gian nan không khuất phục dễ dàng.

Đừng hoang mang với phường đón gió
Đừng âu lo với những tṛ côn đồ
Càng gian manh càng thêm thấy rơ:
c̣n Đảng cướp bao lâu th́ khốn nạn vẫn lắm tṛ.

Hăy viết đi em, hăy viết đi chị,
Hăy viết đi anh viết những lời tỉnh táo
Hảy viết những lời thấy trước nguy cơ
Giặc đang trong ngoài che giấu mưu mô.
Viết, viết, hăy viết tức núi hờn sông
Khua tiếng trống linh thiêng thúc dục: Diên Hồng
Viết, viết, hăy viết hối thúc ḷng dân
Hăy đứng lên mau: Tổ Quốc đang cần!

Viết, viết, hăy viết đến lúc rồi đây!
Hăy đứng lên đi lấy lại Đất Nước này!
Viết, viết, viết . . . .hăy viết đi . . . .

 Ca Khúc Nguyễn Văn Thành Dân Chủ Ca Phổ Thơ Ca Khúc Thân Hữu T́nh Yêu và Thân Phận Nhạc Phim Trang Lưu Trữ Cảm Tạ Ư Kiến

Kính
DanChuCa.org

 

MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM


Cuốn sách Đức: "A reporter's love for a wounded people" của tác giả Uwe Siemon-Netto đă được viết xong và đang chờ một số người viết "foreword" và endorsements.

Bản dịch cũng đă xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đă nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:

Đoạn kết:

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng

Hơn 40 năm đă trôi qua kể từ khi tôi giă biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng."

Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lư khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không c̣n đáng đi vào kịch trường của sự phi lư nữa. Nó đă được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.

Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.

Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những băi ḿn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đă hoạt động trở lại và các băi ḿn đă được tháo gỡ. Nhưng đến đây th́ sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.

Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đă lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu t́nh và phản kháng ôn ḥa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lănh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác v́ sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xă hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến tŕnh này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.

Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đă diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng." Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái ǵ và cho ai?

Có phải miền Nam đă được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?

Một cái thứ giải phóng ǵ đă làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đă buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?

Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài G̣n thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn tŕnh diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đă bị tổn thương sọ năo lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đă chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Vơ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định th́ "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh của nhân dân."

Thực tế không phải như vậy. Đă có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đă bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đă bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Đài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đă ngă xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.

Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong ṿng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đă bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đă di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm t́nh viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đă khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đă hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lănh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự ǵ đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, ḷng tôi đă từng và vẫn c̣n đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Ḷng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính t́nh rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ v́ muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, c̣n hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng c̣n lại, ḷng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi ḷ sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không c̣n một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đă chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn c̣n phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài G̣n thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đă chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, ḷng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước ǵ có dịp tỏ ḷng kính trọng năm vị tướng lănh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đă có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Khi tôi viết đoạn kết này, một kư giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài G̣n bị thất thủ, đă tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đă có mặt trong phiên ṭa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài G̣n đă làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận v́ không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Sưllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc ḥa tấu?

Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác th́ bị giam cầm tại Hà Nội?

Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đă được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại v́ đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường ṃn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.

Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong ḷng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gă sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó ḷng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).

Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và tṛ chuyện với họ th́ mới khám phá ra cái cốt lơi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn c̣n quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ư kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền h́nh New York hay các trường đại học Ivy League th́ không bao giờ đủ cả.

Trong một cuốn sách gây chú ư về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đă kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Vơ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đă xẩy ra như sau:

Giáp: "Tôi đă đánh bại ông, thưa Đại tá!"

Charton: "Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đă đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đă nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố."

Vơ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lư để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đă trở thành trụ cột trong chiến lược của Vơ Nguyên Giáp. Hắn đă đúng và hắn đă thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ư đến điểm này.

Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn c̣n bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:

khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đă mệt mỏi về ḷng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đă chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó c̣n thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đă được đưa ra mặt trận.

Điều này đă xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đă ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ v́ cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xă hội tự do.

Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.

Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng t́m ra phương cách ôn ḥa và các lănh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.

Trong ư nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi c̣n lại ǵ nữa ngoài niềm hy vọng?

(Fwd: Hy-Van Nguyen , 2017-02-14 11:14 GMT+11:00)

Ư Nga (thơ)